Saturday, February 22, 2020

CUỘC CHIẾN VÔ HÌNH TƯỚNG MỸ ROBERTSPALDING VIẾT VỀ TRUNG QUỐC..

CARL TRẦN

"…Trung Quốc là cả một trò lừa đảo kiểu Ponzi. Câu hỏi duy nhất chúng ta đặt ra với Trung Quốc, câu hỏi quan trọng duy nhất, là khi nền kinh tế của họ nổ tung... nó sẽ kéo theo mọi người xuống đến mức tồi tệ nào?…"
                                                                                 
Lời người dịch: Robert Spalding là cựu chuẩn tướng Không Lực Hoa Kỳ. Trong hơn 25 năm phục vụ trong quân ngũ, ông từng giữ vai trò chiến lược gia cho chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân và Hội đồng Liên quân tại Ngũ Giác Đài. Có bằng tiến sĩ về kinh tế và toán học tại Đại học Missouri và nói thông thạo tiếng Quan thoại, ông từng sang Trung Quốc làm việc với tư cách giới chức quốc phòng cao cấp và tùy viên quốc phòng.

Spalding tự nhận mình là một người luôn yêu mến đất nước, con người và văn hóa Trung Hoa. Ông từng có giấc mơ khi về hưu sẽ dọn sang Thượng Hải làm ăn và sinh sống. Trong công việc quốc phòng của mình, ông đã đọc cuốn sách Unrestricted Warfare (Chiến Tranh Không Giới Hạn) của hai đại tá Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc là Kiều Lương và Vương Tương Tuệ. Từ đó, ông thay đổi cách nhìn về Trung Quốc, đặc biệt là về những chủ trương và chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông lao vào thu thập và nghiên cứu mọi tài liệu có thể có được về những bước đi của Bắc Kinh trên nhiều lĩnh vực. Trước khi bị sa thải khỏi nhóm chuyên gia làm việc cho Hội đồng An ninh Quốc gia, Spalding đã trình lên chính phủ Obama nhiều đề nghị thay đổi chính sách đối ngoại với Trung Quốc, nhưng không mấy thành công.

Cuốn sách của cựu Chuẩn Tướng Robert Spalding, Stealth War: How China Took Over While America's Elite Slept (tạm dịch, Cuộc chiến vô hình: Trung Quốc tác oai trong khi giới ưu tú Mỹ say ngủ), được ông nhắm đến quảng đại quần chúng như một lời báo động đối với những hiểm họa mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đặt ra cho sự tồn vong của nước Mỹ và những giá trị dân chủ trên toàn thế giới. Sách được nhà Penguin Random House xuất bản tháng 9, 2019.

Cuốn sách đề cập đến những chiến lược của Trung Quốc và những sơ hở hoặc sai lầm của Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực, từ chính trị và ngoại giao, kinh tế và quân sự, đến tương lai kỹ thuật số. Bài dịch này bao gồm một số phần của Chương 3 mang tựa đề "Economy" ("Kinh tế"). [Chú giải của người dịch nằm trong ngoặc vuông.]

"Trung Quốc là cả một trò lừa đảo kiểu Ponzi"

Một trong những điều khó hiểu về sự trỗi dậy của Trung Quốc là làm cách nào nước này đạt được sự tăng trưởng gây choáng vào bậc nhất trong lịch sử thế giới. Chưa từng có một cuộc xoay chuyển nào tương tự trong lịch sử hiện đại. Làm cách nào họ có thể đưa nhiều người đến thế thoát khỏi cảnh nghèo nhanh như thế?

Đây là một câu chuyện dài và phức tạp - và cũng là một trong những tình tiết phụ của cuốn sách này - nhưng xin tóm lược bằng một câu từ góc nhìn kinh tế: họ đã làm điều đó bằng cách phát hành và thủ đắc những khoản tín dụng khổng lồ, bằng cách tạo ra hàng tỷ Mỹ kim đầu tư nước ngoài không thể thu hồi, và bằng cách tạo ra một hệ thống kinh tế khép kín với tường rào bao bọc không thể thâm nhập đối với mọi cuộc kiểm toán từ bên ngoài trong khi họ lột da giới đầu tư nước ngoài.

"Trung Quốc là một con hổ giấy," Steve Bannon nói khi thảo luận về sự tăng trưởng kinh tế của nước này. Cựu phó chủ tịch Goldman Sachs sau đó nói với tôi: "Trung Quốc là cả một trò lừa đảo kiểu Ponzi. Câu hỏi duy nhất chúng ta đặt ra với Trung Quốc, câu hỏi quan trọng duy nhất: là khi nền kinh tế của họ nổ tung... nó sẽ kéo theo mọi người xuống đến mức tồi tệ nào?"

Bannon có lý. Hãy tưởng tượng nếu vua Ponzi, Bernie Madoff, người đã lừa các nhà đầu tư hàng tỷ đô la trong suốt nhiều năm, có thể nói với những người bị hắn lừa - năm này qua năm khác - rằng: "Không, bạn không thể rút tiền ra cho đến khi nào tôi cho phép. Và, không, bạn chỉ có thể xem bản báo cáo tài chính mà tôi muốn bạn xem." Sau đó hãy tưởng tượng gã Bernie trơ tráo có thể, cũng năm này qua năm khác, nói với Bộ Tư pháp, Hội đồng Chứng khoán và Hối đoái SEC, và Tổng cục Thuế vụ IRS rằng: "Không, quý vị không được xem sổ sách của tôi. Quý vị phải tin vào công việc hạch toán của tôi."

Nếu tình trạng đó tồn tại ở Hoa Kỳ, Madoff có thể vẫn đang không ngừng lột da những người bị hắn lừa, tạo ra những khoản "lợi nhuận" từ không khí bằng cách thu hút tiền mặt của khách hàng mới, cắt xét một phần cho mình, rồi trả dần dần cho các khách hàng trước đó.

Tình trạng đó mô tả một cách căn bản các quy luật mà Trung Quốc đã sử dụng để nạp năng lượng cho sự tăng trưởng bùng nổ của mình, trong khi điều hành một kế hoạch lừa đảo kiểu Ponzi trên quy mô toàn cầu. Đầu tư nước ngoài đổ vào, nhưng ở lại Trung Quốc. Một số đầu tư được giữ nguyên bằng đô la để Trung Quốc có thể tiếp tục giao thương với quốc tế, nhưng lợi nhuận phải đổi thành loại tiền không thể hoán đổi và đặt dưới những biện pháp kiểm soát vốn nghiêm ngặt.

Các công ty Trung Quốc, đa phần được Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bao cấp hoặc được những tay mối lái quyền lực của ĐCSTQ sử dụng làm con heo đất của mình, không tuân theo cách làm kế toán thông thường. Do đó, giới phân tích không có cách nào đánh giá chính xác sức khỏe tài chính của các công ty Trung Quốc, đó là chưa kể có thêm một khoảng đệm là Ngân hàng Trung Quốc thuộc sở hữu chính phủ bơm tiền vào bất cứ công ty nào mà họ cho là quan trọng về mặt chiến lược. Và, như chúng tôi sẽ tường thuật trong phần về công nghệ, vì ĐCSTQ có thể lấy tài sản của một công ty trao cho một công ty khác trong chớp mắt, ý tưởng về sổ sách được kiểm chứng không gì khác hơn một cơn hoang tưởng.

Với hiện trạng như thế, việc phương Tây nháo nhào đầu tư vào thị trường Trung Quốc nói một cách lạc quan nhất là liều lĩnh và bi quan nhất là điên rồ. Vậy tại sao nó đang xảy ra? Rõ ràng, Phố Wall say sưa với lợi nhuận thu được từ phí giao dịch nên không còn quan tâm đến chuyện khác. Và các nhà quản trị quỹ hưu trí quá mê mệt với kiểu đầu tư tư duy nhóm - ý tưởng cho rằng nếu mọi người đều làm điều đó, thì chúng tôi cũng sẽ làm theo. Họ không đơn độc. Cái khôn - hay trong trường hợp này, cơn điên - của đám đông là một lực đẩy rất mạnh.

Để định hình "cái khôn" ấy, Trung Quốc mở một dạng thức chiến tranh truyền thông: những chiến dịch tuyên truyền và tạo ảnh hưởng. Trận đánh để ĐCSTQ chứng tỏ đầu tư nước ngoài là an toàn diễn ra trên nhiều mặt trận. Họ chiêu dụ giới đầu tư và báo chí, chào đón các phái đoàn thương mại, và tài trợ cho những hội nghị. Họ mua những tờ chèn quảng cáo mang dáng vẻ chính thức đặt vào những tờ báo uy tín, chẳng hạn như Washington Post.

China Global Television Network [Mạng lưới Truyền hình Toàn cầu Trung Quốc] từng gửi lời mời làm việc đến những nhà báo ở khắp nơi trên thế giới đã từng chỉ trích những việc làm của Trung Quốc, như phá rừng ở châu Phi, trong một nỗ lực nhằm kiểm soát cách họ đưa tin. Theo báo The Guardian, một phóng viên đã từ chối một lời mời lẽ ra đã làm tăng gấp đôi mức lương của anh.

Toàn bộ sự việc là một phần của chiến tranh không giới hạn. Một cuộc tấn công bằng sự quyến rũ và thông tin sai lạc đầy tính toán được thiết kế để xây dựng niềm tin và thúc đẩy đầu tư.

Và ta hãy chấm công cho ĐCSTQ và cơ quan tuyên truyền của họ: họ đang sáng chói trong công việc. Có thể nói họ đang hoàn thành một vụ lừa đảo lớn nhất thế giới. Vào tháng 11 năm 2018, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đọc diễn văn trước Thượng viện Tây Ban Nha, tiếp tục trò diễn kịch: "Trung Quốc sẽ nỗ lực mở, thêm nữa, những cánh cửa của mình ra thế giới bên ngoài, và chúng tôi sẽ nỗ lực đơn giản hóa việc tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực đầu tư và bảo vệ tài sản trí tuệ."

Ông không đưa ra một thời biểu nào, không có chi tiết nào về tăng cường tiếp cận đầu tư - kể cả liệu điều đó có liên quan đến việc nới lỏng các luật lệ về thoái vốn hay không - và con số không về cách thức mà Trung Quốc sẽ thực thi các biện pháp bảo vệ tài sản trí tuệ. Không gì ngoài: Hãy tin tôi.

Kế hoạch Ponzi của Trung Quốc thành công một phần nhờ sự đồng lõa và im lặng ở phương Tây của các công ty. Khi các công ty đầu tư nhiều vào Trung Quốc khám phá ra họ không thể rút được tiền ra khỏi nước này - và đang có đến hàng ngàn công ty như thế - họ có thể làm gì? Ngay từ khi họ bỏ tiền vào, họ đã thấy mình đứng giữa vách núi và vực sâu.

Số tiền đó bị mắc kẹt. Đây là một điệp khúc thường hằng mà các lãnh đạo công ty rỉ tai nhau ở nơi kín cổng cao tường. Theo những chuyên gia tài chính uy tín, các công ty như Chevron, Exxon, Sony và BMW có thu nhập hàng tỷ đô la ở Trung Quốc. Nhưng họ không thể hồi hương tiền của mình. Trung Quốc từ chối cho tiền ra khỏi nước, vì họ cần những đồng đô la đó. Nhiều nguồn tin từ cộng đồng đầu tư nói với tôi rằng, theo như họ biết, Trung Quốc đã không cho phép hồi hương số lượng đáng kể từ bất cứ quỹ đầu tư phương Tây nào kể từ năm 2015.

"Nếu họ muốn phát triển nền kinh tế, họ phải tăng dự trữ, vì họ phải giao dịch nhiều hơn với phần còn lại của thế giới dựa trên sự tăng trưởng đó," Kyle Bass, nhà sáng lập Hayman Capital Management, nói với tôi vào tháng 1 năm 2019. "Vì thế, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục sự che đậy này chừng nào họ duy trì được con số dương trong tài khoản vãng lai, tức là tiền vào ròng nhiều hơn tiền ra. Trong 17 năm qua, Trung Quốc đã tạo ra số dư tài khoản vãng lai đáng kể. Bây giờ, lần đầu tiên kể từ năm 2001, họ sẽ ghi lại một tài khoản vãng lai âm cho năm 2018."

Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) đã công bố các con số của năm 2018 cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP chậm nhất trong 28 năm, ở mức 6,6%. Do sự thiếu minh bạch của cơ quan này trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Trung Quốc, nhiều nhà phân tích tài chính nghi ngờ rằng các con số này dựa trên những sổ sách đã bị luộc.

Như Bass ghi nhận trong một bài xã luận đăng vài tuần sau khi số liệu của NBS được công bố, "12 tháng qua đã chứng kiến những chỉ số kinh tế quan trọng của Trung Quốc như sản xuất công nghiệp, doanh thu xe hơi, doanh thu bán lẻ và đầu tư đều giảm xuống mức thấp trong nhiều năm trong khi đợt kích thích trước đó giảm dần tác dụng và gánh nặng nợ của Trung Quốc tiếp tục tạo ra một vòng xoáy kinh tế đi xuống."

Dù nhanh hay chậm, số dư tài khoản âm hoặc giảm dần - kết quả của thương mại và đầu tư chậm lại - gợi ý sẽ có hai mâu thuẫn căn bản xảy ra trong ngắn hạn: Thứ nhất, Trung Quốc sẽ cố tạo thêm đầu tư nước ngoài để duy trì tăng trưởng. Thứ hai, Trung Quốc sẽ không nhả ra bất cứ khoản lợi nhuận nào trên các khoản đầu tư nước ngoài - bất chấp đó chính là mục đích của việc đầu tư - vì họ cần đến từng xu Mỹ mà họ có thể tích cóp được để trả cho sự tăng trưởng.

Nếu nó trông giống như một kế hoạch Ponzi và hoạt động như một kế hoạch Ponzi nhưng phủ nhận nó là một kế hoạch Ponzi, thì nó là gì?

Trung Quốc..

Và những người đầu tư vào nó?

Họ hoặc là đồng lõa hoặc là nạn nhân. Dĩ nhiên, những kẻ lừa đảo - những kẻ đồng lõa - dùng thuật ngữ khác cho các nạn nhân. Họ gọi các nạn nhân là các đích nhắm.

Hay những tên ngốc.

***

THÊM MỘT SỰ KHÁC BIỆT CHÓNG MẶT giữa thị trường tài chính Trung Quốc và các thị trường phương Tây - một lần nữa nhấn mạnh sự thiếu vắng thương mại tự do tồn tại ở Bắc Kinh và bản chất Ponzi đầy thủ đoạn của con quái vật - liên quan đến thói quen áp dụng luật lệ chọn lọc của Trung Quốc. Ở Hoa Kỳ, nếu IBM phát hành trái phiếu trên thị trường vốn, số tiền đó thuộc về IBM, và các nhà đầu tư nên tin tưởng khá chắc chắn rằng số tiền huy động sẽ được dùng để cải tiến công ty. Dù sao, đã có một ban giám đốc và một tổng giám đốc với những trách nhiệm ủy thác để bảo đảm công ty đạt được những mục tiêu của mình. Ở Trung Quốc, khoản vốn mới sẽ hướng đến nơi nào mà ĐCSTQ muốn nó đến - lần nữa, một điều mà chúng tôi sẽ xem xét chi tiết hơn khi đi sâu vào những ám ảnh về công nghệ của Trung Quốc.

Nuôi béo kế hoạch Ponzi của Trung Quốc bằng đầu tư của Mỹ cũng tạo ra thứ rủi ro ba cạnh. Ngành công nghiệp tài chính không chỉ tài trợ cho sự tăng trưởng của đối thủ toàn trị số một của Hoa Kỳ và có nguy cơ đánh mất những khoản tiền đó bằng cách biến chúng thành vốn không thể hoán đổi; mà nó còn đang làm cạn kiệt nguồn đô la đầu tư giá trị ở Hoa Kỳ và các thị trường khác. Nếu quỹ hưu trí của bạn có ngân khoản đô la bị mắc kẹt ở Trung Quốc mà không thể chạm đến, thì các quỹ đó không thể được tái đầu tư để tái thiết cơ sở hạ tầng đổ nát của nước Mỹ, tài trợ cho các công ty khởi nghiệp tiên phong, hoặc hỗ trợ những ngành sản xuất vừa được tái khởi động.. Lợi nhuận của Phố Wall có thể tăng trưởng - tạm thời - nhưng nước Mỹ gặp trì trệ.

Là nhà sáng lập một quỹ đối trọng tập trung vào đầu tư toàn cầu dựa trên các sự kiện, Kyle Bass dành nhiều thời gian để nghiên cứu bảng cân đối kế toán của Trung Quốc. Ông xác nhận sự đánh giá của Bannon về sự bất ổn của Trung Quốc.

Trong buổi nói chuyện của chúng tôi hồi đầu tháng 1 năm 2019, Bass giải mã các con số của Trung Quốc và mô tả một hệ thống kinh tế khép kín tận dụng đòn bẩy vốn quá mức một cách nguy hiểm theo những cách thức khiến cho Hoa Kỳ trông như là một pháo đài của chính sách tài khóa chặt chẽ, có trách nhiệm.

Kỳ lạ thay, theo Bass, chiến lược tín dụng của Trung Quốc đi ngược lại hoàn toàn với cách lập chiến lược dài hạn điển hình của ĐCSTQ. Nhưng có lẽ điều này có ý nghĩa khi ta xét rằng nước này cần tiền mặt nhanh chóng để triển khai ráo riết các yếu tố của cuộc chơi dài hạn của họ.

"Cách mà họ đạt được sự ổn định tương đối trên sân nhà là, họ đã mở rộng bảng cân đối của ngân hàng trung ương và in thêm nhiều nhân dân tệ hơn bất cứ quốc gia nào từng in tiền trong lịch sử loài người," Bass nói..

Khi Bass so sánh thực trạng tài khóa đã làm sụp đổ thị trường Hoa Kỳ năm 2008 với tình trạng hiện thời của nền tài chính Trung Quốc, ông rùng mình.

"Ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính," ông nói, "Hoa Kỳ có GDP khoảng 17 nghìn tỷ đô la và khoảng 1,3 lần GDP trong tài sản ngân hàng. Và chúng ta có khoảng một nghìn tỷ vốn cổ phần ngân hàng. Khi bạn nhìn vào Trung Quốc ngày nay, họ có một hệ thống ngân hàng với số nhân dân tệ trị giá 50 nghìn tỷ đô la, 2 nghìn tỷ đô la vốn cổ phần ngân hàng, và nền kinh tế (GDP) là 13 nghìn tỷ đô la."

Bass đưa ra các con số của mình dựa trên dữ liệu từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, ngân hàng trung ương quốc gia và các cơ quan khác, và ông cũng bao gồm những tài sản như sản phẩm quản trị tài sản, quyền của người thừa kế và những khoản vay tín thác. Ông ước tính tổng tín dụng của Trung Quốc là 48 nghìn tỷ đô la, gần gấp bốn lần tổng sản lượng quốc nội. Để so sánh, Hoa Kỳ nắm giữ khoảng 24 nghìn tỷ đô la tín dụng vào năm 2019, nhưng nền kinh tế nước này lớn hơn Trung Quốc 37%.

Nói cách khác, Trung Quốc có số tiền lưu thông nhiều gấp ba lần Hoa Kỳ, trong khi tạo ra GDP ít hơn 4 nghìn tỷ đô la. Ngay cả khi có gấp đôi số vốn cổ phần ngân hàng của Hoa Kỳ - nhờ kết quả thu nhập dương từ năm 2001 đến 2015 – các con số đó vẫn đáng sợ. Lý thuyết kinh tế và các quy luật cung cầu cho rằng việc in những khối lượng tiền khổng lồ sẽ tự động dẫn đến lạm phát đáng kể. Nhưng cho đến nay, Trung Quốc vẫn tránh hạ giá nội tệ bằng cách từ chối tham gia thị trường ngoại hối.

Họ cũng kiểm soát truyền thông, bảo đảm không có tin tức gì về tình trạng thiếu hụt hoặc lạm phát hoặc bong bóng nhà ở. Và họ kiểm soát điểm tín nhiệm xã hội - một hệ thống mới được thiết đặt để theo dõi hành vi của công dân bằng cách sử dụng công nghệ nhận dạng khuôn mặt và giám sát dữ liệu để theo dõi xem từng cá nhân có tuân theo những luật lệ do ĐCSTQ đề ra hay không. Hệ thống mới này tồn tại như một cách kiểm soát và tưởng thưởng dân chúng. Và như thế, hệ thống kinh tế khép kín của đất nước và sự đàn áp toàn trị cùng nhau hoạt động để ngăn chặn lạm phát và củng cố sự ổn định một cách giả tạo.

Địa ốc ảo.

Một ví dụ ý nghĩa về sự thao túng thị trường của Trung Quốc là cách họ đối phó với một thị trường bất động sản mà nhiều chuyên gia tin là phải đang sụp đổ. Toàn bộ những thành phố ma đã được dựng lên, chứa đầy những tòa chúng cư cao tầng không có lấy một bóng người. Theo nhiều ước tính, sự thặng dư xây dựng này đã tạo ra hơn 64 triệu căn hộ trống. Thông thường, khi có một sự thặng dư bất động sản, giá cả liền sụt giảm. Thế thì Trung Quốc làm cách nào đảo lộn được quy luật cung cầu? "Chỉ cần ngăn chặn việc bán nhà," Bass giải thích. Ông lưu ý rằng một căn hộ được mua với giá 100.000 nhân dân tệ vẫn nằm trên bảng cân đối kế toán ở mức giá đó - ngay cả khi những lời chào mua duy nhất chỉ đưa ra cái giá bằng một nửa.

Thị trường thế chấp cũng dễ nhào nặn trong tay ĐCSTQ. "Một trong những lý do lớn khiến bạn không nhìn thấy sự sụp đổ nhà ở ngay bây giờ là vì họ không thực sự có thuế bất động sản," Bass nói. Tại Hoa Kỳ, một nhà đầu tư gánh mười căn hộ bỏ trống sẽ phải trả thuế bất động sản cũng như phải trả mọi khoản tiền vay mua nhà. Nhưng ở Trung Quốc, các ngân hàng cho phép người trễ trả tiền vay chỉ cần cộng dồn vào tổng số tiền vay và xem như đó là tổng số mới. Trong những trường hợp này, nó trở thành một "khoản vay tiếp," Bass giải thích. "Vì vậy giả sử nếu bạn nợ 4.000 đô la trên khoản vay 100.000 đô la mà bạn không có tiền trả, ngân hàng sẽ chỉ biến khoản vay của bạn thành 104.000 đô la, và nói, 'Trả cho chúng tôi khi nào quý vị có thể.'"

Bass nói cách làm này đã truyền cảm hứng cho một câu nói trong khắp công ty của ông: "Một khoản vay tiếp chẳng tạo ra mất mát nào."

Kẻ cướp, hàng nhái và bệnh mù.

Câu chuyện về triệu phú tự thân A. J. Khubani là giấc mơ Mỹ bơm thuốc kích thích. Nhưng chương mới nhất trong câu chuyện của ông là cơn ác mộng điển hình mà nhiều nhà sản xuất Mỹ đã gặp phải trong suốt 30 năm qua. Thái độ coi thường luật pháp quốc tế trắng trợn của Trung Quốc hiện đang đe dọa doanh nghiệp mà ông đã xây dựng từ hai bàn tay trắng.

Cha mẹ Khubani di cư đến Hoa Kỳ từ Ấn Độ vào năm 1959. Đồng hóa là chính sách gia đình. "Gia đình tôi hết sức yêu chuộng văn hóa Mỹ, chúng tôi không được phép nói tiếng nước ngoài trong nhà," ông nói.

A.J. là một đứa trẻ cần cù. Lớn lên ở Lincoln Park, bang New Jersey, cậu tìm cách kiếm tiền bằng cách xúc tuyết, cắt cỏ và giao báo. Cậu làm việc trong suốt thời gian theo học tại trường đại học tiểu bang, như làm pizza và trông quầy rượu. Đến khi tốt nghiệp, cậu có 20.000 đô la tiền tiết kiệm. Cậu dành số tiền tiết kiệm của mình để nhập cảng hàng loạt đầu máy phát thanh AM/FM, lấy ra một tờ quảng cáo trên một tờ báo lá cải, và số phận của cậu thay đổi hoàn toàn kể từ đó.

Để tóm tắt câu chuyện, Khubani đã dồn 20.000 đô la của mình vào một công ty - TeleBrands - chuyên thiết kế, phát triển, và cấp phép khai thác thương mại cho các sản phẩm tiêu dùng độc đáo thường được bán dưới thương hiệu "As Seen on TV" [tạm dịch: "Như được thấy trên TV"]. Công ty này đã tạo ra doanh thu hơn 1 tỷ đô la hàng năm trong một số năm.

Khubani có một giác quan thứ sáu đối với những sản phẩm giải quyết vấn đề - cầu thang mini giúp thú cưng già và thừa cân đi lại trong nhà, kính lúp Big Vision, ăng ten truyền hình kỹ thuật số cho người không muốn thuê truyền hình cáp - và những vật gia dụng lý thú như Star Show, chiếu những ngôi sao bằng tia laser lên ngôi nhà của bạn trong những ngày lễ. Nhưng ông cũng biết cách tạo ra thị trường.

"Những sản phẩm của chúng tôi trở thành phổ biến rất nhanh chóng," Khubani nói, "nhờ hàng triệu đô la chúng tôi bỏ ra để quảng cáo. Chúng tôi tiếp thị chúng trong nhiều năm, chủ yếu qua truyền hình. Sau đó chúng tôi bắt đầu bán cho các chuỗi bán lẻ như Walmart, Target, Walgreens. Tất cả các nhà bán lẻ lớn trên toàn quốc."

Trong thập niên 1990, Khubani nhận ra công ty của mình đã trở thành một mục tiêu của bọn làm hàng giả Trung Quốc: "Đi vào một chợ trời, bạn sẽ tìm thấy hàng giả của các sản phẩm của chúng tôi. Mọi thứ đều y hệt, bao bì y hệt, thương hiệu y hệt."

Công ty của ông đã bỏ ra khá nhiều nỗ lực trong việc săn lùng và đóng cửa các nhà kho chứa đầy hàng giả. "Giống như một trò chơi đập chuột không bao giờ kết thúc, hễ bạn đập được một con thì có mười con khác bật lên."

Tuy nhiên, với sự phát triển của internet, vấn nạn hàng giả đã tăng lên theo cấp số nhân. "Năm 2015, chúng tôi bắt đầu nhận thấy hàng giả sản phẩm của chúng tôi xuất hiện trên Amazon dưới nhãn hiệu của chúng tôi, sản phẩm được cấp bằng sáng chế của chúng tôi, sử dụng ảnh của chúng tôi, sử dụng video của chúng tôi, sử dụng lời giới thiệu của chúng tôi, sử dụng mọi thứ."

Có hàng trăm danh mục cho những món hàng giả thương hiệu "As Seen on TV," và thường chúng được bán với giá chỉ bằng nửa giá của TeleBrands hoặc thấp hơn. Khubani đã nhấp chuột vào các mục có giá thấp và khám phá ra phần lớn các danh mục này là của những người bán ở Trung Quốc.. Không còn gì để ngạc nhiên khi ông nhìn thấy doanh số của mình sụt giảm.

Amazon có hai cách bán sản phẩm cho người tiêu dùng. Một là thỏa thuận bán lẻ truyền thống mà Amazon gọi là Vendor Central [tạm dịch nghĩa: "Nhà cung cấp giữ vai trò trung tâm"]. Công ty mua sản phẩm trực tiếp từ một nhà cung cấp, cũng giống như mua từ bất cứ cửa hàng nào trên phố.. Kênh bán hàng thứ hai được gọi là Amazon Marketplace [tạm dịch nghĩa: "Khu rao hàng Amazon"] hoặc, mới đây hơn, là Seller Central [tạm dịch nghĩa: "Người bán giữ vai trò trung tâm"]. Chủ yếu đây là một chợ trời kỹ thuật số rộng lớn, nơi bất cứ ai có một trương mục thư điện tử và một trương mục ngân hàng đều có thể liệt kê và bán hàng hóa của họ. Amazon hoạt động như một trung gian tương tự như eBay, lấy 15% huê hồng cho mỗi thương vụ.

Theo như các thiết kế trang của Amazon cho thấy, rõ ràng họ không thực sự quan tâm liệu họ đang bán một sản phẩm mới qua phương pháp bán hàng truyền thống Nhà Cung cấp hay phương pháp Người Bán - bởi vì họ có thể trưng bày sản phẩm của Nhà Cung cấp, nhưng đồng thời cũng giới thiệu các đường dẫn đến những Người Bán trên cùng một trang, bao gồm việc liệt kê các món hàng ở mức giá thấp nhất.

Nhưng Amazon không theo dõi từng món trong hàng triệu danh mục trên trang nhà của họ để xem chúng có phải là hàng giả hay không. Họ đùn đẩy trách nhiệm này cho những người bán. Đây là chính sách của công ty mà tất cả người bán phải chấp nhận:

Đại diện và Bảo hành. Bạn đại diện và bảo đảm rằng: (a) Dịch vụ của bạn và tất cả các khía cạnh của việc chào bán, bán, và công dụng của chúng sẽ tuân thủ tất cả các luật lệ hiện hành, bao gồm mọi yêu cầu thích hợp về cấp phép, ghi danh, hoặc đệ nạp hồ sơ....

Khi TeleBrands khiếu nại với Amazon là có hàng ngàn danh mục người bán bất hợp pháp, Khubani cho biết công ty của ông được thông báo, "Chúng tôi không có cách nào để xác minh rằng đây là những mặt hàng bất hợp pháp. Ông cần phải làm sạch nơi rao bán của mình. Chúng tôi không có trách nhiệm kiểm tra xem những người bán có liệt kê hàng giả hay không. Ông cần phải tự truy lùng những kẻ giả mạo này."

Bực mình, đội ngũ của Khubani đã hỏi tên và thông tin liên lạc của những người bán đang liệt kê hàng giả, để họ có thể truy lùng bọn này. Họ được thông báo, "Điều đó trái với chính sách của chúng tôi. Chúng tôi không thể chỉ rõ họ là ai."

Đã đành cuộc trao đổi ấy tạo ra bực bội, có hai thực tế khác khiến Khubani cảm thấy còn tức giận và bất lực hơn nữa. Đầu tiên là ngay cả khi ông có thể xác định được những người bán, ông không có ngả đường pháp lý nào ở Trung Quốc - chính phủ ở đó đã tuyên bố rõ ràng từ ba thập niên qua rằng họ sẽ không ngăn chặn hàng giả được sản xuất hoặc xuất cảng. Nhưng thực tế thứ hai liên quan đến Amazon và chính phủ Hoa Kỳ.

Amazon là một công ty vận chuyển tuyệt vời. Họ phải như vậy: hiệu năng tạo thêm lợi nhuận cho họ. Nếu họ không thể vận chuyển sản phẩm nhanh chóng với chi phí thấp nhất có thể, lợi nhuận của họ sẽ giảm. Vì vậy, họ tìm cách tối ưu hóa việc chuyển hàng cho chính họ và các người bán nhằm cung cấp một trải nghiệm tuyệt vời cho khách hàng. Một cách để thực hiện điều này là với một dịch vụ mang tên Fulfillment by Amazon [tạm dịch nghĩa: "Hoàn tất thương vụ bởi Amazon"]. Người bán gửi hàng đến các trung tâm hoàn tất thương vụ của Amazon và trả tiền cho việc lưu trữ và hoàn tất thương vụ của từng mặt hàng. Amazon đã mở một số trung tâm hoàn tất thương vụ ở Trung Quốc. Trong trường hợp của Khubani, sự hiện hữu của những trung tâm này có nghĩa là Amazon về cơ bản đang tiếp tay cho hàng lậu và hàng giả - dựa trên những sản phẩm mà ông đã đầu tư hàng trăm triệu đô la để phát triển, xin cấp bằng sáng chế, và tiếp thị - đi đến tay người tiêu dùng và phá hủy doanh nghiệp của ông.

"Mọi người đều nghĩ Amazon là công ty tuyệt vời này của Mỹ," Khubani nói, đồng thời lưu ý rằng Amazon quả thật đã bắt đầu loại bỏ những người bán giả mạo sau khi Thượng nghị sĩ Cory Booker từ bang New Jersey thay mặt ông gọi điện thoại vào Amazon. "Nhưng một phần lý do giúp họ kiếm được tiền là vì họ đang trợ giúp và khuyến khích việc bán các sản phẩm giả. Và không ai biết điều này."

Nhưng Amazon không phải là tác nhân duy nhất giúp bọn kẻ cướp chuyên săn mồi này làm ăn phát đạt. Một đối tác thiện chí nhưng có lẽ vô tình đã biến việc vận chuyển hàng hóa bất hợp pháp từ Trung Quốc trở nên vô cùng hiệu quả về chi phí: Cơ quan Bưu chính Hoa Kỳ. Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU), thành lập năm 1874, ấn định mức phí chuyển phát thư cho các bưu cục quốc gia tại 192 nước. Theo một điều khoản năm 1969 nhằm giúp các nền kinh tế đang gặp khó khăn, Cơ quan Bưu chính Hoa Kỳ đã đồng ý với một mức giảm giá khổng lồ cho những bưu kiện gửi ra từ Trung Quốc có trọng lượng dưới 4,4 cân Anh. Mức giảm giá này lớn đến đâu? Đủ lớn để cơ quan bưu chính nói họ đang lỗ 170 triệu đô la mỗi năm cho thỏa thuận này.

Một ví dụ: sẽ tốn nhiều tiền hơn để gửi một bưu kiện nặng ba cân Anh đi một chặng đường dài 2,3 dặm từ số 1600 Đại lộ Pennsylvania [địa chỉ Tòa Bạch Ốc] ở Washington, DC, đến Điện Capitol [tức tòa nhà Quốc Hội] so với gửi cùng một bưu kiện đi 6.925 dặm từ Bắc Kinh tới Tòa Bạch Ốc.

Khubani kinh hãi. Chính phủ Hoa Kỳ đang bao cấp cho những chuyến hàng lậu vốn làm xói mòn lợi nhuận của công ty ông và đe dọa sự ổn định của nó. Và ông bó tay trước sự thể này.

"Mỗi một nhà sản xuất hàng tiêu dùng khác mà tôi tiếp xúc đều đang đối diện với vấn nạn khổng lồ này," ông nói.

Và đây không chỉ là một vấn đề của Amazon. Yair Reiner là nhà sáng chế có trụ sở tại Brooklyn của rào ngăn dầu văng Frywall - một vật hình trụ bằng silicone màu sắc rực rỡ được thiết kế để đặt bên trong một cái chảo nhằm ngăn chặn dầu mỡ sôi sùng sục khỏi văng ra khắp nơi. Doanh thu của sản phẩm này bùng nổ sau khi Reiner xuất hiện trên chương trình truyền hình Today và làm kinh ngạc các ngôi sao của Shark Tank, nơi chiếc Frywall mẫu của ông đã dấy lên một cuộc chiến đấu thầu giữa các doanh nhân của chương trình. Tuy nhiên, thành công này kéo theo lũ hàng giả đến từ Trung Quốc.

Buôn lậu trên Amazon chỉ là vấn đề nhẹ nhất đối với Reiner. Trên thực tế, ông đã xác định Amazon là kênh mang về lợi nhuận cao nhất cho công ty ông, vượt xa mọi phương tiện phân phối khác. Nhưng hàng nhái Frywall sản xuất tại Trung Quốc - được đặt tên là Frywalls [chỉ thêm chữ "s"] – đã xuất hiện đầy rẫy trên internet, chẳng hạn như trong kết quả tìm kiếm của Google, trên eBay, trên các trang mạng cá nhân được tạo ra chỉ để bán những món hàng giả này.

Reiner, vốn là cựu giám đốc quản trị về nghiên cứu cổ phần tại ngân hàng đầu tư Oppenheimer & Co., nhận định, "Có đủ mọi loại cơ sở hạ tầng, một số ở Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác và một số có trụ sở ở Trung Quốc, tạo điều kiện cho việc sản xuất, tiếp thị, và phân phối hàng nhái."

Nhưng cơn ác mộng của Reiner bắt đầu ở Trung Quốc, nơi các nhà sản xuất rao bán Frywalls giả trên Alibaba, trang thương mại điện tử khổng lồ cho phép đặt hàng số lượng lớn - hãy nghĩ về nó như eBay dành cho các tiệm buôn - và trên AliExpress, hoạt động như Marketplace của Amazon và nhận đơn đặt hàng đơn lẻ từ nhiều người bán khác nhau. Những món hàng này thường được rao bán với giá thấp hơn 25% so với giá mà Reiner đưa ra cho một chiếc Frywall thật.

AliExpress là một điểm đến mua sắm trực tuyến hết sức ăn khách ở Trung Quốc và nhiều thị trường khác. Nhưng nó vẫn còn tương đối vô danh ở Hoa Kỳ. Vì vậy, việc bán các sản phẩm bất hợp pháp này cho người tiêu dùng trong nước Mỹ vẫn diễn ra chủ yếu qua Amazon, eBay và các trang mạng cá nhân.

"Nói một cách cốt yếu, các đại lý này đang quảng cáo một sản phẩm mà họ chưa bao giờ sở hữu và thực sự tồn kho," Reiner cho biết. "Khi họ nhận được một đơn đặt hàng từ Amazon, eBay hoặc một cửa hàng trên mạng do họ tạo ra vốn cũng cung cấp hàng trăm sản phẩm 'hơi nước' khác, họ chuyển nó đến các nhà cung cấp ở AliExpress và yêu cầu gửi hàng trực tiếp từ Trung Quốc đến người tiêu dùng ở Hoa Kỳ. Và họ có thể thực hiện việc này một cách liền mạch, bởi vì có những công cụ cho phép họ căn bản là mang danh mục eBay hoặc Amazon của họ hoặc một trang mạng do họ tạo ra bằng Shopify kết nối trực tiếp với một nhà cung cấp ở AliExpress."

Trong khi Reiner tin rằng nhiều danh mục được tạo ra bởi nhà sản xuất Trung Quốc, thực tế là bất cứ ai ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng có thể tạo ra một danh mục và thực hiện được một thương vụ mà không bao giờ sở hữu món hàng lậu sản xuất ở Trung Quốc cũng như không cần phải bỏ ra một cắc để chứa hàng tồn kho.

Và nếu hàng được gửi từ Trung Quốc sang Hoa Kỳ, thỏa thuận UPU 1969 bảo đảm chi phí giao hàng sẽ rẻ hơn bất cứ thứ gì Reiner có thể cung cấp từ văn phòng của mình ở Brooklyn. Ông tin rằng việc chấm dứt bao cấp chuyển hàng sẽ chấm dứt tổn thất doanh thu trên mạng của ông = sẽ không ai trả 15 đô la hoặc 20 đô la để gửi một món hàng từ Trung Quốc khi nó được chuyển với giá 3,99 đô la bên trong Hoa Kỳ.

Về nạn nhập lậu số lượng lớn mặt hàng nhái Frywalls, Reiner không xem đó là vấn đề. Mô hình kinh doanh của người bán hàng qua mạng, ông nói, "là làm mọi việc mà không thực sự chịu bất cứ rủi ro nào về tồn kho. Vận chuyển hàng giả với số lượng lớn sẽ làm tăng rủi ro. Đầu tiên, bạn phải mang nó đến đây, và sau đó hy vọng bạn bán được nó mà không bị phát giác và hàng giả của bạn không bị thu giữ."

Reiner ước tính rằng ông và người đứng đầu bộ phận tiếp thị của ông dành khoảng 5% thời lượng trong tuần để lùng sục các danh mục hàng giả và liên lạc với Amazon, eBay và Shopify để loại bỏ chúng, cộng với hàng ngàn đô la tiền tham khảo luật sư. "Còn có thêm một loại chi phí tinh thần cho việc này nữa," ông cho biết. "Chúng tôi là một cơ sở rất nhỏ, và chúng tôi cảm thấy mình đang phải đánh liên tục trận đánh ngược dốc này. Chúng tôi đang cố gắng chiến đấu vì chính nghĩa. Chúng tôi đổi mới và tạo ra một sản phẩm tuyệt vời và làm hài lòng khách hàng và chịu trách nhiệm cho mọi thứ chúng tôi làm. Nhưng với tất cả mọi việc chúng tôi làm để xây dựng công ty và sản phẩm, chúng tôi đang bao cấp cho những tên điếm săn mồi này.. Vì vậy, khó có thể bình chân như vại được. Đó là lý do tại sao kết thúc chính sách bao cấp sẽ là một bước tiến lớn theo đúng hướng."

Hụt bước cầu tàu

Khoảng hai trăm triệu container vận tải đã đi qua các cảng của Trung Quốc vào năm 2017, theo tạp chí Journal of Commerce. Loại container được sử dụng nhiều nhất là 20', hay đơn vị tương tương hai mươi foot TEU, với dung tích bên trong khoảng 1.170 foot khối và trọng lượng tối đa 67.196 cân Anh. Các tàu chở hàng khổng lồ như New-Panamax và loại tàu thực sự khổng lồ Ultra Large Container Ship - những chiếc tàu lớn đến nỗi chúng không thể cập vào hầu hết các cảng của Hoa Kỳ - chở được lần lượt 14.000 và 20.000 TEU. Việc tổ chức để vận chuyển mọi loại sản phẩm có thể tưởng tượng ra trên trái đất - từ đồ chơi, muối và chuối đến lò phản ứng hạt nhân, dầu và bẫy chuột - đã được tiêu chuẩn hóa bởi Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO). ISO đã làm việc với hơn 160 quốc gia để mã hóa các kích thước chấp nhận được của các container nhằm làm cho việc bốc dỡ hàng hóa càng đồng nhất và hiệu quả càng tốt.

ISO 9001 là tiêu chuẩn quốc tế cho một hệ thống quản trị phẩm chất để tuân thủ các quy luật về vận chuyển. Được chứng nhận ISO 9001 có nghĩa là một công ty đã tuân theo các hướng dẫn của tiêu chuẩn này, đáp ứng các yêu cầu riêng của họ, đáp ứng các yêu cầu theo luật định và quy định, và duy trì hồ sơ. Các công ty được cấp chứng nhận theo nhiều phương diện kinh doanh khác nhau - kỹ thuật, sản xuất, v.v. - sau khi hoàn thành một cuộc kiểm toán chính thức. Có chứng nhận này được cho là mang lại tính hợp pháp cho công ty: các sản phẩm của họ an toàn, ổn định, và sẽ không bị vỡ khi mở.

Khoảng 12 triệu TEU được vận chuyển từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ mỗi năm, tính trung bình gần 33.000 container mỗi ngày. Hoa Kỳ chỉ được phép cử bốn thanh tra vận tải sang làm việc ở Trung Quốc. Nghĩa là mỗi thanh tra viên sẽ phải kiểm tra khoảng 8.250 container sắp lên đường tới Hoa Kỳ mỗi ngày. Nhưng tất nhiên điều đó bất khả thi, vì có ít nhất 20 cảng ở Trung Quốc được sử dụng cho vận tải quốc tế và không ai trong số bốn thanh tra viên này có thể xuất hiện ở năm nơi cùng một lúc.

Ngay cả khi Trung Quốc cho phép Hoa Kỳ có 20 hoặc 2.000 thanh tra vận tải, các container này vẫn không được xem xét một cách có ý nghĩa, bởi vì các thanh tra viên không được phép thực sự kiểm tra các container. Tất cả những gì họ có thể làm là nhìn vào các tờ khai - nghĩa là, họ nhìn vào danh sách những món hàng các công ty khai là có chứa trong container. Một container có thể chứa 200 đôi vớ nằm trên 5.000 cân Anh fentanyl [một chất ma túy tổng hợp], nhưng nếu tờ khai nói có "20.000 đôi vớ thể thao màu trắng" được một công ty có chứng nhận ISO 9001 vận chuyển, thì không cần phải kiểm tra. Container được bốc xếp lên tàu và chở đi.

ISO 9001 nên được coi là sự chứng nhận tự động gần như vô nghĩa ở Trung Quốc, không phải là sự xác nhận về phẩm chất tạo thêm sự tin cậy. Phụ trách 50% số cuộc kiểm toán và xác nhận kết quả là việc của một công ty thuộc sở hữu của ĐCSTQ, và ĐCSTQ hoàn toàn không muốn làm chậm các hoạt động sản xuất, bán hàng, hoặc xuất cảng có thể mang đô la về. Ngoài ra, các kiểm toán viên bị mua chuộc dễ dàng.

Còn đối với các thanh tra viên Trung Quốc làm việc tại các bến cảng, thái độ cảnh giác và việc khám phá ra những chuyến hàng chứa những sản phẩm lậu hoặc không kê khai sẽ bị họ nhăn mặt. Mở một container và lục soát cần thời gian. Và thời gian là tiền bạc. Các thanh tra viên có thể bị phạt vì trì hoãn việc bốc xếp và giờ khởi hành của một chuyến tàu.

Thế cho nên đây là cách nào và tại sao thị trường Mỹ lâu nay tràn ngập hàng giả. Không có sự kiểm tra lẫn nhau ở Trung Quốc để bảo đảm kiểm soát phẩm chất. Không có cơ quan bảo vệ người tiêu dùng, không có cơ quan bảo vệ môi trường, văn phòng cấp bằng sáng chế hoặc nhãn hiệu, không có FDA [Cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm] hoặc IRS, không ai quan tâm đến việc bảo đảm rằng các sản phẩm không gây hại và rằng có sự bảo vệ bản quyền, khả năng bị truy cứu trách nhiệm, và sự quản trị tốt. Nếu lốp xe phát nổ, nếu túi khí không mở, nếu một cảm biến phanh hết hoạt động sau 100 dặm, nếu không thu được một khoản phí cấp phép, nếu sản phẩm chứa chất độc, thì có sao đâu? Các sản phẩm đã biến mất. Thương vụ đã hoàn tất. Kế tiếp!

Gián điệp thương mại 2.0

Những vụ gián điệp thương mại và trộm cắp tài sản trí tuệ hiếm khi được nói tới.

Nếu một cửa hàng trang sức hoặc một viện bảo tàng bị cướp, cảnh sát được gọi. Báo chí đưa tin về vụ cướp và nói về giá trị của những gì bị đánh cắp. Nó trở thành một sự kiện có thể định lượng - "vụ trộm trị giá 2 triệu đô la" hoặc "bức tranh trị giá 10 triệu đô la." Ai nấy nói về tội ác tại nơi làm việc, trên Twitter, trên các chương trình truyền hình giờ khuya. Khi nghi phạm được xác định, một cuộc săn lùng diễn ra.

Nhưng với nạn gián điệp thương mại và trộm cắp tài sản trí tuệ của các công ty, thường chỉ có sự im lặng. Nếu thực hiện giỏi, một vụ trộm thương mại là vô hình. Nó bao gồm sao chép các tài liệu, bản kế hoạch kỹ thuật, công thức hóa học, mã máy tính, dữ liệu thô. Nó khác với đánh cắp một bức Picasso trên tường viện bảo tàng. Tuy nhiên, hãy tưởng tượng ra việc đánh cắp bức tranh và thay thế nó bằng một bức tranh giả xuất chúng, giả mạo giỏi đến nỗi phải sau cả năm mới có một chuyên gia phát giác bản gốc đã biến mất. Loại phản ứng "chúng ta đã bị trộm" chậm trễ này xảy ra quá thường trong thế giới doanh nghiệp, nhưng nó cũng là phản ứng bị hãm thanh. Báo cáo vụ trộm có thể làm giảm niềm tin của nhà đầu tư, làm tổn thương tinh thần nhân viên công ty, và tiết lộ tin tức cho các đối thủ cạnh tranh.

Một số công ty kiểm toán và kế toán nổi tiếng – Ernst & Young, Deloitte, PricewaterhouseCoopers, KPMG - thực hiện các cuộc điều tra tư nhân về nghi án gián điệp thương mại. Mức độ các cuộc tấn công do ĐCSTQ tài trợ mà các công ty này tìm thấy dao động từ mức căn bản nhất - hối lộ nhân viên để sao chép tài liệu, đặt sinh viên vào các viện nghiên cứu và áp lực để họ đánh cắp - đến những cuộc đột nhập tinh vi có sự tham gia của nhiều tin tặc và cả những chiến dịch gián điệp toàn diện.

Năm 2014, chủ tịch một quỹ đối trọng lớn gửi cho tôi một báo cáo được thuê thực hiện riêng về hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc trong các tập đoàn Mỹ. Bản báo cáo gây choáng về phạm vi và chi tiết. Và thông tin chứa trong đó đã làm lung lay thế giới quan của tôi đến tận nền tảng.

Những trang minh họa gây lo ngại nhiều nhất mô tả một cuộc tấn công để giành quyền kiểm soát công nghệ độc quyền mà một công ty đang lên đã phát triển. Phương pháp tấn công khiến tôi nhớ đến sự tinh vi của một chiến dịch không kích. Nó được đạo diễn một cách hoàn hảo để đánh lạc hướng một cách tinh tế và khai thông mục tiêu cho cuộc tấn công chớp nhoáng. Chiến dịch này nêu bật nguồn lực khổng lồ mà ĐCSTQ sẵn sàng dành ra để phá hoại các đối thủ kinh doanh hầu giành quyền kiểm soát thứ công nghệ họ muốn theo đuổi. Sau đây là những gì đã xảy ra.

Một công ty hóa chất Mỹ, sở hữu bởi một công ty cổ phần tư nhân, đã được cấp bằng sáng chế cho một công nghệ xanh đột phá và đang phát triển với tốc độ ổn định. Chủ nhân của nó bắt đầu phát triển một kế hoạch 5 năm để bán cổ phần ra công chúng.

Nhưng đột nhiên, công ty bắt đầu không bắt kịp các mục tiêu thu nhập của mình. Vấn đề dường như nằm trong khâu bán hàng - số đơn đặt hàng sụt giảm - và trong khâu hậu cần, bộ phận phụ trách dòng chảy của các sản phẩm. Người phụ trách khâu bán hàng bị sa thải, nhưng hiện tượng mất máu tiếp diễn. Các chủ nhân họp với đội ngũ lãnh đạo và cảnh cáo họ phải khắc phục các vấn đề, bởi vì những bước hụt liên tiếp sẽ đe dọa kế hoạch IPO. Không lâu sau đó, công ty nhận được một lời chào mua không chờ đợi từ một công ty Trung Quốc. Lời chào mua khiến các chủ nhân bị sốc - giá chào mua thấp hơn 30% so với giá trị mà công ty đáng có, nếu không đuổi hụt các mục tiêu thu nhập. Ban quản trị thì choáng váng: Làm cách nào mà phía chào mua đưa ra được một sự định giá chính xác như vậy mà không nắm dữ liệu của công ty? Có vẻ như họ đã biết rõ những tổn thất mới đây.

Các chủ nhân bèn thuê người điều tra. Họ khám phá ra không chỉ công ty hóa chất đã bị tin tặc tấn công, mà cả công ty cổ phần tư nhân sở hữu nó cũng bị. Bọn tin tặc nắm được các mục tiêu thu nhập của công ty và những lằn ranh đỏ được xem là không thể chấp nhận được đối với các chủ nhân.

Vụ phá hoại đạt mức độ sáng chói, xét trên bình diện chuyên môn của nghề gián điệp. Các máy chủ điện thư đã bị tấn công có chọn lọc, để mỗi khi công ty gửi thư chào mua ra ngoài, bọn tin tặc sẽ xóa thư trước khi thư được gửi đi. Tương tự, khi đơn đặt hàng gửi vào, một số đã không bao giờ vào tới hộp thư của đội ngũ bán hàng - vì bọn tin tặc đã chặn thư. Sự phá hoại có chọn lọc này vừa đủ để phương hại doanh thu nhưng chưa đủ để dẫn đến một cuộc điều tra.

Trong khi đó, bọn tin tặc cũng phá hoại khâu hậu cần ở sân sau. Khi một đơn đặt hàng gửi vào mua, giả dụ như: 1.000 đơn vị, bọn tin tặc sẽ thay đổi số lượng thành 900. Khi sự thiếu hụt được khám phá ra - thường là sau khi đợt hàng đã được gửi ra hoặc sắp được gửi ra - một đơn đặt hàng thêm sẽ được tạo ra. Chi tiết tế nhị này tạo thêm phí tổn cho các khâu lao động, giao hàng, v.v. và tác động đến lợi nhuận.

Một điệp vụ táo bạo. Tinh tế, gần như không thể nào nhận ra. Thực thể duy nhất có những nguồn lực và trình độ để tiến hành một âm mưu phức tạp như thế hẳn phải là nhà nước.

Quỷ kế này kết tinh mức độ chiến tranh kinh tế mà Trung Quốc đang tiến hành. Nó không chỉ là trộm cắp - sao chép tài liệu của một công ty tương đương với đập phá và trộm hàng hóa trong một cửa tiệm. Đây là một vụ lừa đảo chiến lược trên nhiều cấp độ. Tại một thời điểm, ĐCSTQ đã đặt ra chính sách công nghiệp và đưa công nghệ xanh lên hàng ưu tiên. Một khi đã xác định được đích nhắm là công ty hóa chất mới khởi nghiệp của Hoa Kỳ, một người nào đó đã khởi xướng một chiến dịch đòi hỏi cả kế hoạch tình báo, hoạt động tin tặc của Quân đội Giải phóng Nhân dân, và sự giám sát cũng như phân tích do một doanh nghiệp quốc doanh phụ trách. Mục tiêu là phá hoại và hạ giá một công ty Mỹ để mua nó với giá thấp hơn thị trường, hầu thủ đắc công nghệ mà ĐCSTQ coi là quan trọng. Đó không là gì khác hơn một cuộc tấn công được chính quyền cho phép nhằm vào một công ty Mỹ.

Khi tôi tham gia Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, vào năm 2014, tôi chia sẻ báo cáo này với gần như mọi người tôi gặp tại Ngũ Giác Đài. Phản ứng lúc nào cũng như nhau: "Chúa ơi, điều này thật kinh khủng!" Sau đó, họ sẽ nói, "Đó không phải là công việc của tôi." Và tất nhiên, về mặt giữ đúng nhiệm vụ truyền thống của quân đội, thái độ đó hoàn toàn hợp lý. Công việc của quân đội là lên kế hoạch chiến đấu, chuẩn bị cho cuộc chiến, tiến hành cuộc chiến, hoặc duy trì trật tự. Còn việc bảo vệ các công ty Mỹ? Chẳng liên quan gì tới chúng tôi!

Nhưng với tôi, đây là hành động chiến tranh rõ rệt. Đây là sự thù địch, là hành vi săn mồi, vi phạm luật pháp quốc tế. Và nó nhằm mục đích làm tổn hại quốc gia của chúng ta.

Tôi đã đến Bộ Tài chính và Bộ Thương mại. Tôi đã gặp giới chức Bộ Ngoại giao. Tôi nhận được một câu trả lời chung hết sức khôi hài: "Trung Quốc không phải là đối thủ của chúng ta, họ là bạn của chúng ta. Chúng ta hợp tác với họ." Tôi nhìn họ và nghĩ, "Nhưng tôi vừa cho quý vị xem những nghiên cứu chứng minh rằng họ không phải là bạn của chúng ta."

Tôi đi đến kết luận là sẽ không ai làm bất cứ một điều gì đối với vấn nạn gián điệp thương mại và chiến tranh kinh tế của Trung Quốc. Đó là đề tài nhạy cảm, và không ai muốn chạm vào nó. Cuối cùng tôi tìm thấy một đồng minh trong Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Tôi không muốn nêu tên ông, nhưng tôi coi ông như một vị anh hùng. Không như nhiều sĩ quan cao cấp khác, ông hiểu rằng chiến tranh kinh tế, trên thực tế, chính là chiến tranh và quân đội có nhiệm vụ bảo vệ những biên thùy mới. Và ông cho phép tôi tiếp tục nghiên cứu những hoạt động kinh tế thù địch của Trung Quốc và phát triển chiến lược để ứng phó với các vấn đề.

Khi tôi nói với mọi người về công việc tôi đang làm, phản ứng thường gặp là một câu hỏi đầy nghi ngờ: "Tại sao anh lại để mắt tới điều này?"

Câu trả lời của tôi: "Vì không ai khác để mắt tới."

Khuynh đảo thương trường

Phá hoại và gián điệp chỉ là hai cách để làm đảo lộn một thị trường. ĐCSTQ cũng dựa vào nhiều chiến lược khác để kiểm soát và chiếm lĩnh thị trường, từ hạ giá nuốt trửng thị trường và nhử món này bán kèm món nọ đến bắt nạt kiểu truyền thống.

Hãy bắt đầu với việc bắt nạt. Trung Quốc là nhà sản xuất hải sản hàng đầu thế giới, tạo ra gần bảy mươi triệu tấn trong năm 2017. Họ sử dụng khoảng một triệu người trong ngành công nghiệp cá đông lạnh, cũng lớn nhất thế giới. Xuất cảng thủy sản Trung Quốc lên tới 19,3 tỷ đô la trong năm 2016.

Đáng chú ý là cá hoang dã đánh bắt trong các vùng biển của Trung Quốc trong chín tháng đầu năm 2017 đã giảm 11,9%, nhưng theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, cá đánh bắt ở vùng biển của các nước khác tăng 14,2% so với năm trước đó.

Nói cách khác, Trung Quốc, nước chiếm hơn 60% sản lượng hải sản nuôi trồng toàn cầu, không thể duy trì sản lượng hải sản hoang dã bằng cách dựa vào sản phẩm khai thác từ vùng biển ven bờ của mình. Thế thì họ làm gì? Họ phái các tàu đánh cá của mình đi khắp thế giới để càn quét các vùng biển ven bờ của các quốc gia yếu hơn, thường xuyên xâm lấn các quốc gia không có hải quân mạnh hay thậm chí không có một lực lượng hải quân nào.

Cần xác định rõ, việc đánh bắt cá trong vùng biển quốc tế là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, việc khai thác sự giàu có, chẳng hạn, của quần đảo Galapagos thuộc Ecuador - nơi, vào tháng 8 năm 2017, hai mươi ngư dân Trung Quốc bị phát hiện với một mẻ đánh bắt gồm 6.600 con cá mập - là vi phạm luật pháp quốc tế. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, các vùng đặc quyền kinh tế để đánh bắt cá trải rộng 200 hải lý từ bờ biển của một quốc gia.

Ở Nam Mỹ, tàu Trung Quốc bị bắt gặp đánh cá trong các vùng biển Argentina, Chile, Peru và nhiều quốc gia khác. Vào tháng 3 năm 2016, lực lượng tuần duyên Argentina phát giác một tàu Trung Quốc, chiếc Lu Yan Yuan Yu, đánh cá trong vùng biển của họ và bắn một phát súng cảnh cáo để ngăn chặn.. Tàu Lu Yan Yuan Yu đã thử đâm vào tàu Argentina nhưng hành động này phản tác dụng; phía Argentina nổ súng, và tàu cá chìm. Ngày nay, nhiều tàu cá Trung Quốc biết tự trang bị những bộ phận đệm có thể dùng để đâm vào tàu khác và ngăn các tàu khác tới gần.

Trong khi Trung Quốc tuyên bố họ đang giám sát gắt gao tình hình, các tàu cá Trung Quốc vẫn được thấy xuất hiện ở xa tận Nam Phi.

Chèn ép những quốc gia nhỏ hơn để đánh cắp tài nguyên thiên nhiên của họ là một chiến thuật.. Cung cấp những thỏa thuận phát triển hào phóng bên trong ẩn chứa những điều khoản cắt cổ là một chiến thuật khác. Trung Quốc hiện đang trong tiến trình triển khai sáng kiến cơ sở hạ tầng toàn cầu Vành đai và Con đường trị giá nhiều tỷ đô la để thống trị ngành vận tải hàng hóa trên khắp hành tinh. Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa và mục đích của Vành đai và Con đường trong một chương sau, nhưng do chúng ta đang đề cập đến vấn đề kiểm soát thị trường, có hai điều đáng lưu ý: kiểm soát vận tải là một phương pháp nắm huyết mạch của dòng chảy thương mại, và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các quốc gia đang gặp khó khăn về kinh tế là một diệu kế để giành lấy đòn bẩy kinh tế tại các quốc gia mà bạn được cho là "đang giúp đỡ." Các sáng kiến này, theo một nghĩa nào đó, chính là nợ và bẫy tiếp cập thị trường.

Một ví dụ mới đây về cách Trung Quốc phù phép biến một cuộc "viện trợ nước ngoài hữu ích" thành ra sự "kiểm soát" là dự án cảng Hambantota khổng lồ ở Sri Lanka. Đây là một quốc gia bị chiến tranh tàn phá không nằm cao trong danh sách đối tác thương mại của bất cứ nước nào trong nhiều thập niên. Nhưng trong giai đoạn mười năm Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa tại vị, công ty quốc doanh China Harbor Engineering Company đã đạt được những thỏa thuận khổng lồ về hiện kim và tín dụng để xây dựng cảng nước sâu trị giá nhiều tỷ đô la ở cực nam của hòn đảo.

Rajapaksa thất cử tổng thống năm 2015, để lại cho các lãnh đạo mới một núi nợ từ các thỏa thuận của ông với Trung Quốc. Và Trung Quốc, hành động giống như một kẻ cho vay nặng lãi hơn là một đồng minh nhân từ, đã từ chối giảm nhẹ các điều khoản đã được đàm phán. Năm 2017, chính phủ Sri Lanka đành bàn giao quyền kiểm soát cảng Hambantota và 15 ngàn mẫu đất xung quanh cảng trong 99 năm.

Trung Quốc giờ đây có một cảng vừa sát sườn vừa đi vòng qua Ấn Độ, đối thủ cạnh tranh sản xuất lớn nhất của mình. Và trong khi hợp đồng thuê Hambantota cấm Trung Quốc sử dụng cảng cho các mục đích hải quân, có mối lo ngại đáng kể là họ sẽ cố gắng đàm phán các điều khoản đó hoặc đơn giản là làm ngơ chúng, như họ rất thường làm với mọi vấn đề pháp lý.

Tuy nhiên, xét về ý đồ và mục đích, rõ ràng Trung Quốc đã không thực sự giúp đỡ Sri Lanka cải tiến cơ sở hạ tầng - Trung Quốc chỉ khiến nước này chìm trong nợ nần và đến nay đã giành quyền kiểm soát kinh tế đáng kể đối với quốc gia đang gặp khó khăn nhưng có vị trí chiến lược.

Đưa ra những thỏa thuận ngọt ngào cho những quốc gia có nền kinh tế trì trệ trên thực tế là quy trình hoạt động thông thường của một số công ty được ĐCSTQ hỗ trợ. Và những điều kiện kèm theo có thể không phải lúc nào cũng rõ ràng. Trung Quốc đã cực kỳ năng động ở châu Phi. Năm 2018, Chủ tịch Tập cam kết viện trợ 60 tỷ đến 80 tỷ đô la cho các quốc gia châu Phi. "Trung Quốc không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của châu Phi và không áp đặt ý chí của mình lên châu Phi," Tập nói. "Những gì chúng tôi đánh giá cao là việc chia sẻ kinh nghiệm phát triển và sự hỗ trợ mà chúng tôi có thể cung cấp cho sự thịnh vượng và hồi sinh quốc gia của Châu Phi."

Nhưng nhận tiền của Trung Quốc sẽ kéo theo nhiều vấn đề. Nếu Trung Quốc xây một mạng điện thoại, họ sở hữu tài sản trí tuệ. Nếu một công ty Trung Quốc xây một nhà máy điện, công ty ấy sở hữu các kế hoạch và hoạt động. Và các dự án này, giống như cảng của Sri Lanka, có thể là bẫy nợ. Việc kiểm soát cơ sở hạ tầng quan trọng cho phép Trung Quốc sử dụng áp lực trong những lĩnh vực khác. Nhiều bản tin ghi nhận các chính phủ châu Phi đã bị áp lực không công nhận Đài Loan. Chắc hẳn họ cũng sẽ bị áp lực phải giữ im lặng trước việc Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ, Tây Tạng và những người ủng hộ tự do ngôn luận. Theo cách này, tiền viện trợ có thể được biến thành cái có thể gọi là bẫy tự do.

Trong một thời gian ngắn đáng chú ý, Transsion Holdings, một công ty ở Thâm Quyến được thành lập năm 2006, đã chiếm được thị trường điện thoại di động châu Phi và hạ bệ người khổng lồ toàn cầu Samsung của Nam Hàn. Kẻ mới đến có một số sáng chế dành riêng cho Châu Phi, như khe cắm cho nhiều thẻ SIM, cho phép chia sẻ điện thoại giữa những người dùng có số điện thoại và nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Nhiều kiểu điện thoại được thiết kế để pin có tuổi thọ dài hơn, vì điện là mặt hàng hiếm ở nhiều vùng của lục địa này. Nhưng công ty đã thu hút được khách hàng bằng cách hạ giá thấp hơn thị trường; có tin tức cho biết họ đang bán điện thoại với giá xuống tới 50 đô la.

Như thế Transsion Holdings đã thành công qua việc cách tân và hạ giá mạnh tay. Việc định giá ấy có được bảo lãnh bởi Ngân hàng Trung Quốc hay không? Ai mà biết được? Các khách hàng mới này có nên cảm thấy thoải mái về sự riêng tư cho dữ liệu của họ hay không? Họ có lý do để lo lắng. Với hầu hết các doanh nghiệp Trung Quốc, nguy cơ can thiệp của ĐCSTQ luôn là một khả năng. Như đã lưu ý trong một đoạn trước, mọi tập đoàn Trung Quốc phải có một đảng viên ĐCSTQ trong hội đồng quản trị. Và một quốc gia châu Phi bị Transsion chiếm lĩnh hoặc bất cứ quốc gia nào phụ thuộc vào viễn thông Trung Quốc - một ngày nào đó sẽ gặp nguy cơ dữ liệu của người dân bị lạm dụng cho những mục đích kinh tế hoặc để duy trì kiểm soát xã hội.

Robert Spalding

Carl Trần chuyển ngữ
http://batkhuat.net/

Saturday, August 24, 2019

Lời Kêu Gọi Quốc Nội Hải Ngoại Xuống Đường Chống Trung Quốc Xâm Lược

Kính gửi tất cả mọi người dân Việt Nam yêu nước,

Bảo vệ chủ quyền Đất Nước là nghĩa vụ và là quyền bất khả xâm phạm của mọi công dân. Chính quyền là cơ chế được dân bầu ra để đại diện cho dân trong các bang giao quốc tế, chứ không phải để cướp đi vai trò và quyền bảo vệ tổ quốc của nhân dân.

Quyền và nghĩa vụ của chúng ta lại càng quan trọng và cấp thiết hơn khi chính quyền đã không đại diện nhân dân để quyết tâm bảo vệ Tổ Quốc.

Do đó, chúng tôi gửi "Lời Kêu Gọi Quốc Nội Hải Ngoại Xuống Đường Chống Trung Quốc Xâm Lược" đến những người dân Việt Nam yêu nước ở khắp mọi nơi để đạt được những mục tiêu sau:

1. Chứng minh với thế giới hôm nay và lịch sử mai sau rằng có những người dân Việt Nam cương quyết chống lại hành động xâm lấn của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam.

2. Gửi thông điệp mạnh mẽ của người dân lên án thái độ ươn hèn và phản ứng nhu nhược của đảng và nhà nước trước hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh.

3. Tiếp tục khẳng định rằng bảo vệ chủ quyền quốc gia là quyền phổ quát của mọi công dân, không phải là đặc quyền của đảng hay nhà nước cai trị. Không một nhà cầm quyền văn minh nào lại bắt giam công dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước.

Cho dù chỉ một người cầm bảng chống quân xâm lược trước sứ quán Tàu ở Hà Nội thì đó vẫn là cần thiết. Lòng yêu nước không chỉ đo lường bằng số đông. Vì hình ảnh can trường của một người tại Quảng trường Thiên An Môn cũng giúp cho thế giới hiểu được tinh thần bất khuất của cả một dân tộc.

Cho dù chỉ mười người giương cao khẩu hiệu bảo vệ chủ quyền trước sứ quán Tàu ở Bangkok thì vẫn là 10 tấm lòng yêu nước của người dân Việt hướng về tổ quốc thương yêu.

Dù phải yêu nước một mình, chúng ta vẫn không chùn bước.

Chỉ có thể có hàng trăm ngàn người, hàng triệu người đứng lên ngày mai nếu mỗi chúng ta đứng lên hôm nay.

Đã quá đủ, chúng ta ngồi mơ chính quyền quyết liệt bảo vệ chủ quyền cho dân.

Đã quá lâu, chúng ta ngồi chờ người khác yêu nước thay cho mình.

Đã gần kề, đại họa đất nước Việt Nam bước vào thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ 5 và trở thành một đặc khu của Tàu cộng.

Đã đến lúc, chúng ta không thể chờ khi Việt Nam trở thành một Tây Tạng thứ hai thì mới bắt đầu phản kháng.

Chúng ta sẽ chứng minh với thế giới và khẳng định trước lịch sử rằng không một thế lực ngoại bang nào, dù là Bá Quyền Phương Bắc hay Chư Hầu Phương Nam có thể tiêu diệt lòng ái quốc của dân tộc Việt Nam.

Do đó, Chúng Ta phải xuống đường.

Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Bắc thuộc phải bắt đầu ngay từ bây giờ bằng chính Chúng Ta, khởi đầu từ 10 người để sẽ có 100 người, 1000 người, 10000 người... ở khắp mọi nơi.

"Hẹn gặp nhau trong lòng yêu nước và ý chí cùng nhau bảo vệ Tổ Quốc". Mỗi người chúng ta có thể chọn và kêu gọi gia đình, bạn hữu cùng xuống đường với biểu ngữ cầm tay chống Tàu cộng, hoặc trước sứ quán hay lãnh sự quán Tàu nơi địa phương mình vào bất cứ một trong những ngày từ 22 đến 25 Tháng 8, Năm 2019.

WE - Chúng Ta
(danlambaovn)

Friday, November 11, 2011

Trước nhục nước, nên hòa hay nên chiến?

Câu hỏi của vua Trần Thánh Tông năm xưa tại Hội Nghị Diên Hồng lại văng vẳng bên tai.


Hội Nghị Diên Hồng - Lưu Hữu Phước
Golden Asia DVD 2 (Hùng ca sử Việt)

Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển
Tuông giày non sông rền vang tiếng vó câu
Gây oán nghìn thu
Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến?
Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân
Hỡi đâu tứ dân!

Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi
Ôii Thăng Long! Khói kinh kỳ phơi phới
Loa vang vang, chiếu ban truyền bốn hương
Theo gió bay khắp miền sông núi réo đờị

Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương
Giống anh hùng nâng cao chí lớn
Giống anh hùng đua sức tráng cường.
Ta lên đường lòng mang tâu đến long nhan
Dòng Lạc Hồng xin thề liều thân liều thân!

Đường còn dài
Hờn vương trên quan tái
Xa xa trông áng mây đầu non đoài

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà
Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu
Nhìn bao quân Thoát lấn xâm tràn nước ta
Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
(Đáp) Quyết Chiến!

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
(Đáp) Quyết Chiến!

Quyết chiến luôn
Cứu nước nhà
Nối chí dân hùng anh

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
(Đáp) Hy Sinh!

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
(Đáp) Hy Sinh!

Thề liều thân cho sông núi

Muôn năm lừng uy...

Monday, September 26, 2011

Cà phê cà pháo

Lâu ngày cả đám bạn thời Trung Học mới có dịp trốn vợ con, công việc hàng ngày, để ngồi lại với nhau. Mới đó giờ đã ba muơi năm. Thằng H tóc bạc trắng như một ông cụ bảy mưoi. Trước, chúng tôi có thể ngồi đồng ở quán cà phê mỗi ngày. Bây giờ thì không. Giờ phải hẹn hò, email điện thoại qua lại, lên lịch sao cho thuận tiện trước đấy cả mấy tuần. Lý do: thằng T từ Việt Nam qua chơi. Thằng P làm cả bọn ngỡ ngàng khi đến quán cà phê.

Xưa, cô hàng cà phê kín đáo trong trang phục nhưng đủ làm cho nhiều thằng trong chúng tôi phải bàn tán. Nay, cô hàng cà phê chân dài, quần áo chỉ có hai mảnh, vài thằng trong chúng tôi sợ, phải đưa mắt nhìn quanh ;-)

Xưa, cô hàng cà phê "anh" với "em" chúng tôi thấy thoải mái, tự nhiên. Nay "anh" với "em" thấy kỳ kỳ, lấn cấn. Mấy cô tiếp viên này cũng trạc tuổi đám nhỏ trong nhà. Thằng khỉ T vẫn còn máu tếu như ngày xưa "Cô cho tui xin ly sữa..."

Xưa, cả đám không thằng nào không phì phèo điếu thuốc. Nay chẳng thằng nào châm một điếu tương tư thảo cả. Phải chăng con cái, thời gian đã làm chúng tôi bỏ thuốc lá.

Xưa, chúng tôi ngồi đồng cả giờ ở quán cà phê mà không cần phải bận tâm đến chuyện khác. Nay, ngồi với nhau, đứa này đứa kia thỉnh thoảng check xem cái phone của mình có tin nhắn hay cuộc gọi nào không.

Xưa và nay, tình bạn chúng tôi vẫn không thay đổi

Wednesday, June 29, 2011

Gặp nhân chứng trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 (27/06/2011)


Cuối tuần qua, đại diện báo Đại Đoàn Kết đã tìm về miền Tây Nam Bộ để gặp lại những nhân chứng sống trực tiếp tham gia trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1- 1974. Qua từng câu chuyện cảm động được các ông kể, chúng tôi cảm nhận cảm xúc đặc biệt mà những người Việt đã phải trải qua khi chứng kiến biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bị xâm chiếm bằng vũ lực.

Chiến đấu tới hơi thở cuối cùng
Giai đoạn 1973 – 1974, khi Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris đã được ký kết, việc quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được trở thành việc riêng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đặc biệt, cùng với rút quân trên bộ, Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ cũng được lệnh rút hỏi khu vực Biển Đông.

Mỹ rút, đồng nghĩa với việc viện trợ quân sự của Mỹ ngày càng giảm buộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải chuyển dần các lực lượng hải quân đang chiếm giữ tại quần đảo Hoàng Sa về hỗ trợ cuộc chiến trên đất liền, chỉ để lại một trung đội địa phương trấn giữ. Ngay sau đó, Trung Quốc tiến hành liên tiếp các cuộc đổ bộ xâm chiếm các đảo đá và bãi ngầm trên quần đảo Hoàng Sa, cho đến khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa phát hiện được vào tháng 1-1974 và xảy ra trận thủy chiến để bảo vệ Hoàng Sa.

Ông Trần Văn Hà (tên thường gọi Tư Hà, 58 tuổi, hiện cư ngụ tại xã Phong Thạnh Đông A, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), thủy thủ tàu Nhật Tảo (HQ - 10), một trong 4 chiến hạm của Việt Nam Cộng hòa tham gia vào trận chiến kể lại: "Chiều 18-1, khi đang tuần tra ở vùng biển Đà Nẵng – Quy Nhơn, tàu chúng tôi bất ngờ nhận được lệnh đi Hoàng Sa. Không khí của các thủy thủ tàu lúc đó đều hết sức căng thẳng, nhưng tất cả đều sẵn sàng chiến đấu vì chủ quyền thiêng liêng của cha ông để lại. Cũng ngay chiều cùng ngày chúng tôi được học các ký hiệu nhận dạng tàu địch để sẵn sàng chiến đấu".

Theo ông Hà bồi hồi nhớ lại, cùng với tàu HQ-10, còn có 3 tàu khác của Việt Nam Cộng hòa tham gia trận chiến là tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4). "Sáng 19-1, khi tàu Nhật Tảo tới đúng tọa độ vị trí tập trung thì đã thấy 3 tàu bạn có mặt, nhưng cách khu vực tập hợp vài hải lý còn có thêm 4 tàu Trung Quốc cùng xuất hiện. Linh tính tôi mách bảo chắc chắn sắp xảy ra giao tranh giữa hai phía".

Tiếp đó, các tàu Việt Nam liên tục phát tín hiệu hàng hải yêu cầu tàu Trung Quốc di chuyển ra khỏi khu vực chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, phía tàu Trung Quốc cũng phản ứng lại tương tự. Tới 10h30 cùng ngày, khi Trung Quốc tiếp tục bất hợp tác, có dấu hiệu cố tình gây sự, dùng bạo lực tấn công xâm chiếm biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam thì không còn cách nào khác, tàu Nhật Tảo được lệnh khai hỏa.

Ngay sau đó, liên tục các tiếng nổ lớn dồn dập oang trời từ cả hai phía. Riêng tàu HQ-10 bị hỏa lực của địch bắn dữ dội; thông tin cháy ở các buồng máy 1, sau đó là buồng máy số 2 được truyền đi liên tục qua bộ đàm. "Bộ phận thủy thủ cơ khí chúng tôi được lệnh lên boong tàu hỗ trợ lực lượng trực chiến lúc này đã bị chết phần nửa. Xác chết đầy trên boong; tàu bị hư hỏng nặng và bốc cháy nhiều vị trí. Ngay cả hạm trưởng Ngụy Văn Thà cũng bị chết do đài chỉ huy bị hỏa lực địch bắn trúng". Ông Hà nhớ như in: "Khi tàu đã mất khả năng khiển dụng, HQ-10 phát tín hiệu cầu cứu sang các tàu bạn, tuy nhiên lúc này cả HQ-4 và HQ-5 đã rời đi, còn tàu HQ-16 tuy chưa rút kịp nhưng cũng bị hư hỏng nặng, khó có thể tương trợ HQ-10. Ngay trong khoảnh khắc đó, chúng tôi nghe lệnh mới từ Bộ Chỉ huy yêu cầu thủy thủ tàu đào thoát xuống các bè lưới trôi trên biển".

Ông Trần Văn Hà, một trong những thủy thủ thoát khỏi tàu sau cùng và nằm lênh đênh trên biển trong khu vực xảy ra trận chiến nên đã chứng kiến và kể lại: "dù bị hư hỏng nặng, phần nửa thủy thủ tàu đã chết, tuy nhiên những thủy thủ bị thương không còn khả năng đào thoát vẫn tiếp tục bám giữ vị trí chiến đấu. Các khẩu pháo 40 ly từ HQ-10 vẫn nổ giòn giã vào tàu Trung Quốc khiến các tàu này phải vất vả chống trả. Cuộc đấu súng cứ thế kéo dài tới chiều tối mới kết thúc khi hỏa lực từ tàu HQ-10 ngừng hẳn và chìm xuống biển sâu".

"Có lẽ đến lúc đó những thủy thủ còn lại trên tàu đã kiệt sức hoặc bị trúng đạn. Họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để hơn 20 đồng đội đào thoát thành công trên các bè lưới. 58 người con nước Việt đã ngã xuống biển sâu trong trận chiến này vì đã chiến đấu đến cùng để bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc Việt Nam", ông Tư Hà xúc động.





"Cảm nhận chủ quyền dân tộc nơi đảo xa"
Ông Nguyễn Văn Chọn (61 tuổi, hiện ngụ tại xã Phú Nghĩa Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An), thủy thủ tuần dương hạm HQ-6 kể lại: "Sáng ngày 19-1, tàu HQ-6 được lệnh tức tốc ra Hoàng Sa hỗ trợ trận chiến. Tuy nhiên, do xuất phát chậm, HQ-6 đã không thể tới kịp hỗ trợ đồng đội, cùng lúc đó thì tin hộ tống hạm Nhật Tảo bị nạn khiến chúng tôi hết sức lo lắng về số phận của anh em thủy thủ tàu. Thật may, 4 ngày sau tin anh Tư Hà (tên thường gọi của ông Trần Văn Hà-NV) cùng 19 thủy thủ khác được tàu Hà Lan cứu sống đã phần nào khiến chúng tôi nguôi ngoai. Sau đó hầu hết chúng tôi được phân công nhiệm vụ khác".

Từng nhiều lần tuần tra trên quần đảo Hoàng Sa, ông Chọn cho biết: "trong giai đoạn từ năm 1971 – 1973, tuần dương hạm HQ-6 từng nhiều lần được lệnh tuần tra khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trong những lần ấy, tôi từng trực tiếp phát hiện các bia chủ quyền có khắc ngự bút của vua Minh Mạng, ngoài ra có một đảo tương đối lớn (không nhớ tên) còn có cả Đài Khí tượng do Pháp dựng từ các thập kỷ trước đó".

Về sau này, trong các tài liệu còn lưu giữ lại xác nhận Đài Khí tượng trên quần đảo Hoàng Sa là do Pháp xây, trực thuộc Ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một đơn vị hải quân của Chính quyền Sài Gòn cũ. Điều này cho thấy hồi ức của ông Chọn là có cơ sở, hơn nữa cũng phù hợp với các thư tịch từ thời Nhà Nguyễn đã xác định.

"Cuộc chiến đã lùi xa hơn 38 năm, dù không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng của ông cha nhưng chúng tôi luôn nhận thức nơi biên cương ấy vẫn là vùng biển đảo chủ quyền của dân tộc Việt Nam; là máu, là nước mắt mà biết bao con người Việt Nam đã hi sinh để bảo vệ", ông Chọn tâm sự.

Thạch Sơn - Thành Luân
http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Chitiet=33184&Style=1

Monday, June 20, 2011

By Luu Van Loi

I. THE ĐẠI VIỆT DISCOVERED THE HOÀNG SA

If the Biển Đông (the South China Sea), like the Mediterranean Sea, is a strategical sea, there is, however, a great difference with regard to the history of navigation. As early as the years 3000 B.C. Phoenicians, Carthaginians, Cretans, Romans, and Greeks used that sea as a route of liaison and commerce with other riparian countries and made commercial and cultural exchanges with riparian countries from as far as the Black Sea. Maritime navigation was very developed in the region. On the contrary, in the Biển Đông, situated in a populated region and at the crossroads of several civilizations, for a rather long time the maritime activities of riparian peoples remained limited on a national scale. Movement by sea within the region was already difficult, all the more so with other regions. The reason was that the Biển Đông area is strewn with a multitude of islets and coral shoals which are very dangerous to navigate. Moreover, it is in a region of tropical tempests unbearable for the ships of that time. For these reasons, only after maritime navigation had made great technical progress, for example the possibility of building large ships, the invention of new forms of sails, and especially the invention of the navigation compass, could the ships, going to SEA or starting from there, venture to the high seas. That moment ushered in the era of commercial and cultural exchanges in that region, such as in India, in Western Asia and in Asia Minor.

The first navigators who crossed the Biển Đông were not only the Vietnamese, the Chinese, and the Malays, but also the Arabs, and the Indians. The Arabs came to China in the 8th and 9th centuries. In Quanzhou today, one can still find the mosque Ashab, the Muslim cemetery Lingshan, a statue of Visnu, a few tombs bearing inscriptions in Arabic. In the 13th century, Marco Polo arrived in Quanzhou, which he considered the biggest commercial port of that age. In 580, the venerable Buddhist priest Vinitaruci came to Vietnam by sea. The Chinese venerable Fa Hien came from India to China also by sea. Since the 13th century, Arab traders sailed to and fro on the Bien Dong and controlled a network of commercial representative offices from India to Quanzhou via Malacca.

The Portuguese were the first Europeans who came to East Asia and SEA: In 1505, they arrived in Malacca, in 1510, in Goa (India). They were Portuguese, but they flew the flags of the Spanish king. Magellan circumnavigated the globe and occupied the Philippines in 1521. Later, the Spanish installed a colony there in 1527. In spite of the proximity of this archipelago to the Spratly, the Spanish did not occupy any of its islands or shoals. Over many subsequent centuries, the Chinese had to cope with ethnic peoples of the West and the North, therefore their policy was essentially continental. But since the withdrawal to Hangzhou, the Southern Song could control the coastal region and the Yangzi and ever since they implemented a maritime policy. Under the Ming, emperor Young Le hastily built big boats, called bao chuan (treasure ships) and had the great eunuch Zheng He conduct an extremely strong fleet composed of 300 vessels (including 60 bao chuan) and nearly 30,000 men to SEA, the Indian Ocean, and the African coasts.

These were the seven voyages in the Southern seas carried out by Zheng He over 28 years. Crossing the Bien Dong in the course of nearly 30 years, sometimes passing by the Paracels, Zheng He did not occupy any island or shoal of the Paracels or the Spratly, leaving no trace there. Succeeding the Ming, the Qing pursued at first the policy of haifang (coastal defense) aiming at defending the coasts and the rivers. In the middle of the 19th century, after being defeated in the opium war, they thought to build a modern navy with Europeans as
instructors. This policy did not realize its power in time to resist the fleets of Western countries and that of Japan. So, unable to defend themselves on land and having no large vessels, how could they venture into the Biển Đông to lay hold of new lands?

The Dai Viet (ancient name of Vietnam) was a small country spreading along the coast of the Biển Đông. But as early as its creation, it was already a maritime country. War junks engraved on the bronze drums discovered in many parts of Vietnam show that in ancient times, the Vietnamese people already set great store by maritime navigation and reinforcement of naval forces. In the 17th century, the navy of the Nguyen seigneurs twice vanquished the warships of the Dutch. In the 18th century, the fleet of the Tây Sơn destroyed the fleet of Siam at Rạch Gầm- Xoài Mút. During that time, the navy of Cochinchina was provided with ships armed with howitzers and artillery guns.

Faced with the vital necessity of expanding their land, the Nguyễn seigneurs not only continued their march southward, but also made voyages on the high seas to occupy and exploit the islands of Hoàng Sa (i.e. the two archipelagoes). With the available documents, we can affirm that, at least, since around the 17th century, the Vietnamese feudal state had discovered and occupied the Hoang Sa (name of the Hoàng Sa and Trường Sa archipelagoes at that time) which did not belong to any state.

II. THE NGUYEN SEIGNEURS PERFORMED THEIR STATE FUNCTIONS OVER THE HOANG SA

At the beginning, the Vietnamese gave to the newly discovered islands the name in Nôm (demotic characters): Bãi Cát Vàng. The name Cát Vàng was marked on the map of Đỗ Bá Công Đạo. The Englishman Gutzlaff, in an article - "Geography of Cochinchina" -inserted in the review Geographical Society of London of 1849 also calls it Katvang(5).

In an article about Vietnam (Memoir on the Geography of Cochichina) published in the Journal of the Asiatic Society of Bengal, September 1837, bishop J.L.Taberd used the name Catvang (6). Dubois de Jancigny, in his book The Universe, History and Description of All Peoples, their Religions, Customs and Habits: Japan, Indochina, Ceylon, etc. spoke of Hoang Sa under the name Katvang... It is only later that the name was sinized into Hoang Sa (which always means "yellow sand").

The Vietnamese feudal state occupied the Hoang Sa through an organization set up by the State. Therefore, it actually occupied the Hoang Sa that the Kergariou-Locmaria expedition in 1787 – 1788 described the area as composed of two different archipelagoes separated from each other by a 500 km wide channel.(7) The Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (Collection of route-maps of the Southern Country) writes:

"In the middle of the sea there is a great sand shoal called Bãi cát vàng about 400 dặm long and 20 dặm wide which spreads on the sea... Each year, the last month of winter, the Nguyen sent there 18 junks to recover the goods, thus obtaining a great quantity of gold, silver, money, arms and ammunitions"(8).

The Bãi cát vàng is drawn in front of the district of Bình Sơn of the prefecture of Quảng Nghĩa and the island Cù Lao Ré very far from the coast. Immediately after its discovery, Bãi cát vàng was merged into the territory of Đại Việt, more precisely to the prefecture of Quảng Nghĩa.

All the official works of the State written by Institute of National History speak of Hoang Sa. The Đại Nam thực lục tiền biên (1844 - Authentic writings on the Dai Nam) in the part reserved for the Nguyen seigneurs writes:

"At sea beyond the commune of An Vĩnh, district of Bình Sơn, province of Quảng Nghĩa, there are more than 130 shoals and reefs separated from one another by one day or several geng. No one knows the length is how many thousand dặm (commonly called Vạn Lý Hoàng Sa); there is fresh water and such products as the holothurians, the scaled tortoise, mother-of-pearls, plaices"(9).

The Đại Nam thực lục chính biên (1848 - Authentic writings on the Đại Nam) part reserved for the Nguyen kings writes:

"The Hoang Sa are situated in the waters of Quảng Nghĩa, where the sky and the sea intermingle, preventing the evaluation of the depth."(10)

And:

"The land of Hoang Sa belongs to our territorial sea and is of great strategic importance..."(11)

The Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (Administrative catalogue of the Dai Nam established by imperial order) written from 1834 to 1851 confirms:

"The Hoang Sa are an integral part of our territory and of a great strategic importance".(12)

The Đại Nam nhất thống chí (Geography of the unified Dai Nam) elaborated from 1865 to 1882 (revised and augmented later), is an official book of the geography of Vietnam written by order of Emperor Tự Đức. In book VI, on the province of Quảng Nghĩa, one finds:

"In the East, the sand shoal of Hoàng Sa spreads and joins the blue sea to make a rampart on the sea; in the West, innumerable rocky walls solidly protect us against the mountain tribes. In the South, in the proximity of the province of Bình Định, the side of Bến Đá constitutes a transversal fortification; in the North, adjoining the province of Quảng Nam, are passes of sandstone which can serve as borders".

"To the East of the island Ré (Ly in Sino-Vietnamese), district of Bình Sơn, are the Hoàng Sa that can be reached from Sa Kỳ coasts in 3 - 4 days and nights with a favorable wind. The archipelago comprises in all more than 130 peaks separated from one another by one day or by a few geng. In the middle of the archipelago is the shoal Hoang Sa (yellow sand) which spreads over one doesn't know how many thousand dặm, commonly called Vạn Lý Trường Sa (shoal of ten thousand miles); fresh water, sea birds in innumerable flocks, holothurians, snails, goods from the wrecked ships are found there."(13)

From the 18th to the 19th centuries, many dignitaries, including the editors and editors-in-chief of the Institute of National History of the Nguyễn dynasty wrote about the Hoang Sa. In 1776, encyclopedist Lê Quý Đôn, then Deputy-governor of Thuan Hoa, wrote in his book Phủ Biên Tạp Lục (Miscellanies on the government of the marches):

"In the offing of the island Re (three or four geng from the coast- Author) there is the Great Trường Sa which formerly gave many sea products for sale in different markets. That's why the State organized the Hoàng Sa company to gather the maritime products. It takes three days and nights to reach the Hoàng Sa, which is close to the Northern country"(14).

In 1821, Phan Huy Chú, a scholar famous for his erudition who was entrusted with important functions, especially those of an editor of the Institute of National History, wrote his voluminous Lịch Triều hiến chương loại chí (Settlements of matters by the successive dynasties). He devoted a long passage to the Hoàng Sa (physical geography, organization of the Hoàng Sa company, resources). Here is an excerpt:

"Here (i.e the prefecture of Tư Nghĩa - Author) the potential is significant; rice is abundant; gold, silver, timber, precious stones, aloes wood, benzoin are all of excellent quality; domestic elephants and horses are also numerous. Moreover, there are islands and islets where precious and strange things are found. In this land (the hamlet of An Vĩnh, district of Bình Định, later called Bình Sơn - Author) on the high sea, there are a great number of islands and islets, approximatively 130 peaks, separated one from another by one day or several geng. To go by the high seas it takes 3 days and 3 nights to reach the Hoàng Sa"(15).

In 1876, Nguyễn Thông, a dignitary to whom Emperor Tự Đức entrusted the revision of the Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (Text and comments forming the complete mirror of the history of Vietnam per order of the emperor) wrote the Việt sử cương giám khảo mục (Brief history of Vietnam) containing the following passage about the Hoàng Sa:

"Vạn Lý Trường Sa: from the island Lý (commonly called Ngoại La, and Weila by the Chinese) i.e. the island Ré, going to the East, one will arrive in three days and nights"(16). The Chinese say "to have discovered" (not in the juridical meaning) the Xisha and the Nansha and to have known of their existence. As for the Vietnamese, not only have they known of their existence but they have effectively discovered (in the juridical meaning) the Hoàng Sa and Trường Sa. Nowhere have the Chinese spoken of the occupation of the islands of the southern sea; they knew of them only, while the Vietnamese said they had occupied the Hoàng Sa and Trường Sa.

III. THE NGUYỄN SEIGNEURS ORGANIZED THE EXPLOITATION OF THE RESOURCES AND THE ADMINISTRATION OF THE ARCHIPELAGOES

Since their appointment by the King Lê as governors of the southern half of the Đại Việt, South of the Đèo Ngang pass, later called Cochinchina, the Nguyễn seigneurs governed a country which was but a coastal band, narrow and unfavourable for cultivation, including: many politically and economically precarious regions. But that country had the great advantage of having longer coasts than the North and bordering the centre of the Biển Đông, which was the platform of the route from Malacca to Canton, Taiwan, and Japan. To profit from this advantage became a state policy for the Nguyen seigneurs, which was composed of the following four points:

1. Organization of the systematic exploitation of the maritime zones.
2. Organization of the control of the sea.
3. Organization of the coastal defense.
4. Organization of the tax collection and commercial exchanges with other countries.

In the course of these activities, the South discovered the islands Cat Vang, far from the coast, which led the Nguyen seigneurs to set up a state organization in charge of their occupation and exploitation. Composed of tiny islets and coral shoals, the Hoàng Sa has few underground resources. Heated each year at least for six months by the tropical sun and suffering drought, the islands are not favourable for agricultural development. There is a layer of guano which covers the ground and constitutes an excellent manure, but before the 20th century, the Vietnamese did not know its use. Only from the second half of the 20th century were undersea mineral resources discovered, and means available to exploit them. As the Đại Nam Nhất thống chí judiciously assesses, "the country produces a lot of holothurians, tortoise shell, snails with pearl, turtles and contains the merchandise left by wrecked ships". The Nguyễn seigneurs had a form of organization for the exploitation of the riches, which consisted in creating companies commanded and managed by the government and permitted to employ specialized personnel, which, in return, received material and political interests. According to the Phu Bien tap luc, the State organized the following companies:(17)

- Company Thanh Châu specialized in the gathering of swallow nests on the islands near the port Tam Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn (prefecture of Quy Nhơn).

- Company Hải Môn specialized in the fishing of sea products and in collecting merchandise beyond the island Phu Quy. According to Lê Quý Đôn, the organization and the administration of the companies Hoàng Sa obeyed the following points:

1. The task of the company was to fish for sea products (motherof- pearls elephants, ear-snails, good-smelling snails, holothurians, tortoise-shell, tortoises...) and to gather the merchandise and objects from wrecked ships (muskets, swords, guns, gold, silver, lead, tin, ivory, porcelain, woollen cloth, cloth, wax etc.).

2. The effective was fixed to 70 men. 3. For the company Hoàng Sa, the recruitment of labour was from the inhabitants of the commune of An Vlnh on the island Re, district of Binh Sdn, by order of the inscription to the role.

4. Advantages given to the members of the company Hoàng Sa: the volunteers had the right to an award of service, to the exemption from the personal tax, corvee, tolls. Those who did not fulfil their task were submitted to punishments corresponding to the gravity of the committed fault. The fulfilment of tasks would give right to a certificate of recognition and a reward in cash. Under the Nguyen emperors, the sanctions remained the same: according to the report of the Ministry of Public Works dated the 13th day, seven month of the 18th year of Minh Mạng s reign (1837), the commander of the naval forces Phạm Văn Biên and the guides Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sinh, and the helmsman Lưu Đức Trực, in the course of a voyage to the Hoàng Sa in 1837, arrived late and, as a result, were punished by flogging. The commander of the garrison Trương Viết Soái, in the course of the voyage in 1836, did not return the maps and for that was condemned to capital punishment, under reserve of the imperial approbation.

5. The duration of the mission was one year: in the 2nd month handing over the order of service; in the 8th month, end of mission and return. The number of junks in use was 5, the supplies were prepared for 6 months.

Later on, the Nguyen seigneurs organized a new company called Bắc Hải with undetermined effectives to be recruited among the inhabitants from the village Tứ Chính, or from the village Cảnh Dương and placed under the command of the company Hoàng Sa. In view of the large area of the maritime zones of Hoàng Sa, the company Bắc Hải was entrusted with the task of operating from the Trường Sa to Poulo Condore and to Hà Tiên. The results obtained by the companies depended on the companies themselves. In general, the products of fishing were up to the norms, but the quantity of merchandise or objects gathered was different each year. In his capacity of Deputy governor, Lê Quý Đôn himself made an enquiry:

"I (i.e Lê Quý Đôn - Author) have examined in person the registers of the Cai Đội Thuyên Đức Hầu and found the following: The year Nhâm Ngọ (1702) the company Hoàng Sa found 30 silver bullions. The year Giáp Thân (1704) 5,100 cân of tin. The year Ất Dậu (1705) 126 silver bullions. ừrom the year Kỷ Sửu (1709) to the year Quý Tỵ (1713), i.e. in five years, the company gathered several cân of tortoise-shell and holothurians. Sometimes only a few tins of salmon, a few bakedearth bowls and two bronze guns were found"(18).

IV. THE NGUYỄN EMPERORS CONSOLIDATED THE SOVEREIGNTY OVER THE TWO ARCHIPELAGOES

After the 1771 insurrection, the Tây Sơn became the rulers of Cochinchina and founded a new dynasty. They attached increasing importance to the development of the navy and the exploitation of the country s maritime position. They maintained the activities of the company Hoang Sa. After overthrowing the Tây Sơn with the assistance of France, Gia Long assumed the throne and ushered in the era of the Nguyễn dynasty. He began the reconstruction of the devastated country by the struggle between the Trịnh and the Nguyễn. At first, he suspended the activities of the company Hoàng Sa to resume them some time later. At least until the reign of Tự Đức, the members of the company Hoàng Sa were glorified as heroes, as evidenced by the funeral oration pronounced at the commemorative ceremony in their honour in their native country.

From 1805 on, Gia Long implemented all over the country a plan aimed at making the inventory of all the lands of each province, each district, and each commune in accordance with common instructions. This plan was continued by Emperor Minh Mạng and completed in 1836, with the achievement of the Địa bạ Gia Long (Gia Long land register).


It is precisely in the framework of this plan that the maintenance of the company Hoang Sa and its activities were carried out for exploitation purposes and for the topographic measurings of the Hoàng Sa.

J.B.Chaigneau, counsellor of Emperor Gia Long, with the Vietnamese name Nguyễn Văn Thăng, writes in his memoirs:

"Cochinchina, the sovereign of which has today the title of Emperor, is composed of Cochinchina proper, Tonquin, a part of the kingdom of Cambodia, some uninhabited islands not far from the coast and the Paracels archipelago, composed of uninhabited reefs and rocks. It is only in 1816 that the present Emperor took possession of this archipelago".(19)

In fact, the Emperor Gia Long did not go to the Hoàng Sa in person, but he sent Phạm Quang Ảnh there. "In the first month of the year Ất Hợi (1815), the King ordered Phạm Quang Ảnh of the company Hoàng Sa to go to the Hoàng Sa to study and to measure the maritime routes..."(20).

"In the year Bính Tý, the 15th year of the reign of Gia Long (1816), the King ordered the navy and the company Hoàng Sa to go in junks to the Hoàng Sa to study and to measure the maritime routes..."(21).

The first kings of the Nguyễn dynasty mobilized the company Hoàng Sa to exploit the islands and the shoals of Hoàng Sa, and at the same time, to reconnoitre, measure the islands and the shoals of the archipelago, and to draw its map.

To consolidate sovereignty

The Đại Nam Thực Lục chính biên writes:

"In the eighth month, in autumn, of the year Quý Tỵ, the 14th year of the reign of Minh Mạng (1833)".

"... the King told the Ministry of Public Works: On the Hoàng Sa in the waters of Quảng Nghĩa, in the distance, one can see the sky and the sea join in the same colour, which makes it difficult to estimate the depth of the sea. Recently, commercial vessels sunk there. We have to prepare junks and send our men there next year to build a temple, to erect a stele, and to plant many trees. In the future, the trees will grow and their greenery will help people recognize more easily the islands and the shoals to avoid being wrecked. It s a good work that will last a long time" (22).

- "In the sixth month, in summer, of the year Ất Mùi, 16th year of the reign of Minh Mạng "(1835).

- ...last year, the King had the intention of building a temple and of erecting a stele in this place (the Hoàng Sa - Author), but the works were prevented by storms. Order is given now to the Cai Đội of the navy, Phạm Văn Nguyên, to dispatch his men there and to the commander of the garrison, the workers of the provinces of Quảng Nghĩa and Bình Định to ensure the transport of materials for the construction of the temple (7 trượng distant from the old temple). To the left of the temple will be erected a stone stele, in front of the temple a windshield. The works must be completed in 10 days and the men must return"(23). Regarding the construction of the temple, the Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ gives the following facts":

"The 16th year of the reign of Minh Mạng (1835), it is respectfully demanded to the King to authorize the construction of a one-room temple in Hoàng Sa (according to the regulations concerning stone houses) to the southwest of the Bach Sa dune, with a stone stele on the left (1 thước 5 tấc high, 1 thước 2 tấc wide). In front, a stone wall will serve as a windshield, on the right and on the left, trees of different species will be planted"(24)

To actively execute topographic measures of the islands and the shoals and to measure the maritime routes. In the cadastral plan of all the country, King Minh Mạng paid attention to the acceleration of the works on land and to the topographic reconnaissance of the islands in the Hoàng Sa. According to the Đại Nam thực lục chính biên, King Minh Mạng gave general and specific instructions to the Company Hoàng Sa:

"The year Bính Thân , 17th year of the reign of Minh Mạng (1836), the Ministry of Public Works reported: the land of Hoàng Sa belongs to our territorial sea and is of great strategic importance...We have sent our men there to draw maps, but in view of the large area of the sea and of its distance, we have managed to carry it out in one place and we don t know how to continue the work. Each year it is a custom to send our men there to reconnoitre and to accustom ourselves to the maritime routes. From this year on, at the end of each first month, men of the navy, of the coast guard, and of the garrison will be sent on board a large junk to arrive at the beginning of the second month in Quảng Nghĩa, and the two provinces of Quảng Nghĩa and Bình Định will be authorized to hire junks from privates who will serve at the same time as guides in the voyage to the Hoàng Sa. When the junks arrive at an island or a shoal, no matter which one, they will from that point measure the length, the width, the height, the area, the perimeter of that island or shoal, the depth of the surrounding waters, find out the submerged shoals, reefs, if any, specify whether the approach is dangerous or normal, examine well the terrain, measure and draw a sketch. Moreover, considering the day and the port of departure and marking the route and the direction followed to arrive at a given point, they must estimate in dặm the length of that route and locate this point in regard to the coast by specifying the province and the district in front, the approximative distance in regard to the coast in dặm. All this must be mentioned and reported upon the return. The King approved the report and gave order to the Suất Đội of the navy, Phạm Hữu Nhật, to lead the fleet and to prepare 10 wooden posts to mark the visited places (each post is 5 thước long, 5 tấc wide, and 1 tấc thick). Each post bears the following inscription engraved on one of its faces: the Chánh Đội trưởng Suất Đội
Phạm Hữu Nhật of the navy has come here to the Hoang Sa for reconnaissance and topographical measures and leaves this witness-post to mark the fact"(25).

To fulfil international obligations

As said above, in the capacity of the sovereign of Hoàng Sa, in 1833, King Minh Mạng, anxious of their low height in regard to sea level, and of the confusion of the sea and the sky, ordered the Ministry of Public Works to plant a great number of trees, which, when taller, would facilitate the recognition of the coast of the islands and the shoals, and would allow the avoidance of ship wrecks. It was an act evidently inspired by the sense of guaranteeing the security of international navigation in territorial waters. Long before that, the Nguyễn seigneurs had given assistance to the wrecked ships in the vicinity of the Paracels. At least two instances can be recalled. The first case is that of the Dutch ship Gootebrok, wrecked in 1634 in the sea of the Paracels. The second is that of three Dutch sailed ships coining back from Japan and going to Batavia in 1714:

near the Paracels, they were surprised by a tempest. Two of them were able to avoid danger, the third was wrecked. The survivors, after taking refuge on the islands, found a way to get to Nha Trang (Cochinchina). They were all received by seigneur Nguyễn, who offered them money and rice to continue their way. These cases of rescuing wrecked ships are evidently cases of rescue by a riparian country in its territorial waters, aren't they?

V. ATTITUDE OF OTHER STATES VIS-A-VIS THE SOVEREIGNTY OF THE DAI VIET OVER THE HOANG SA

On the basis of the available documents, since the 17th century, the Đại Việt had occupied and administered the Hoàng Sa - i.e. the Paracels and Spratly archipelagoes. It was at time when not only the neighbouring countries, such as China, the Philippines, and Malaysia, but other Western powers in quest of new lands and new markets, such as Portugal, Spain, and Holland were also concerned. At that moment of history, Spain was the ruler of the Philippines; however, the Spanish were not opposed to the occupation of the archipelagoes by the Đại Việt and did not occupy any islands themselves.

Portugal had made Macao, which it occupied in 1550, an important commercial port. The first European who came to the Dai Viet was a Portuguese. The Portuguese policy at that time aimed at maintaining friendly cooperative relations with the Nguyễn seigneurs. Far from opposing the administration of the Hoàng Sa by the Đại Việt, Portugal helped the Nguyễn seigneurs in the manufacture and purchase of guns.
.
The Netherlands had two skirmishes on the sea with Cochinchina, not because of the Hoàng Sa, but because of its attempts to contact the Trịnh in the North. China deserves to be treated separately. If one thinks of the mass of historical writings related or unrelated to the Xisha and the Nansha published by Peking in increasing number each day, one would think that imperial China would have been the country that was opposed in the strongest way and most frequently to the occupation and the administration of the Hoàng Sa by the Đại Việt; but the unquestionable fact is that until the end of the 19th century, not only for nearly three centuries, China had not raised any protest against the Vietnamese authorities. The reason is simple: the Hoàng Sa did not belong to the territory of the Quing as the books, the manuals of geography and the Chinese maps show the Southern extremity of China being the island of Hainan. The Chinese authorities, as well the Chinese navigators and businessmen
who had passed by the Biển Đông and Vietnam, made no statements on this question. The tacit acknowledgement of the sovereignty of the Đai Việt by China continued for a long period. The Vice-governor of Thuận Hóa, Lê Quý Đôn, wrote in his Phủ biên tạp lục:

"The shoals of Hoàng Sa are in the proximity of Lianzhou, island of Hainan. Fishermen of our country sometimes met the fishing junks of the men of the North (the Chinese - Author) on the sea. On the high seas, people of the two countries asked one another about their activities. I myself saw a note which the Mandarin-Chief of the district of Wonchang of Qiongzhou addressed to the prefecture of Thuận Hóa in which he said: "In the 18th year of reign of Qianlong, ten military men native of the commune of An Vĩnh, company Cát Liêm, district of Chương Nghĩa of Annam, one day in the 7th month, arrived in Wanlichangsha for fishing and gathering merchandise. Eight of them set foot on land, leaving the two others to guard the junk. The mooring rope was broken by the wind, the junk was pushed by the waves as far as the port of Quang Lan, where the local authorities could verify the facts and sent these men to their native country. Seigneur Nguyễn Phúc Chu (rather Nguyễn Phúc Khoát mistakenly written Nguyễn Phúc Chu because the latter had died by that date - Author) ordered the Cai Bạ of Thuận Hóa, Thức Lượng Hầu, to make a note in answer"(26). When China has no valuable writings to defend its right of sovereignty over the Xisha and the Nansha, can it use its right of "suzerain" vis-a-vis its "vassal Đại Việt" to pretend that the latter had occupied them on their behalf?

We are facing a complex legal question. It is true that previously the kings of Đại Việt received the investiture of the Chinese Court to which it had to pay tribute. Deveria, in his book Histoire des relations de la Chine avec l'Annam du XIIIe au XIXe siècle writes:

"The word FAN which I translate by vassal has the literal meaning of borderland, a hedge in the sense of immediate neighbouring country and at the same time hedge of China. Combined with the word THAN it means "the protector of the throne" and the "defender of frontiers". Under the Northern Song, this title was given to certain dignitaries near the frontiers who enhanced the honour of China, which considered them its subjects, in spite on this fact"(27). The regime of vassality, essentially applied in the Ottoman empire, is a precedent of protectorate. It brought about two kinds of obligations: those of the vassal state (financial tribute and military assistance to the suzerain state), and those of the suzerain state (military aid) to the vassal state. The Chinese emperor invested the kings of Đại Việt without being obliged to defend their country militarily in case of aggression. The kings of Đại Việt paid tribute to China without being obliged to pay a financial tribute or to offer military assistance. Internally, as well as externally, the Vietnamese kings had the right to act without having to first consult the Chinese Court (for instance at the signing of treaties with France in the 19th century). The fact of accepting the investiture can be seen as an alignment, an acceptance of ideology, of the culture of China, as today one stands in "the free world" or "the socialist world". With such a distinction between the notion of hedge-country and vassal country, it is evident that China has no right of "suzerainty" over Vietnam. Moreover, this little influence of the Celestial Court which would have subsisted was wiped out by the annexation of Vietnam by France in the 19th century.

The treaty of Peace and Alliance concluded between France and Vietnam of 15 March 1874 explicitly states:

"Article 2. H. E. the President of the French Republic, recognizing the sovereignty of the King of Annam and his complete independence vis-a-vis any foreign power, whatever this power may be, promises to grant aid and assistance and undertakes to give, upon its demand and without repayment, necessary support to maintain order and tranquillity in its State to defend it against any attack and to destroy the piracy which afflicts parts of the coasts of the kingdom".

"Article 3: Recognizing this protection, H.M. the King of Annam undertakes to pursue a foreign policy conforming to that of France and to change nothing of his present diplomatic relations".

The Peace Treaty concluded in Hue on 25 August 1883 stipulates: "Article first: Annam recognizes and accepts the protectorate of France, with the consequences of this mode of relations from the point of view of diplomatic law of Europe, that is to say France will preside over the relations of a l l foreign powers, including China, with the government of Annam, which can diplomatically communicate with the said powers, only through the intermediary of France". In the preliminary Convention of Tientsin on 11 May 1884, China undertakes:

"2. To respect at present and in the future, the treaties directly concluded or will be concluded between France and the Court of Hue" (Article 2).

In the Treaty concluded in Huế on 6 June 1884 between France and Annam, it is stipulated that:

"Article first: Annam recognizes and accepts the protectorate of Prance.

France will represent Annam in all its external relations. The Annamites in foreign countries will be placed under the protection of France".

Thus, what remained of the influence of China on Annam ended with the conclusion of diplomatic acts between France and Annam and between France and China itself. The government of the Qing itself undertook to respect all treaties reached or will be reached between France and Annam.

VI. THE SITUATION UNTIL THE END OF THE 19TH CENTURY

The situation can be summed up as follows:

- Until the signature in 1884 of the Treaty of protectorate by France and Vietnam, the latter had occupied the Hoàng Sa and Trường Sa archipelagoes without meeting the opposition of any power whatsoever. Max Huber said of the Palmas island: "The territorial sovereignty implies the exclusive right to exercise the State activities"(28). The sovereignty of Vietnam over the Hoàng Sa and the Trường Sa is unquestionable.

- It is important to affirm that the company Hoàng Sa exploited and managed the two archipelagoes. It is possible that the exploitation and the management of the Hoàng Sa archipelago was easier, the said archipelago being nearer the bases of departure of Đại Chiêm and the Sa Kỳ. The maritime zone of the Trường Sa being larger than of the Hoàng Sa (160,000 - 180,000 km2), the authorities had to create a second company called Bắc Hải belonging to the company Hoàng Sa, but in charge of the operation in the southern part and the region of Poulo Condore, which remains until now the traditional fishing zone of the inhabitants of the province Bình Thuận.


(Excerpt from LƯU VĂN LỢI book entitled“THE SINO-VIETNAMESE DIFFERENCE ON THE HOÀNG SA AND TRƯỜNG SA ARCHIPELAGOES” Chapters III, THẾ GIỚI PUBLISHERS,HANOI — 1996)

Tuesday, May 03, 2011

Cất Quyền Giám Mục

Sáng nay trong bản tin VIS nhận được qua email, đọc thấy một mẫu tin ngắn gọn "The Holy Father removed Bishop William M. Morris from the pastoral care of the diocese of Toowoomba, Australia."(Xem http://visnews-en.blogspot.com/2011/05/other-pontifical-acts.html) Đây là một tin đặc biệt, hiếm có.

Thưòng thưòng các thông báo về các bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng dưới mục Other Pontifical Acts là việc nâng lên hàng giám mục, bổ nhiệm giám mục chánh toà, tổng giám mục, hay chấp thuận cho từ nhiệm hay nghĩ hưu.

Lần đầu tiên biết đến bản tin thuộc dạng "removed Bishop X from the pastoral care of the diocese of Y" vào cuối tháng Ba (http://visnews-en.blogspot.com/2011/03/other-pontifical-acts_31.html). Rất ngạc nhiên. Tìm tòi lục lạo trên web, mới hiểu ra giám mục Bishop Jean-Claude Makaya Loemba bị cất quyền cai quản địa phận Pointe-Noire không phải vì lý do đạo đức mà là do quản trị quá yếu kém gây hậu quả nghiêm trọng (Xem http://www.catholicnewsagency.com/news/congo-bishop-reportedly-removed-by-pope-for-serious-mismanagement/)

Lần này vị giám mục ở nước Úc bị Đức Thánh Cha cất quyền cai trị địa phận vì những tuyên bố nghịch lại giáo huấn của Hội Thánh.

Tự nhiên, liên tưởng đến một ngày nào đọc thăy tin "Đức Thánh Cha thuyên chuyển giám mục X khỏi trách nhiệm cai quản địa phận Y, Việt Nam".

Phải chăng quyết định cứng rắn của Toà Thánh trong hai tháng gần đây đã làm Tổng Giám Mục thành phố Sài Gòn suy nghĩ lại và thuyên chuyễn linh mục Phan Khắc Từ ra khỏi giáo xứ Vườn Xoài (Xem http://danchuausa.net/giao-hoi-viet-nam/giao-xu-vuon-xoai-thuoc-tgp-sai-gon-co-tan-chanh-xu/)

Wednesday, April 27, 2011

Phải Lên Tiếng

Nhạc: Lê Minh Bằng.

Trường sa là máu của ta. Hoàng sa là thịt của ta. Đất nước ta là xương là máu ông cha để lại. Quân bành trướng đừng mong xâm lấn. Kia còn bao mồ chôn quân Tống. Hỏi quân thù, hỏi quân thù còn nhớ hay không? Việt Nam nòi giống Lạc Long. Cùng nhau thề nguyền đồng tâm. Quyết đứng lên dựng xây Tổ Quớc thân yêu trường tồn. Không để đất vào tay quân cướp. Dân tộc ta vùng lên anh dũng. Sống oai hùng, sống kiên cường đòi lại biển Đông. Đừng im tiếng mà phải lên tiếng. Khi quân thù vào cướp quê hương. Đoàn kết lại tiêu diệt bá quyền thâm độc vô biên. Đừng im tiếng mà phải lên tiếng. Khi quân thù giết hại dân ta. Giòng máu Việt đã đổ chan hòa trên biển nước ta. Trường Sa. Hoàng sa. Là đất nước... Việt... của ta.

Saturday, March 05, 2011

Về Việt Nam Hưởng Già

Nhứng năm trước, tôi từng nghĩ tôi sẽ về quê, về Việt Nam an hưởng
tuổi già. Đọc bài báo VN Express: "Sống ở Việt Nam bằng tiền lương hưu
từ Mỹ" (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/2011/02/song-o-viet-nam-bang-tien-luong-huu-tu-my/
) thấy mà ham.

Nhưng. Tại sao nhỏ bạn học mình lại chạy qua Mỹ dọn bải đáp cho tuổi
già, còn mình lại về quê?

Lại nửa, tôi có cái tật hay phê bình và chửi các nhà lãnh đạo, từ nghị
viên, thị trưởng thành phố lên tới tổng thống. Trước đây ở Việt Nam,
tôi chửi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ủng hộ Phong Trào Nhân Dân Chống
Tham Nhũng. Báo chí VN lúc đó gọi tổng thống Thiệu là Tám Thẹo. Qua Mỹ
tôi tha hồ phê bình, chỉ trích các tổng thống Mỹ đưong nhiệm Bill
Clinton, Obama. Vậy, nếu tôi về Việt Nam để nghỉ hưu, liệu tôi có thể
phê bình tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết, và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thoải mái không? có vi phạm pháp
luật của nhà nưóc XHCN hay không ?

Wednesday, February 23, 2011

Bình luận về bài báo của Tuần Việt Nam: Sự thật về sự kiện Hoàng Sa 1974

Qua bài báo của Tuần Việt Nam "Sự thật về sự kiện Hoàng Sa 1974"
(http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-02-22-su-that-ve-su-kien-hoang-sa-1974), báo chí của nhà nước CHXHCNVN không còn gọi chính quyền VNCH là "ngụy quyền" Sài Gòn như trước đây. Đó là điểm tiến bộ thứ nhất. Điểm tiến bộ thứ hai là bây giờ mới nói lên một sự thật. Dù muộn màng nhưng vẩn còn hơn không.

Trích đoạn từ Tuần Việt Nam:

Trận hải chiến sinh tử tháng 1/1974

Bất chấp thực tế chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc đã tiến hành cuộc xâm lược quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 khi nó đang được quản lý bởi Chính quyền Sài Gòn.

Từ đầu tháng 1/1974, Hải quân Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động khiêu khích quân đội của Chính quyền Sài Gòn đang đồn trú, thực hiện sự quản lý trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 11-1-1974 khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đang được chính quyền Sài Gòn quản lý, là một phần lãnh thổ của họ. Ngay sau tuyên bố nói trên, hải quân Trung Quốc đã mở màn chiến dịch xâm chiếm Hoàng Sa bằng cách tung nhiều chiến hạm và tàu đánh cá vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa.

Ngày 12-1-1974, ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động gây hấn của Trung Quốc

Ngày 16/1/1974, Chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên bố với những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo. Đồng thời Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đã đưa bốn chiến hạm ra vùng biển Hoàng Sa để ngăn chặn các hoạt động vi phạm chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa của lực lượng vũ trang Trung Quốc nhưng với thái độ ôn hoà, kiềm chế.

Ngày 18/01/1974, Trung Quốc tăng viện thêm quân, chiến hạm tới quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 19/01/1974, Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà đã có trận hải chiến ở khu vực đảo Quang Hoà.

Ông Lữ Công Bảy, người đã có mặt trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 35 năm trước trong vai trò là thượng sĩ giám lộ trên chiến hạm HQ-4 hồi tưởng lại: "Đúng 8g30, phía Trung Quốc nổ súng trước. Một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.

Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra lệnh "bắn". Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa.

Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy, văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng lên đài chỉ huy.

Trong bộ đàm tôi đã nghe tiếng bạn tôi, trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, hạm phó Thành Trí trọng thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị tử thương và bị thương rất nặng" (Trích Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau: 30 phút và 35 năm - Nguồn: Tuổi Trẻ).

Trận hải chiến chỉ diễn ra trong vòng 30 phút. 74 binh sỹ Việt Nam Cộng hòa đã hi sinh.

Ngày 20/01/1974, Trung Quốc đã điều động thêm máy bay oanh tạc các đảo VNCH đóng giữ. Tính đến thượng tuần tháng 02/1974, Trung Quốc đã tạm chiếm quần đảo Hoàng Sa và thiết lập căn cứ quân sự tại đây.

Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa do VN quản lý, ngày 19-1-1974 và 14-2-1974 chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên cáo về việc Trung Quốc "xâm lăng trắng trợn bằng quân sự" và tái khẳng định về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.

Ngày 20-1-1974, ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn cũng đã gọi điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa.

Wednesday, February 02, 2011

Tôi Đi Tìm Lại Một Mùa Xuân

Sáng tác: Đoàn Nguyên

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Mùa xuân xưa cũ qua mất rồi
Mùa xuân đã rơi vào dĩ vãng
Mà xuân nay vẫn còn dư hương

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Gặp nhau khi pháo vang cuối đường
Tay khép áo xanh nhìn không nói
Lạc hồn về cõi tiên nào đây

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Sợ khi tan biến bao kỷ niệm
Sợ áo xanh phai màu năm tháng
Sợ xuân chưa hết mà đông sang

Nên tôi tìm lại một mùa xuân
Người xưa không biết lạc phương nào
Không biết khi xuân về trên áo
Màu xanh năm đó còn xanh không

Ngày xanh niên thiếu qua mất rồi
Khi cuối thu mùa đông vẫn rơi
Khi áo xanh đã vượt sông dài
Khi pháo rơi dưới thuyền hoa rồi
Còn xuân này thương nhớ khôn nguôi

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Dù không mong đến chuyện tương phùng
Dù tháng năm trôi vào xa vắng
Và xuân nay khác biệt xuân xưa

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Mùa xuân năm đó chưa thấy lại
Tôi vẫn đi trong chiều xuân tái
Tìm để mà tìm như thế thôi

Saturday, January 29, 2011

Xuân này con không về

Nhạc sĩ: Trịnh Lâm Ngân (Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân)

1.
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa

Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi
Bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng
Trông bánh chưng ngồi chờ sáng
Đỏ hây hây những đôi má đào

[ĐK]:
Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm
Mái tranh nghèo không người sửa sang
Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân

Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai
Sẽ đem về cho tà áo mới
Ba ngày xuân đi khoe phố phường

2.
Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
Không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà

Mẹ thương con xin đợi ngày mai...



Friday, November 19, 2010

Chán

Mở email ra, thấy cái thư của ông hiệu trưởng trường đại học của mấy đứa con thông báo về việc tăng tiền học phí lên 8%. Đóng thêm 822 đô cho một sinh viên. Hai đứa 1,6000 đô. Chán.

Lương không tăng, tiền học cứ tăng đều đều. Hai mươi năm trước, học phí ở Viện Đại Học California (University of California) khoảng hơn hai ngàn đô. Bây giờ, hơn 11 ngàn đô. Trường công lên học phí nhanh hơn trường tư. Nếu tư nhân hoá, không bao cấp nửa,hệ thống UC, đặc biệt hai trường UC Berkeley và UCLA, mình lại càng thê thảm hơn.

Mà nếu bỏ việc để đủ điều kiện hưởng sự trợ cấp của trường,tiền đâu để sống, để ăn, để con mình tiếp tục học. Xin được vài ngàn, kiếm đâu ra chục ngàn cho con ăn học.

Đã quá già để nhảy job, kiếm thêm chút đỉnh.

Đã quá già, để đủ sức chấp nhận rủi ro, mất mác, để đi buôn.

Đã quá trể, để ở lại bon chen làm "quan" như mấy tên bạn học ngày xưa hiện nay. Nói cho vui, chứ "không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Chán.

Thursday, October 14, 2010

Trò chuyện với Lê Thị Ý: Tác giả ‘Ngày Mai Ði Nhận Xác Chồng’

Thực hiện: Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt

Nhà thơ Lê Thị Ý.
(Hình: trích từ tác phẩm Tuyển tập thơ-văn "Quê Hương và Kỷ Niệm")

Cuối thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc "Tưởng Như Còn Người Yêu" do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý gây xúc động lớn lao cho người nghe.

Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954.

Nhân dịp từ Virginia đến California ra mắt tác phẩm mới tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, bà đã dành cho biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái cuộc nói chuyện thân mật sau đây.

-ÐQAThái: Tình khúc "Tưởng Như Còn Người Yêu", thơ của bà, Phạm Duy phổ nhạc; tựa đề khởi thủy của bài thơ là gì ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc bấy giờ vào năm 1970, tôi viết 10 bài thơ trong tập thơ "Mười Bài Thương Ca"; bài mà Phạm Duy phổ thành ca khúc là "Thương Ca 1".

-ÐQAThái: Phải chăng chính bà là người góa phụ đi nhận xác chồng trong bài thơ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: (cười thoải mái) Không. Cho tới bây giờ tôi vẫn độc thân.

-ÐQAThái: Vậy, bà lấy cảm xúc từ đâu để viết nên bài thơ bất hủ này?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.

-ÐQAThái: Bài "Thương Ca 1", Phạm Duy phổ nhạc, ngay khi được phổ biến, đã chiếm tâm hồn người nghe. Nhưng cũng có người lên án bài này "phản chiến"; bà nghĩ sao ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi tôi làm thơ, tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên.

Một người bạn của anh Vương Ðức Lệ tôi đến nhà chơi, thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh - người trụ trì sinh hoạt "Ðàm Trường Viễn Kiến" ở nhà cụ tại Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo - Cụ Quỳnh đọc, thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên, bài thơ của tôi được mọi người thương hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi, may mắn thôi, chứ tôi không chủ ý trước việc phổ biến bài thơ.

-ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, "Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng" thì Phạm Duy sửa thành "Bây giờ anh phủ mầu cờ" và cắt đi câu thơ kế tiếp.

-ÐQAThái: "Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng", tại sao lại phũ phàng ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.

-ÐQAThái: Khi nhạc sĩ Phạm Duy đổi chữ và cắt bớt câu thơ như vậy, là tác giả, bà có thấy mất đi nguyên ý khi cảm xúc sáng tác không?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi không nghĩ gì và cũng không thắc mắc, không để
ý chuyện đó, vì khi tôi làm thơ, tôi theo vần điệu của thơ, còn ông Phạm Duy làm nhạc thì ông cảm hứng theo nốt nhạc.

-ÐQAThái: Hỏi câu này bà thứ lỗi cho, bà có người yêu là lính không?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: (ngập ngừng..., cười) Chắc cũng phải có chứ ạ!

-ÐQAThái: Bài thơ "Thương Ca 1" do bà sáng tác và Phạm Duy phổ nhạc, đã từ lâu trở thành của quần chúng. Nghĩa là, người ta hát say sưa mà không còn nhớ tới tên tác giả. Nếu tình cờ, ở một nơi chốn nào đó, bỗng nhiên nghe có người hát, có người nói tới bài thơ này, tâm trạng của bà sẽ ra sao?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi vui chứ ạ. Vì tôi thấy tôi may mắn có người biết đến thơ của mình; mà thực sự khi làm thơ, tôi làm vì tôi thấy cần làm thôi, chứ không mang ước vọng có con mắt nào đó để ý đến thơ mình (cười).

-ÐQAThái: Bà có thể đọc cho nghe nguyên văn bài "Thương Ca 1".

-Nhà thơ Lê Thị Ý:
"Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai."

-ÐQAThái: Nếu dùng thơ để kết thúc cuộc phỏng vấn này, bà sẽ chọn những câu thơ nào?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi muốn dùng hai câu thơ cuối của bài "Thương Ca 1" là "Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai", để nói lên tâm trạng người góa phụ trong chiến tranh, trong nỗi đau tận cùng, cảm xúc như mình vẫn còn người mình yêu.

-ÐQAThái: Cám ơn bà đã nhắc nhớ lại một bài thơ bất hủ nói lên nỗi đau của con người và đất nước Việt Nam thời còn chinh chiến.

Monday, October 04, 2010

Gởi Ban Biên Tập trang web Nữ Vương Công Lý (NVCL)

Cách đây mấy hôm, nhân đọc bài bình luân của NVCL “Ngôi nhà TGP TP. Hồ Chí Minh của giáo hội hay cơ quan của đảng, nhà nước XHCN?” tôi có ý kiến như sau:

http://tgp-tphcm.cesti.gov.vn/ chỉ là địa chỉ internet (URL) chứ không phải tên miền (Domain). cesti.gov.vn là tên miền của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Thành phố Sài Gòn. Phần đầu tgp-tphcm là host name. Nếu ngưòi ta đặt một cái địa chĩ thí dụ như http://nuvuongcongly.cesti.gov.vn/ hay http://nuvuongcongly.chinhphu.vn/ chỉ về địa chỉ 66.147.240.196 hay http://www.nuvuongcongly.net/, vậy thì Nữ Vương Công Lý là cơ quan nhà nước à?

Hôm sau tôi vào xem lại, biến mất.

Thôi được, cứ cho là vì lý do kỷ thuật nên ý kiến của mình bị xoá nhầm. Mình đăng lại.

Hôm nay, tôi vào xem NVCL: không đăng. Không đăng là vì tôi:

1. Không viết dấu tiếng Việt theo quy định?
2. Ngôn ngữ khiếm nhã với các hàng giáo sĩ, hồng y, giám mục, linh mục trong Giáo Hội?
3. Không đúng ý của nhóm chủ trưong NVCL

Trang mạng NVCL là một trang mạng tôi ưa thích, thường xuyên theo dõi. Là một ngưòi ham đọc và tương đối thoáng, tôi thường thích đọc nhũng thông tin đa phương để rút ra cho chính mình một bài học, một suy nghĩ độc lập. Với nhũng tiêu cực trong Giáo Hội chúng ta noi gương Chúa Giêsu:
Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ, và bảo những người bán chim câu rằng: “Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”. (Gioan 2, 14-16)

nhưng không có nghĩa là vì quá nhiệt thành cộng với sự thiếu hiểu biết mà chúng ta trở thành lạc giáo.

Đây không phải là lần thứ nhất tôi bị xoá bài. Tôi bị xoá ít nhất hai lần. Một lần tôi góp ý về với một đọc giả nào đó trên trang NVCL “đòi phải cho giáo dân góp ý kiến trong việc chọn giám mục”, tôi nêu ý kiến kèm theo các dẩn chứng các chọn giám mục chung ở khắp nơi trên hoàn vũ như ở Hoa Kỳ, Canada… Ý kiến của tôi bị xoá. Lần thứ hai, góp ý về “Thư của Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam nhân dịp Năm Thánh 2010″: Xoá. Rút kinh nghiệm tôi viết riêng ra ở trang blog của tôi. Lần này tôi cẩn thận chụp hình (screen shot)

Nhưng thôi, trang web của quý vị. Quí vị muốn làm gì thì làm. Cho đăng, tốt. Không cho, xoá bài cũng chả sao. Tôi không cần XIN để đươc CHO. Mình có trang blog riêng của mình cũng như nhiều diễn đàn và trang web khác để phát biểu ý kiến của mình.

Thân ái trong Đức Kitô
FreeVN