Thursday, July 13, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 15


– 15-

Không biết giờ này là giờ nào nữa nhưng nghe có tiếng gà cục tác. Trong mấy chú gà còn bị giam lại có cả một chú gà trống mới tập gáy như con trai mới bể tiếng. Nó kêu te te chứ chưa thành tiếng gáy. Vậy mà tôi nghe cũng vui, tưởng như mình ở giữa thôn xóm quê hương.

Bất giác tôi nhớ tới anh bệnh binh khi chiều. Nếu còn sống thì hắn ta đang ngủ hay thức? Nếu đang thức thì hắn ta nghĩ gì, ao ước gì? Có cái quân đội nào mà đứng về phương diện tổ chức kỳ cục vậy không? Hô đi, con người ta đi!. Con người ta ốm nằm dọc đường thế là bỏ phế không thuốc men, không săn sóc. Có thứ tình người nào kỳ cục vậy không? Mạnh giỏi thì chơi với nhau, khi đau ốm thì không ngó ngàng tới nữa. Có thứ người ngợm nào kỳ cục vậy không? Khi còn mạnh giỏi thì nai lưng ra khiêng vác trèo leo bất kể đêm ngày, sống chết, khi nằm xuống rồi nhìn quanh quất bạn bè đồng chí, lãnh đạo, chỉ huy chẳng thấy một ngoe.

… Chúng tôi đang nấu cơm sáng.

Nấu cơm hôm nay là niềm phấn khởi lớn nhất đối với chúng tôi bởi vì sau bữa ăn ngon chiều qua, bữa ăn sáng nay cũng sẽ rất ngon.

Ấy vậy mà nó lại không ngon. Chúng tôi đang ăn cơm thì có người đến. Đáng lẽ các ông này đến chiều hôm qua thì bây giờ các ông mới đến. Sau khi nghe họ tiếp xúc với bệnh nhân và họ nói chuyện với nhau thì tôi biết ngay rằng đó là các cán bộ chính trị trong đó có một trợ lý chính trị tiểu đoàn. Anh ta đến bên võng giỡ mí chăn lên xem hồi lâu rồi hỏi thật to:

– Cậu đau có nặng lắm không?

Tôi không nghe bệnh nhân đáp, nhưng tôi đoán là anh ta chỉ khẽ gật đầu thôi.

Anh ta hỏi tiếp:

– Có ăn cơm ăn cháo gì không?

Tôi lại cũng không nghe tiếng bệnh nhân đáp. Ai chớ ông trợ lý chánh trị thừa biết là những người khiêng bệnh nhân tới đây đều rút lui có trật tự hết rồi.

– Bệnh tư tưởng chứ bệnh gì! – Anh trợ lý tiểu đoàn ném ra một câu bông lông.

Tôi nhìn anh ta mà điếng cả người như bị roi da quật. Tôi không hiểu anh ta định nói ai.

Anh trợ lý tiểu đoàn quay sang chúng tôi:

– Các đồng chí nghĩ coi bệnh gì mà kỳ cục vậy? Mới hôm qua đây nó còn ăn cơm rõ ràng. Chiều lại thì ngã ra đau nặng. Đang đi lại nằm ỳ ra, bắt người ta khiêng như thế? Không có người khiêng súng, người đâu mà khiêng người? Phá sản cả kế hoạch hành quân! Bệnh gì? Bệnh tư tưởng chứ bệnh gì?

Anh trợ lý chính trị nói rất hăng làm như diễn thuyết cho nên vừa chấm câu xong, anh ta mệt thở hào hển như leo dốc.

Cả ba chúng tôi không bảo nhau mà đều ngồi im. Anh ta bèn ngồi xề lại gần chúng tôi và lải nhải:

– Thiệt là một thứ bệnh nguy hiểm các đồng chí ạ! Nó lây hơn tất cả các chứng bệnh khác. Anh này thấy anh kia làm có kết quả thì bắt chước làm theo. Rồi anh nọ lại bắt chước làm theo nữa không thể nào ngăn nổi. Các đồng chí xem trong một tiểu đội mà có hai người bệnh phải khiêng thì còn đánh đấm gì nữa?

Anh trợ lý phân trần với tôi làm như chúng tôi cũng chú ý nghe hoặc đồng tình với anh ta.

– Có một dạo có một cái dịch tự sát thương để nằm lại và sau cùng là "bê quay". Đó là lúc qua giới tuyến. Họ làm như vậy để trở về Bắc. Bây giờ tới đây thì quá sâu rồi không thể trở về được nữa thì họ lại tìm cách lùi lại và dần dần không còn ai biết tới nữa. Rồi họ tự xoá tên trong đơn vị và trở thành người rừng, như một thứ thổ phỉ. Tôi làm cán bộ chính trị cho nên tôi thuộc hết tất cả ngóc ngách tư tưởng của họ, tuy nhiên tôi không làm sao chận đứng lại được.

Anh trợ lý nuốt nước bọt và trỏ về phía võng:

– Đó là một bằng chứng của những lời tôi nói. Hôm qua anh ta còn ăn cơm rõ ràng mà. Chính mắt tôi thấy! Đang đi bỗng nhiên lại khuỵu xuống không đi được nữa. Riêng tôi thì tôi không sợ vì tôi có biệt tài trị chứng bệnh này rất nhanh. Chỉ có một phương pháp thôi: đó là không phát gạo! Đói là đầu gối phải bò!

Nghe anh trợ lý mà anh chính trị cấp tiểu đoàn tuyên bố cái phương pháp trị bệnh của ông ta, tôi nổ lỗ tai.

Anh trợ lý chính trị tiểu đoàn nói tiếp:

– Phức tạp lắm anh ơi. Đi trên con đường này, lãnh đạo một tiểu đoàn bằng lãnh đạo một sư đoàn. Mỗi một binh sĩ là một cái nợ đối với chúng tôi. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi người mỗi hành động để chống lại chuyện đi vô Nam, chống việc khiêng đạn vác súng. Cuối cùng giả đau là thần diệu nhất. Đau để nằm lại, để tìm cách quay về Bắc, đó là mục đích của cơn đau.

Anh chính trị viên giải thích cặn kẽ mạch lạc và đoan chắc mọi điều anh nhận định là đúng hoàn toàn. Anh nói tiếp:

– Như cái anh này đây, tôi nói rồi để các anh xem! Anh ta sở dĩ đau nặng như vậy là vì chặng đường sắp tới rất gay go. Hai ngày không có suối, do đó cơm ăn trong hai ngày tới phải nấu đem đi từ đây.

Tôi làm công tác chính trị quân đội nhiều không có chứ ít ra cũng 7, 8 năm cho nên anh lính nào nháy con mắt là tôi biết trong bụng anh ta muốn cái gì rồi. Tôi hứa chắc chắn với các anh một câu xanh dờn rằng anh binh sĩ này nằm lại đây cho đến sáng mai là khỏi ngay bởi vì sáng mai đơn vị hành quân rời khỏi chỗ này. Sau đó anh ta hoạt động lại ngay, lại đi đổi gà nấu cháo xơi phây phây ra thôi!

– Nếu họ "đau" cái kiểu đó thì cứ để cho họ ở lại chớ lôi kéo họ theo làm gì cho nặng hở đồng chí? – Thu hỏi.

Bị hỏi bất ngờ, anh trợ lý "già kinh nghiệm" bị chới với nhưng anh ta cũng trả lời ngay:

– Trời! Nếu bỏ họ ở lại hết thì còn ai đi?

Anh cán bộ chính trị đã nói một câu hết sức thành thật. Nhưng anh ta biết ngay rằng mình nói hớ nên anh ta bỏ đi ngay. Anh ta quay trở lại võng bệnh nhân. Anh lắc lắc cái võng vô tri mà nói với giọng chua lòm:

– Bịnh có nặng cũng cố gắng lên, không có ai khiêng nổi đâu!

Nói xong anh cán bộ chính trị ngoe ngoảy bỏ đi. Cái võng không động đậy, cũng không lên tiếng, cơ hồ như không hay biết chuyện gì đang xảy ra bên ngoài.

Khi anh cán bộ chính trị vừa khuất dạng thì chúng tôi cũng vừa bên cơm nước thịt cá dọn ra. Bữa ăn chúng tôi đang ngon lành thì bỗng có tiếng ú ớ đằng võng. Tôi buông đũa chạy sang, vì tôi nghĩ rằng bệnh nhân đang cần sự có mặt của một người.

Tôi mất hết sự ngon lành của bữa ăn. Người nằm trên võng là một cái xác không hơn không kém. Tôi không có can đảm nhìn lâu.

Tôi thấy đôi môi anh ta mấp máy nhưng không ra tiếng. Tôi chỉ đoán anh ta cần uống nước và ăn cháo. Tôi hỏi:

– Anh khát nước phải không?

Bằng đôi mắt và với cử động rất khẽ của mí mắt, bệnh nhân trả lời với tôi.

Tôi quay về lều và trở lại với ca nước trên tay. Tôi hỏi:

– Anh ngồi dậy được không?

Tôi thấy khổ tâm quá. Một tay tôi nâng bệnh nhân lên, một tay tôi cố giữ thăng bằng ca nước, và đưa ca nước vào đôi môi của anh khô như đất nẻ mặt ruộng trong kỳ đại hạn.

Chỉ vài hớp thôi bệnh nhân đã uống cạn nước trong ca, rồi ngã vật ra trên võng dường như bất tỉnh.

Tôi nom xuống và hỏi:

– Anh cần gì nữa không?

Bệnh nhân khẽ lắc đầu.

– Anh có ăn cháo chúng tôi nấu cho. Chúng tôi đang có thịt!

Mắt anh bạn đang nhắm nghiền bỗng mở to ra như chợt trông thấy điều lành xảy đến. Anh ta nhìn tôi rất đổi ngạc nhiên. Có lẽ anh ta nghĩ rằng anh ta nghe lầm điều tôi vừa nói.

Tôi vội vã trở về múc mớ cháo loãng nấu với xương chó đang sôi sùng sục trên bếp rồi mang sang cho anh ta…

Nghe hơi cháo phất qua, anh bạn ngồi bật dậy trước mặt tôi một cách không ngờ, một tay níu chặt mép võng, một tay run run đưa ra đỡ lấy ca cháo, rồi không ngần ngại đưa lên miệng húp lia lịa, dường như không biết đó là cháo sôi mới múc ra.

Anh bạn húp một hơi hết ca cháo.

Anh ta nằm vật trên võng, mồ hồi ướt trán, mồ hôi thấm qua lớp áo kaki dày mo, gương mặt anh ta sáng hẳn lên. Đột nhiên anh ta nói, tiếng nói rõ ràng và trong sáng:

– Dù sao tôi cũng có 3 đứa con rồi! 1 gái 2 trai.

Tôi hỏi:

– Quê anh ở đâu?

– Quãng Bình, hợp tác xã Đại Phong.

– Anh em đơn vị anh có hứa bao giờ đến rước anh không?

Anh ta ngơ ngác tỏ vẻ không hiểu gì hết về câu hỏi của tôi. Tôi kể vắn tắt lại sự việc vừa xảy ra ở đây cho anh nghe nhưng tôi cố ý không kể lại sự qui kết của anh trợ lý chính trị về "cái bệnh tư tưởng" mà anh ta đã cố gán cho bệnh nhân. Rồi tôi mới trở về lều.

Thu nằm trên võng nhưng nghiêng qua một bên mà lại cong queo lên như nằm trên giường và quay lưng hẳn lại Việt. Tóc Thu rơi một ít bên mép võng. Thu nhìn xuống đất có vẻ như theo dõi một chú rắn mối hay một đàn mối càng đang di chuyển trong đám lá khô.

Tôi thì nằm vặn mình như chiếc bánh quai chèo, chân thòi ra phía bên kia, đầu thì ngoặc sang phía bên này mép võng. Tôi không nhìn ai mà cũng không nhìn gì, cũng không muốn gợi chuyện với Thu.

Tôi đang nằm lim dim bỗng nghe phía võng có tiếng è è làm như có một bàn tay nào chặn cổ bệnh nhân vậy. Tôi bật dậy nhìn về phía võng thấy chẳng có ai ngoài chiếc võng xám xịt im lìm.

Tôi dự đoán rằng anh lính bất hạnh này sẽ chết nay mai.

Không hiểu tại sao tôi không biết sợ gì hết, tôi chạy ngay lại võng. Đến nơi thì thấy anh lính không còn thở nữa.

Tôi không sờ mũi, không sờ ngực nhưng quả quyết rằng tiếng è è lúc nãy là hơi thở cuối cùng của anh. Anh đã chết vì chứng "bệnh tư tưởng"!

Tôi gọi:

– Việt! Việt!

– Gì anh?

– Chạy vô trạm báo anh bệnh binh đã chết rồi.

Việt sững sờ. Thu cũng ngồi dậy ngơ ngác. Chúng tôi im lặng nhìn nhau như trao đổi với nhau nỗi buồn thảm vô tận.

Chập sau thì anh trạm trưởng và Chân ra. Và chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ sau anh trạm trưởng đến gặp tôi. Anh xoa hai tay một cách toại nguyện:

– Xong rồi!

– Vậy à đồng chí?

– Tôi nói có sai không?

– Chậc!

– Thiệt là vô nhân đạo! Đồng chí, đồng đội đó!

Tôi đứng lặng thinh lắng nghe anh trạm trưởng tiếp:

– Đấy, đồng chí thấy đơn vị có cho thằng nào trở lại không? Tôi đã nói là tụi nó đổ gánh nặng cho tôi mà!

Tôi thấy anh trạm trưởng không chút xúc động, chỉ thấy anh tức giận thôi. Anh nói:

– Tôi mà biết đơn vị nó đóng ở đâu, tôi tới níu đầu thằng chỉ huy xán cho nó mấy bốp tay và bảo nó nghỉ đi, đừng có chỉ huy lính tráng nữa.

Câu nói của anh làm cho tôi nghĩ đến những vị chỉ huy khác.

Tôi thấy eng eng muốn sốt. Tôi ngồi bật đậy và nói với Việt:

– Việt à!

– Chi anh?

– Tớ muốn hai đứa mình đi làm cái này một chút.

– Cái gì anh?

– Cậu với tôi đi xuống suối tìm một tấm đá phẳng khiêng lên đây rồi hãy hay. Có đồng ý không?

– Được rồi…nhưng để làm gì?

– Làm gì rồi sẽ hay mà!

Rồi hai đứa cùng đi. Tôi nói với Việt:

– Khắc cho anh ta một mộ bia cậu à! Tớ nói thật mà! – Tôi nói tiếp với sự kiên nhẫn – Mình nằm không sẽ bị sốt, đi hoạt động có lợi hơn!

Việt ngần ngại:

– Tôi đồng ý cái kinh nghiệm đó, nhưng khắc một bia đâu phải chuyện chơi.

– Không phải chuyện chơi nhưng ta nhất định làm được…Tội nghiệp anh ta chết không một người bên cạnh. Chỉ có cây rừng đứng lặng chung quanh. Tụi mình cũng vô tình quá…

Việt dảy nảy:

– Vô tình khỉ mẹ gì! Đến phiên mình rồi phải nằm ngay cán cuốc ra như hắn thôi, có ai ngó ngàng tới? Chôn người chưa chắc người ta chôn mình!

Tuy nói vậy nhưng Việt vẫn đi với tôi xuống suối. Hai đứa chọn mãi mới được một mặt đá phẳng.

Cái tấm đá không to lắm. Nó bằng gấp đôi tập vở học trò . Tôi cứ tưởng tôi xách một tay mà đi bon bon về nhà, nhưng khi tôi nhấc thử nó lên thì tôi mới biết là tôi không thể.

Việt thì có vẻ anh hùng hơn, Việt xăn tay áo và bảo:

– Để tôi vác cho!

Thế là cu cậu đỡ tấm đá lên vai vác về lều.

Tôi bèn chạy vô trạm, lục lạo một hồi mới được một cái lưỡi lê gãy và tên họ người xấu số. Tôi mừng quá xách cái lưỡi lê chạy về mà đưa cho Việt:

– Cậu đục trước đi, mỏi tay rồi tôi thay khắc tên tuổi quê quán của anh ta.

Việt đục cả tiếng đồng hồ, mồ hôi mồ hám ướt đẫm mà chưa xong một nét.

Việt ném dụng cụ và thở phào:

– Thôi! mệt bỏ mẹ! Cái thằng cha này nó lại báo hại mình. Chớ phải nó họ Lý họ Lê gì thì đỡ cho mình biết mấy, đằng này nó nhảy nó đè họ Nguyễn mới chết tươi mình chớ! Nội cái dấu ngã thôi khắc cũng đủ bỏ mạng mình rồi.

Tôi nói:

– Thì viết tắt.

Việt cãi lại:

– Còn tên nó làm sao viết tắt? Phải nó tên A tên B và quê ở Hà Nội cũng đỡ mệt cho mình. Đằng này cái tên đã dài cả cây số rồi, còn quê thì lại ở Quảng Bình, kéo thêm nửa cây số nữa. Khắc cái mộ bia này bằng đi một trạm!

Mãi tới chiều chúng tôi mới đục đẽo xong cái "mộ bia". Tuy nó không ra cái hồn gì nhưng người đi qua có thể đọc và biết được kẻ nằm dưới mồ tên gì, mấy tuổi và quê ở đâu.

Tôi và Việt khệ nệ khiêng tấm bia đá đặt trên nấm mộ cách chỗ anh ta mắc võng nằm không xa.

Tôi hỏi anh trạm trưởng tại sao không đắp nấm cho người chết? Anh trạm trưởng hỏi lại tôi:

– Anh có sức đắp nổi không? – rồi anh lại tiếp – Đắp để làm gì? Sở dĩ người ta đắp nấm mộ cho người chết là để người sống tới thăm, dẫy cỏ, đốt nhang . Còn ở đây thì ai tới? Vả lại nay mai trạm chúng tôi cũng dời đi, con đường mòn này đâu còn. Ai mà đi qua đây? Tất cả đều chìm lắng, đều bị nuốt mất trong cái bụng thăm thẳm của rừng, tất cả sẽ trở thành đất … một cách vô danh.


Đánh máy: Lê Thy

Monday, July 10, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 14

– 14-

Tôi mời anh trạm trưởng và Chân ở lại. Chúng tôi làm thịt con gà béo nhất.

Anh bảo chúng tôi:

– Các anh nên làm lương khô để mang theo đường, không nên phí phạm! Trên đường dây này cái gì cũng không qua cái ăn. Anh có cái ăn rồi thì sẽ có tất cả, ngay cả bạn bè. Cho thì không thiếu kẻ xin, nhưng xin thì không ai cho, ngay cả bạn thân của anh.

Tôi tin lời anh trạm trưởng là đúng.

Cơm xong anh còn ngồi nán lại chơi. Câu chuyện anh bệnh binh lại được nhắc đến. Anh trạm trưởng nói:

– Anh chàng này không ăn uống được gì nữa hết, chứ nếu ăn được thì mai tôi lục ba-lô anh ta coi còn cái gì tôi sẽ đi đổi gà cho anh ta.

Tôi đâm ra ân hận vì lúc nãy nấu cháo gà mà tôi đã quên khuấy đi rằng bên cạnh mình có một người bệnh cần ăn cháo.

Tôi nói để chữa ngượng:

– Để mai coi anh ta có tỉnh dậy không, tôi sẽ nấu cho anh ta tí cháo.

– Phải đó, làm phước cho con cháu sau này.

Anh trạm truởng ngồi trầm ngâm lâu lâu mới nói vài câu. Tôi cứ tưởng anh ta sắp ra về nhưng trông chừng anh ta muốn nói chuyện gì.

Mãi lúc sau anh ta mới hỏi tôi:

– Các anh có nghe đài Bắc Kinh không?

– Có!

– Các anh nghe thế nào?

– Nghe như anh nghe vậy thôi.

– Tôi muốn hỏi thẳng các anh là có nghe vụ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ không?

– Có, có.

– Các đồng chí nghĩ thế nào?

– Còn biết nghĩ thế nào nữa! Bao giờ Trung Ương có chỉ thị thì mình học thế thôi!

Anh trạm trưởng lặng thinh. Tôi biết anh chàng này ít ra cũng trình độ tổ trưởng hoặc chi ủy.

Anh nói:

– Thiệt rầu các ông anh bà chị mình hết sức. Đất nước họ hoà bình, ăn no phè ruột ra ngủ, em út đánh giặc mệt ứ hơi, đã không lo giúp đỡ lại còn chơi cái mững đó. Năm 1957, nằm hầm bí mật lính nó đái trên đầu mình bầm gan tím ruột, muốn nhảy lên ăn thịt nó, vậy mà năm đó ông anh cả của mình lại phạm vào chủ nghĩa "xét đi xét lại" chi đó. Liệt cường trên thế giới không ủng hộ đã đành, ông anh mình lại cũng không ủng hộ. Thiệt là kỳ cục.

Anh trạm trưởng tiếp:

– Tôi nói thật với các anh nhé! Các anh không có ở Miền Nam trong những năm đó nên không biết nỗi đau thương của bọn chúng tôi.

Bị bắt, đày Côn Đảo gần hết. Còn sót mấy người không làm ăn gì, kẻ vô chùa tu, người mai danh ẩn tích. Ngày ngày ngóng trông Miền Bắc, ngóng trông các ông anh lớn. Rốt cuộc chẳng được cái cóc khô gì…

Phe mình nói chuyện tày trời, nào tình nghĩa vô sản rùm beng. Rốt cuộc Mỹ nó đánh mình mà không ai dám hó hé. Mình chửi nó, nhưng coi kỹ lại, mình không bằng nó.

Anh trạm trưởng trợn mắt như cãi nhau với tôi:

– Ừa, tôi dám nói vậy mà. Nhìn lại mà xem có đúng hay là không. Nó nói ít hoặc không thèm nói mà làm nhiều. Nó đâu có la ó gì hung đâu, vậy mà đùng một cái, nhảy vô năm trăm ngàn lính Mỹ ở Miền Nam làm thiên hạ trắng mắt ra mà nhìn.

Còn miền Bắc bị đánh tan nát như vậy đó, có anh Liên Xô nào lái máy bay đánh với phi cơ Mỹ không? Có anh Trung Quốc nào dám nhảy vô cầm súng bắn Mỹ không? Rốt cuộc ai cũng đứng đằng sau lưng thằng em út và lúc nào cũng hoan hô "thằng con nít ăn ớt giỏi quá, ăn thêm vài trái nữa đi! Ăn xong leo bẻ dùm mấy trái dừa kia nữa!"

Anh trạm trưởng cười mai mỉa:

– Mà cũng chưa hết, thằng nhỏ bắt cá cũng giỏi lắm! Thằng nhỏ vốn liếng thoắng thấy mấy anh lớn khen thì hừng chí, nhảy a vô thộp, tưởng các lóc, không ngờ cá mặt quỷ gai góc đầy mình, mới vớ vô bị nó đâm la trời nhưng vì lỡ nhận là mình gan lỳ rồi, không lẽ chịu thua, ráng bắt con cá, bắt không được mà hai bàn tay sưng vù.. kêu cha kêu mẹ. Mấy thằng lớn đầu đứng xa xa nhìn nhau cười ha hả!

Anh trạm trưởng kể chuyện nghe thật hài hước cho nên người nghe càng chua chát.

Tôi ngồi lặng thinh.

Anh trạm trưởng dường như gặp được người bạn tri âm, bèn xổ thêm bầu tâm sự.

– Hồi tôi còn nằm trong tù, tôi thấy đau khổ cho cái số phận mình quá. Đang đánh giặc ầm ầm tự nhiên ký kết Giơ-neo. Mình là kẻ đang tung hoành ngang dọc bỗng nhiên lại xếp cánh nằm hang. Nghĩ thật bầm gan tím ruột. Tôi nói thật với các anh là hồi đó tôi không còn mong ngóng cái gì nữa hết. Cái sự xây dựng lực lượng hai năm ở Miền Bắc, rồi trở về thống nhất đất nước càng nhắc càng nghe nó xa vời.

Tôi ở trong tù đâu có biết tin gì. Có một hôm tên chúa ngục đập cửa gọi tôi vào lúc nửa đêm. Tôi đang ê ẩm cả mình mẩy, tôi lên phòng tra, bụng nghĩ chắc lãnh thêm một trận đòn nhừ tử, nhưng không phải! Hắn ta mời tôi ngồi uống nước trà rồi hắn cười ngạo nghể:

– Anh biết tin gì không?

Tôi đáp:

– Không biết!

Hắn phì phà điếu thuốc xì-gà rồi cười:

– Tôi cho anh hay tin mừng về sự xây dựng xã hội chủ nghĩa đại thắng lợi khà…khà… Nè, biết uống la-de không? Làm một chai đi rồi tôi nói cho mà nghe. Uống một chai để ăn mừng.

Hắn khề khà kéo dài câu chuyện một cách khó chịu, cuối cùng ra mới đứng dậy chống nạnh hai quai và nhìn thằng vào tôi mà hỏi:

– Anh có biết tổng số xe hơi Miền Bắc hiện nay là bao nhiêu không?

– Dạ không biết! – Tôi đáp.

Hắn xoè bàn tay ra và nói:

– Có tất cả là 6 chiếc, trong đó có một chiếc không chạy được mang tên là "Chiến Thắng". Như vậy còn lại 5 chiếc tất cả. Thế nhưng vừa rồi, mới rồi đây, chỉ còn lại có 4 chiếc… Toàn Miền Bắc XHCN của các anh chỉ còn lại có 4 chiếc xe cam-nhông như vậy cũng nhiều quá chớ!

Tôi giận uất người lên, nhưng tôi làm gì được hắn, trong khi tôi nằm trong tay hắn.

Hắn gọi người mang la ve nước ngọt mời tôi và nói tiếp:

– Để tôi kể anh nghe nốt câu chuyện nhé!

Số xe trên Miền Bắc XHCN các anh bây giờ tôi cam đoan không quá 5 chiếc, là vì sao? Vì vừa rồi có một anh tư sản do chính phủ Bắc Kỳ bắt phải đi cải tạo ở Vĩnh Linh. Công việc mà y phải làm hằng ngày là xúc đá đổ đường.

Anh tư sản kia vì không phải là vô sản tay trắng nên anh ta có xe hơi và biết lái xe hơi. Vì thế cho nên từ việc xúc đá đổ đường anh ta được gọi lên cầm lái ô-tô chở đá đổ đường. Cha chả, cầm lái xe là thành phần lãnh đạo đó nghe. Như vậy là anh tư sản kia từ giai cấp bốc lột phải dìm xuống bùn đen mà ngoi lên được giai cấp lãnh đạo rồi nhé!

Bỗng một hôm nọ anh chàng lái xe "vỏ công nhân, ruột tư sản" kia không đời nào cái sự chỉnh huấn thay đổi được , vọt xe qua cầu Hiền Lương mà chạy thẳng về Sàigon… Đó nguyên nhân là như thế đó, cho nên toàn bộ xe hơi ở ngoài Bắc Kỳ hiện giờ chỉ còn lại có 4 chiếc…

Anh trạm trưởng thở dài, một chốc anh hỏi tôi:

– Ở miền Bắc có chuyện như vậy thật sao anh?

Tôi lại ngồi lặng im. Anh trạm trưởng thở dài não ruột.

– Nếu quả tình có việc đó thì ở Miền Nam này bọn tôi còn trèo đèo lội suối làm chi nữa?

– Tại sao?

– Là vì sự xây dựng cái chủ nghĩa xã hội đâu có hấp dẫn gì đâu.

Trong cái túi sắt của rừng thiêng nước độc này, tôi đã nhìn thấy không biết bao nhiêu mái đầu tóc đã muối tiêu, mặt mũi hốc hác, cặp mắt thau láu lúc nào cũng ngóng xem mặt trời ở hướng nào. Ở trong rừng, người đi đường, cả người dẫn đường cũng đều mất hướng.

Tôi biết họ cũng như tôi quá nửa cuộc đời theo "lý tưởng", chân đã mòn, trí óc đã tiêu hao. Tôi biết họ cũng như tôi, giờ đây mỏi mệt nhưng đích thì chưa trông thấy đâu.

Anh trạm trưởng móc thuốc ra hút rồi sau khi đã nuốt trững mấy ngụm khói vào bụng, như muốn nén đi những nỗi thắc mắc kinh niên, anh nói lãng đi:

– Tôi còn mấy đứa nhỏ học ngoài đó…

– Anh có con lớn vậy à?

– Tôi đã 45 tuổi rồi chớ ít sao anh?

Tôi thấy anh trạm trưởng rủ xuống với mái tóc xám tro của anh. Từ khi tiếp xúc với anh tới giờ, tôi không nom thấy anh già nhưng bây giờ khi nghe anh nói có con lên học đại học thì tôi mới trông thấy anh già. Tội nghiệp! Con Bắc cha Nam!

Một chốc anh hỏi tôi:

– Tôi hỏi thật mà anh cũng phải trả lời thật nhé! Miền Bắc xây dựng XHCN có ngon hơn Miền Nam mình không?

Tôi cười và tìm cách nói loanh quanh, không trả lời thẳng. Điều tôi muốn nói với anh là: Chế độ nào nhiều cơm gạo, và thoả mãn người đời nhiều nhất thì đó là chế độ ta cần bảo vệ và vun bồi.

Chủ nghĩa Cộng Sản trên lý thuyết thì có vẻ hay thật nhưng nó chỉ thực hiện được khi nào nhân loại chỉ có một cái dạ dày chung. Đừng nghe lý thuyết bất kỳ của ai, hãy nhìn vào nồi gạo của họ. Goethe nói một câu tuyệt hay: "Tất cả lý thuyết đều trở thành màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi."

Anh trạm trưởng biết tôi dù có nói cũng không nói thật, cho nên anh tiếp:

– Tôi bi quan từ hằng chục năm nay anh ạ. Nhất là từ khi tôi ra tù. Tôi không nhìn thấy cái gì sáng sủa nữa.

Tôi hỏi vặn:

– Nghĩa là sao?

– Nghĩa là tôi như lục bình trôi như vậy đó.

Tôi không muốn khơi vào tâm sự của anh ta nữa. Bởi vì chích vào đó thì cũng là động đến tâm sự của tôi, cho nên tôi kéo câu chuyện rẽ sang lối khác.

Tôi nói:

– Nhưng, còn cả con cầy kia, mai ta làm một bữa. Anh nghe có lạc quan hay không?

– Khà..khà! – Anh trạm trưởng cười như đứa trẻ.

– Và kia nữa …

Tôi trỏ vào Thu đang đi từ suối lên. Vì sợ ướt quần nên Thu xăn lên quá đầu gối rất xa. Màu da trắng loáng thoáng qua những kẽ cây rừng. Tôi rỉ tai anh trạm trưởng:

– Cặp đùi đẹp nhất thủ đô đó, anh xem dùm một chút là hết bi quan ngay.

– Khậc..khậc!

Anh trạm trưởng nhìn theo tay tôi chỉ rồi quay lại, nét mặt hửng lên, thơ nây như một anh chàng lần đầu mới nhìn thấy đàn bà.

Thu không trông thấy tôi và anh trạm trưởng nên cứ tự nhiên đi tới, càng lúc càng gần chúng tôi. Cái màu trắng mơ hồ lúc nãy bây giờ đã hiện lên gần quá. Có thể nom thấy những hạt nước còn đọng trên làn da như những hạt sương điểm trên những cành hoa bạch huệ.

Nhưng anh trạm trưởng không nhìn thẳng. Hình như anh bị loá mắt trước một hiện tượng kỳ lạ – xa lạ với cuộc sống lâu nay của anh.

Còn tôi thì có thói quen, khi thì công khai, khi thì lén lút (nếu nói theo danh từ thì "bí mật"), khi thì thiệt tình, khi thì vờ vịt, tôi đã nhìn cái hiện tượng đó, cái kỳ quan đó không biết bao nhiêu lần, mỗi lần mỗi rung động, mỗi ý nghĩa, mỗi diễn biến tâm trạng, mỗi dục vọng. Tôi đã tìm thấy tất cả an ủi trong cái hiện vật lạ lùng ấy. Thơ tứ ở trong đó và những ý nghĩa sôi nổi, những tình cảm nồng cháy cũng ở trong đó.

Tôi không tự nhận rằng tôi yêu Thu nhưng tôi thấy thiếu thốn khi Thu vắng bên tôi. Tôi không thấy hài lòng khi Thu nói chuyện thân mật với người khác, ngay cả với Việt là người mà tôi chắc chắn rằng Thu không yêu. Nói đến Thu là tôi nghĩ ngay đến thỏi ngà thon thon, không nó tròn quá cũng không mong manh quá, một cái gì gần như được cân tiểu ly cân đo và một bàn tay điêu khắc kỳ diệu nhào nặn tác hợp.

Thu: có nghĩa như vậy nhưng không phải chỉ như vậy mà thôi.

Tôi là kẻ đa tình. Tôi tự biết như vậy, mà ở giữa cảnh rừng này đâu có cái đẹp để mà nhìn. Cho nên quanh đi quẩn lại tôi chỉ còn có đôi chân của Thu.

Thu vẫn giữ đôi chân trần như thế đi đến bên cạnh chúng tôi và nói:

– Thôi.. đi ăn đi anh! Cháo chín rồi!

Tôi lặp lại lời của Thu mà mắt vẫn không rời đôi chân Thu.

– Thôi đi ăn đi anh!

Anh trạm trưởng nói:

– Ăn gì?

– Gà nấu cháo! Cháo nấu với gà!

– Thế à?

Không để cho anh ngượng ngùng, tôi lôi tay anh đứng dậy và nói ngay:

– Đi làm bậy một chén cho ấm bụng.

Anh chống chế:

– Để các anh tẩm bổ, các anh còn đi xa quá.

– Còn chơi, hết thôi ! Mà sao anh kỳ cục vậy?

Anh trạm trưởng miễn cưỡng đi theo tôi. Cháo gà nấu trong 3 cái cà-mên đang sôi ùng ục bốc lên sực nức.

Đây cũng là một kỳ quan nữa. Kỳ quan bên cạnh kỳ quan. Thu sợ ướt ống quần nên vẫn cứ xăn lên như thế mà chạy lăng xăng lo việc này việc nọ.

Bỗng dưng tôi lại được hưởng một loại hạnh phúc xấp đôi này.


 Đánh máy: Lê Thy

Sunday, July 09, 2023

Xuân Vũ- Đường Đi Không Đến – 13

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/05/dường-di-khong-dến-13/

– 13-

Chúng tôi về đến trạm được một lúc thì anh trạm trưởng và cậu Chân ra chơi. Hai người tỏ vẻ vui mừng khi trông thấy mớ thực phẩm sống của chúng tôi rất phong phú.

Tôi hỏi một cách rất ngây ngô:

– Ở đây sao các anh không đi đổi về dùng?

– Chúng tôi biết chớ, nhưng thú thật với các anh, chúng tôi đâu có cái gì để đổi chác?

Anh trạm trưởng tiếp:

– Các đồng chí thấy đó, ở trong vùng rừng núi này sắt đá gỗ lim còn mục nữa là quần áo. Quần áo của chúng tôi không đủ mặc, lấy gì mà đổi? Tôi làm trạm trưởng gần hai năm chỉ lãnh được một bộ đồ.

Công tác giao liên, các đồng chí coi đó, dầm nước mưa, nước suối suốt ngày, đâu có mấy tháng thì rã hết. Trước kia chúng tôi còn có một bộ nghiêm một bộ nghỉ. Đi về thì thay bộ đồ tác chiến ra treo trên nhánh cây đó, mặc bộ đồ khô vào, sáng hôm sau, bộ kia có khô hay chưa khô cũng cứ tra vào.. Cả năm này tháng nọ như thế. Nhưng bây giờ tụi tôi mỗi đứa chỉ còn một bộ, hễ ướt cởi ra phơi thì phải mặc "bộ đồ da". Anh biết "đồ da" chưa? …

Chúng tôi mừng chưa dứt, Thu chưa hết ngạc nhiên thì lại có chuyện.

Có một cái võng đưa bệnh nhân vào trạm. Hai người khiêng và một người quảy ba-lô cho bệnh nhân.

Anh chiến sĩ quảy ba-lô mặt hầm hầm hỏi chúng tôi:

– Anh biết trạm ở đâu không?

Tôi thấy anh ta không có lễ độ nhưng ở cái xứ này mấy ai có lễ độ với ai, bởi vì ở đây toàn là những người đang bực dọc, thối chí, bất mãn hằn học. Nhưng tôi tiếc gì mà không ném cho hắn một câu trả lời tương xứng với sự quạu quọ của hắn.

– Không!

Anh ta hất hàm bảo hai người khiêng:

– Để xuống nghỉ đi!

Hai người khiêng đã chuẩn bị sẵn cho nên đặt võng xuống giá một cách mau lẹ. Người bệnh vẫn nằm võng lưng không đụng đất.

Anh chàng mang ba-lô cũng trút chiếc ba-lô ra khỏi lưng ném xuống đất và bắt đầu phun ra những câu bực bội.

– Đ.m. mấy thằng giao liên rút vào cái lỗ đếch nào mà tìm mãi không ra thế này? Bình thường thì bảo "nhất trạm nhì trời" mà! Sao hôm nay không ló ra cho gặp mặt, hừ! Nó dẫn mình đi thì nó nói nhẹ nói nặng, nó xem mình không bằng con chó. Bây giờ mình cần nó thì nó chui đi đâu mất hết. Tôi mà còn gặp phen này ít ra là một thoi ba đá.

Anh ta cứ cằn nhằn mãi. Chúng tôi không đáp lại, còn anh trạm trưởng và Chân cũng im thin thít.

Anh kia càng đi đi lại lại tay chống nạnh, miệng la bài hãi:

– Chiến đấu cái đếch gì thế này mà chiến đấu được kia chứ ? Một đại đội hết phân nửa sốt rét. Ngày nào cũng khiêng vài đứa. Còn lính đâu mà chiến đấu? Thuốc men không có, sốt đứa nào nằm lại đứa ấy! Chậc! Trốn mất thôi.

Rồi anh ta bảo hai người kia:

– Trông chừng coi nó thế nào?

Hai người kia giở chăn nghiêng đầu xem người nằm trên võng rồi nói:

– Cũng thế thôi!

– Sốt cái gì sốt ác thế, sốt một người mất bốn người khiêng vậy thì làm sao? Trời!

Chúng tôi vẫn lặng lẽ tính toán công việc của chúng tôi, tức là mần gà mần chó.

Bất thình lình…đoành …đoành…đoành…đoành..!

Anh chàng quân nhân giơ súng lên làm một loạt ngắn, lá lả tả bay xuống quanh chúng tôi.

– Tao bắn gọi giao liên đấy. Không ra thì tao bắn miết, bể ổ nó hết cho coi. Cho mầy giỏi mầy trốn.

Đoành … đoành….đoành!

Anh trạm trưởng vùng đứng đậy với cây súng cạc-bin đã lên đạn lăm lăm trong tay, anh quát:

– Vô kỷ luật! Quân ở đâu vậy hả?

– Ở đâu tao ở. Hỏi làm gì?

– Hỏi đặng trói đầu bây lại.

– Trói cái này này! – Anh chàng quân nhân vừa nói vừa nẩy ngược ra và cười thách thức.

Tôi thấy câu chuyện gay gắt sẽ đưa tới hậu quả rất tai hại. Tôi bèn chạy tới nói với anh trạm trưởng để điều đình, nhưng anh trạm trưởng gạt ngang. Tôi bèn chạy đến anh quân nhân, anh này lại càng làm già. Bên nào cũng có mòng có mỏ cả. Hễ họ gõ với nhau thì mình mệt. Nếu không liên quan đến chúng tôi thì chúng tôi đứng ngoài nhìn, như xem gà đá nhau chơi.

Tôi nói với anh quân nhân:

– Anh đó là anh trạm trưởng đó.

– Vậy hả? – Anh bạn quân nhân cười khoái chí – Vậy ra mấy loạt súng của tôi gởi về làng đâu phải là vô ích.

Rồi anh xếp súng lại đi tới bên anh trạm trưởng giọng hết sức khiêm tốn:

– Chúng tôi biết rằng chúng tôi vô kỷ luật, nhưng không còn cách nào để tìm các đồng chí cho nên chúng tôi đành phải làm như vậy, đồng chí thông cảm cho tôi. Tôi là quân nhân không phải không biết kỷ luật là gì, kỷ luật đường dây càng nghiêm hơn…

Bây giờ tới anh trạm trưởng phùng sè:

– Các anh ẩu quá mà. Tự động vô trạm chúng tôi, đó là một sự trái với nguyên tắc bí mật. Chúng tôi bắt trói ngay các đồng chí bây giờ và đưa vào Bộ Tư Lệnh Quân Khu.

– Dạ, bắt trói cũng được.

– Ít ra các đồng chí phải biết điều chứ. Địa điểm đóng quân của các đồng chí, ai đến nổ súng được không?

– Chúng tôi có việc cần quá đồng chí ạ!

– Cần thì cần chứ!

– Chúng tôi có một bệnh nhân cấp cứu mà không có tí thuốc trong tay.

– Đã đành bệnh! Nhưng chúng tôi đâu phải là hậu cần của các đồng chí? Trạm của chúng tôi đâu phải là bệnh viện của các đồng chí? Hừ! Các đồng chí còn chửi tụi tôi như một lũ hèn nhát – Anh trạm trưởng sôi máu lên – Các anh thử đi đưa khách như chúng tôi xem? Đây chức trạm trưởng đấy, 21 lon gạo mỗi tháng đấy, thằng nào cứ nói miệng tài thì cứ nhảy vào làm chơi. Chiến đấu võ trang của các anh không khó đâu, thằng này đã 8 năm cầm súng chống Pháp. Đừng ỷ có súng trong tay…

Tôi xen vào ngay:

– Thôi hai bên cũng là đồng chí cả vì chưa biết nhau. Vả lại cũng có chuyện gấp!

– Gấp thì gấp, tôi không biết. Đó không phải là việc của tôi, tôi đéo giải quyết. Thằng nào làm gì thì làm!

Thì đúng rồi. Nhứt trạm nhì trời là thế đấy. Ai mà đụng vào đó thì chết, chết ngay.

Bây giờ thì đến anh bạn quân nhân phải xếp giáp qui hàng, không sợ xấu hổ.

Anh ta nói giọng nhũn như bún:

– Đồng chí ạ! Không phải tôi muốn phá nội qui của đường dây đâu mà đang cơn bối rối tôi không tìm được trạm nên tôi phải bắn bừa…

– Anh bắn bừa như vậy, cho rằng anh tìm được trạm đi, rồi còn hậu quả về sau thì sao?

Anh trạm trưởng không gọi đối tượng bằng đồng chí nữa, mà gọi bằng anh. Anh trạm trưởng tiếp:

– Tôi đi làm giao liên dắt đường như làm dâu thiên hạ, cực hơn con chó mà! Đường đi trót lọt thì thôi, lỡ có việc gì thì thiên hạ hăm bắn, hăm đánh đủ thứ trò. Tôi đi làm việc cách mạng tôi chẳng phục vụ riêng cho thằng đéo nào. Phải thì tôi làm, không thì tôi nghỉ. Nếu không thì tôi về nhà vợ tôi nuôi tôi cơm tẻ ngày hai bữa cũng sống vậy!

– Thôi mà đồng chí! – Anh quân nhân càng mềm mỏng – tôi bắn súng với mục đích tìm trạm chứ đâu phải phá các đồng chí.

– Tôi chấp các anh phá tôi. Tôi dời trạm đi cho các anh đui con mắt. Phá đi! Phá đi xem nào!

– Thôi mà, tôi đã nói rồi mà đồng chí cứ chấp nhất mãi.

Đợi anh trạm trưởng hơi dịu dịu, anh quân nhân mới nói đến cái chỗ quan trọng nhất của mình:

– Tôi có một anh chiến sĩ ốm nặng không đi được, tôi nhờ các đồng chí…

Anh quân nhân vừa nói đến đó, anh trạm trưởng gạt ngang:

– Thôi thôi… tôi không có làm mẹ gì hết. Đó không phải là việc của tôi.

– Tôi không dám nhờ các đồng chí trông nom đâu! Chúng tôi xin các đồng chí cho chúng tôi buộc võng gần trạm, còn phần săn sóc thì có hai người kia luôn luôn ở bên cạnh bệnh nhân.

– Rừng thì chỗ nào chẳng buộc võng được, sao các đồng chí không buộc ở ngoài kia?

– Dạ..- Anh quân nhân có lẽ rành tâm lý hay vì công việc cần kíp bắt buộc anh ta phải giả dại qua ải, nên anh nhỏ nhẹ – Tôi xin thú thực với đồng chí rằng, không phải chúng tôi lánh nặng tìm nhẹ đâu, không phải đồng chí mình bệnh rồi bỏ rơi nhưng đơn vị có công tác khẩn cấp không mang bệnh theo được.

– Khẩn cấp à? – Anh trạm trưởng quát.

– Dạ!

– Khẩn cấp mặc kệ anh, tôi không biết. Anh đừng có đem ách giữa đàng mang vào cổ tôi. Tôi không phải trâu của anh nuôi cỏ.

– Dạ tôi đâu dám nghĩ như vậy nhưng kỳ thực là công việc khẩn cấp quá!

– Các anh chỉ giỏi bày đặt!

– Dạ thật mà!

Anh trạm trưởng cười phì:

– Khẩn cấp cái con khỉ!

Anh quân nhân trắng mắt ra nhìn nhưng anh trạm trưởng cứ thản nhiên:

– Các anh treo thì cứ treo. Chỉ có điều là tôi không chịu trách nhiệm, thuốc men tôi không có, người ngợm tôi cũng không .

– Được rồi – Anh quân nhân nói quả quyết – đây là một đồng đội của chúng tôi, chúng tôi không thể bỏ được .

– Cái đó thì tùy lương tâm của các anh, tôi không rõ. Bỏ hay không điều đó không có hại gì cho tôi hết thẩy!

Hai người lính kia coi mòi câu chuyện xuôi xuôi nên đem võng bệnh nhân treo trên hai cái cây cọc ai đã bỏ, rồi căn tăng lên chu đáo.

Anh quân nhân cám ơn trạm rối rít rồi từ giã. Nhưng bỗng một con gà kêu lên quang quác làm cho anh ta quay nhìn lại.

Anh ta đứng lại rồi trở lại.

Mặt trời đã lặn từ lâu. Chúng tôi đang bận rộn với lũ gà chó như bận họp tham mưu tiền phương. Anh quân nhân đến và nói với chúng tôi không chút ngần ngại:

– Tôi xin thú thực với đồng chí là tôi thèm thịt quá. Đồng chí có thể nào chia lại cho chúng tôi một con hay không đồng chí?

Thiệt là khổ tâm, không có gì làm chúng tôi khổ tâm bằng.

– Đồng chí tìm ở đâu mà hay vậy? – Anh ta hỏi.

– Ở trong bản. – Tôi đáp cụt ngủn.

– Cũng gần đây thôi.- Việt tiếp một cách lơ là, không ngó lên và chăm chú nhìn bếp lửa.

Còn tôi thì thấy bối rối quá, không biết làm sao lánh mặt. Tôi biết Thu lẫn Việt không muốn ai nói đến số chiến lợi phẩm của mình.

Tự nãy giờ tôi nghe anh quân nhân và anh trạm trưởng xưng hô với nhau, nhất là tiếng "đồng chí" của anh quân nhân dùng để gọi anh trạm trưởng thật là nhạt nhẽo.

Tôi thừa biết rằng sở dĩ anh gọi anh trạm trưởng là đồng chí là để đạt được mục đích gởi anh bệnh binh chứ chẳng thân thiết gì. Rồi bây giờ anh ta lại dùng cái tiếng ấy đối với tôi nữa, cũng với một mục đích cụ thể khác.

Tôi chưa bao giờ nghe hai tiếng "đồng chí" nó nhạt nhẽo và khó chịu như lúc nầy.

Có lẽ anh ta là một anh cán bộ chính trị cho nên anh ta biết dùng cái tiếng ấy vào những lúc cần thiết.

Tôi còn loay hoay chưa biết trả lời thế nào cho có vẻ chính trị vì tôi là người ít nói láo được trong lúc cần sự nói láo thì Việt đã đóng vai trờ chính trị thật khá. Việt nói:

– Tôi nói thật với đồng chí nhé! – Việt cười hề hề và Việt nói ngọt xớt những lời lẽ có vẻ cảm động- Tôi hiểu ngay là đồng chí cần một con gà để nấu cho bệnh nhân và các đồng chí ăn, tôi có thể chia ngay cho các đồng chí, biếu các đồng chí cũng được đâu có đáng bao nhiêu.

– Vâng, chúng tôi chỉ cần một con thôi – Anh quân nhân vui vẻ trông thấy – Thú thật với đồng chí chúng tôi đi bộ từ Bắc Kạn kia đấy, ba tháng mới tới đây, thấy thịt thèm đi không muốn nỗi.

– Tôi cũng đi bộ từ Hà Nội! (Việt nói dóc)

Việt tiếp:

– Các đồng chí người Bắc mà đi vào Nam giải phóng cho quê hương tôi, tôi cám ơn các đồng chí lắm nhưng ….

Việt nói vòng vo tam quốc để cuối cùng đi đến kết luận là không thể chia thịt được.

Anh quân nhân vừa ngượng vừa thối chí bèn đứng dậy gọi sang mấy người kia cho đỡ khổ.

– Thôi ở đó nghe, tớ về đây! – Rồi anh đứng dậy ra về, không chào hỏi ai hết.

Anh quân nhân vừa đi thì anh trạm trưởng vừa tới. Anh nói:

– Cái tốp này nói gạt tôi, tôi biết mà. Nhưng mặc kệ, không ăn thua gì đến tôi!

Tôi hỏi:

– Nó gạt làm sao?

– Chịp! Cái trò này tôi gặp hoài hoài. Tôi ở đường dây hai năm nay, những trò đó đâu qua mắt tôi được. Họ đem họ bỏ đó rồi đi luôn, coi như trút của nợ cho trạm.

– Nhưng nếu họ muốn bỏ luôn như vậy thì tốt hơn là họ cứ treo võng bất cứ chỗ nào cần gì phải đem vô trạm cho mất công?

Anh trạm trưởng cười, cái cười vừa mỉa mai vừa khinh bỉ:

– Như thế thì dễ quá! Nhưng ở đây nó muốn tìm một đỉểm tựa cho lương tâm, tức là nó đem thằng bệnh vô đây, nếu có người nào trách móc, nó sẽ nói rằng nó đã gửi cho trạm, hai là nó tự lừa nó rằng nó cũng không đến đổi tàn nhẫn với bạn bè đồng chí.

– Thế à?

Vừa dứt câu chuyện thì hai anh khiêng bệnh lại lúc nãy vừa tới. Một anh nói với trạm trưởng:

– Xin phép trạm trưởng cho hai đứa tôi ra ngả ba lấy ba-lô.

– Ba-lô gì mà lấy?

– Ba-lô của hai đứa tôi. Hồi nãy khiêng nặng quá nên chúng tôi giấu tạm ngoài rừng, bây giờ trở lại lấy.

Anh trạm trưởng cười:

– Nhưng tôi đâu có nghĩa gì với anh mà anh xin phép?

– Dạ..anh là trạm trưởng mà.

– Trạm trưởng các anh coi còn thua con c…của các anh, nhằm nhè gì mà xin phép.

Rồi hai người ra đi khuất sau những hàng cây cũng đã bắt đầu mờ trong bóng chiều.

Anh trạm trưởng nói với tôi:

– Để rồi anh xem có y như lời tôi nói hay không? Họ đánh bài chuồn đấy. Họ không trở lại đâu và cuối cùng là chúng tôi phải chôn cái xác nầy, thế thôi!

Anh trạm trưởng nói với một sự lạnh lùng quá sức tưởng tượng:

– Trước đây cũng có mấy người đem tới giao cho tôi một bệnh binh ốm liệt. Họ nói sẽ trở lại chăm sóc . Mình cũng thương tình, thấy ở giữa rừng sâu, lửa ấm nhưng tình người ấm hơn cho nên tôi mới nhận bệnh nhân, chẳng dè họ đi luôn, xem như đã gửi một món đồ thừa không cần lấy lại. Tôi phải nấu cháo cho anh ta ăn suốt tháng trời. Tôi phải nhịn khẩu phần của tôi. Nếu tôi bỏ, tôi không chăm sóc thì đứng về nguyên tắc không ai trách móc gì được tôi hết. Chúng tôi bịnh còn không có thuốc nữa là. Nhưng nếu tôi bỏ thì lương tâm của tôi không yên ổn được. Cuối cùng anh đó cứ nằm mãi, khi ăn được, khi ăn không được rồi chết, không thấy đồng đội trở lại nữa. Chúng tôi chôn anh ta ngay chỗ anh ta nằm. Ít lâu sau chúng tôi dời trạm, bây giờ thì không sao nhớ nỗi nấm mộ kia. Tôi còn giữ tấm chứng minh thư đi Ông Cụ của anh ta.

Anh trạm trưởng tiếp:

– Bây giờ tới anh này. Chắc chắn cũng như trước kia thôi.

Anh trạm trưởng nồi trầm ngâm chốc chốc lại lấy que cời than với một cử chỉ lơ đãng.


Đánh máy: Lê Thy

Saturday, July 08, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 12

Người đánh máy: Lê Thy

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/04/dường-di-khong-dến-12/

– 12-

Cuối cùng, chúng tôi đi đến một chỗ quanh của con suối bên một hốc rễ cây. Tôi nhìn thấy những trái bầu khô xếp bên cạnh nhau rất thứ tự. Đó là những quả bầu đựng nước suối, miệng quả bầu nhét nút bằng một loại lá cây cuộn tròn. Bên cạnh quả bầu này là một cái hố con đào trên bờ cát. Nước suối thấm vào đấy và được lọc ra những lớp cát, trở thành nước uống.

Chúng tôi đang lom khom quan sát những quả bầu thì có tiếng chân người.

Tôi quay ra thì thấy một người Mọi trần truồng như nhộng, khi nhìn kỹ thì thấy anh ta có choàng một cái khố đơn sơ tiệp hẳn với màu da của anh ta.

Tôi biết rằng mình đã gặp đối tượng rồi.

Tôi vung tất cả quần áo khăn khíu lên và run run vẫy vẫy. Người Mọi trố mắt ra nhìn, với vẻ ngạc nhiên thèm muốn hậm hực lạ kỳ.

Anh ta xáp lại gần tôi rồi không chút ngần ngại, anh ta cầm lấy một cái áo nâng lên tận mũi hít hít.

Tôi tỏ vẻ muốn vào tận buôn của anh ta để đổi đồ nhiều hơn bằng cách vung mớ đồ đạc lên và trỏ vào cái mồm mà nhai với hai hàm răng trống trơn.

Anh Mọi đi phía trước. Bọn tôi đi theo sau. Anh ta tỏ vẻ ưng chịu một cách tự nguyện. Có lẽ anh ta cũng đang thèm muốn những món đồ này.

Anh ta vừa đi, chốc chốc quay lại nhìn với cặp mắt biểu lộ sự tốt bụng hể hả, không chút nghi ngờ. Có lẽ đây là lần đầu tiên anh ta bắt gặp những món đồ kỳ lạ này.

Tôi bảo Việt:

– Cậu có ngại gì không?

– Không! Ngại cái gì chớ?

– Tôi cũng không ngại, nhưng phải đề phòng.

– Đề phòng cái gì chớ?

– Biết đâu đấy!

– Biết đâu cái khỉ gì. Mình đến đây đổi đồ của nó, chứ mình có giật của nó đâu?

– Mình không giật của ai, chuyện đó đã đành nhưng ngộ người ta giật của mình thì sao?

Việt dẫy nảy :

– Hừm! Tầm bậy!

– Sao tầm bậy?

Việt im lặng, không có câu trả lời. Tôi tiếp:

– Nhất là ở trong vùng hoang này, không có chính quyền. Ai can thiệp được?

Tôi biết Việt hơi chùn bước nhưng Việt làm ra vẻ mạnh dạn.

Việt nói:

– Tôi đoán chắc tụi nó ngán mình lắm. Vì mình đường đường thế này mà.

– Đường đường một con ma sốt rét phải không?

Hai đứa lặng lẽ đi trên bờ suối cát trắng, cát vàng từng mảng, từng vùng có lúc cũng nên thơ, nhưng rồi sự lo sợ đắn đo làm cho tứ thơ vụt bay đi hết. Tôi trỏ con dao rừng đeo lủng lẳng bên hông anh Mọi mà nói với Việt:

– Con dao đó với cái cổ mình gần lắm.

– Anh chỉ việc nói gở !

– Khì… khì…

Tôi cũng hơi ân hận vì đã gợi lên những điều mà chính mình cũng sợ. Thà giữ nó trong lòng.

Tôi càng tức giận hơn cái anh cán bộ trung ương nói chuyện trên trời dưới đất. Nói mười chuyện chưa nghe một, còn chin chuyện kia thì sai hết đủ vừa chin. Nhập vào đường Trường Sơn này, chúng tôi giống in như là những con kiến bị ném vào một cái chảo nước, mạnh con nào con ấy bơi, bơi tới đâu thì tới, càng bơi thì nghe nước càng nóng, và cuối cùng theo qui luật của chảo nước trên lửa là nước sôi. Nước sôi đối với một lũ kiến!

Một thứ tổ chức vô tổ chức, một sự phản khoa học, phản tình cảm của con người, xem mạng người không bằng mạng kiến.

Thà rằng mình đi vào một cuộc phiêu lưu mà mình biết trước rằng đó là cuộc phiêu lưu. Thà rằng mình như cái lá trôi theo dòng, mà mình biết trước thân phận mình như cái lá ấy, nước trôi tới đâu thì trôi, thà như thế mà mình vui lòng. Còn đằng này cái gì nói ra nghe cũng chắc như đinh đóng cột nhà vậy mà khi đi ra rồi thì không có cái đinh nào đóng cột nào cả.

Hành quân chiến đấu gì kỳ cục vậy? Giống y như là chuyện chơi, chuyện bời, chuyện hài, chuyện huớc.

Đang đi mà cứ nghĩ chuyện lung tung thì cũng đỡ lo.

Anh người Mọi đi lóm thóm trước mặt tôi, lưng anh ta hơi còng đầu bỗ tới, hai cái chân gầy như hai que củi và thanh dao rừng đeo bên hông cứ gõ vào cái đít gùi đeo trên lưng như một thứ nhịp trường canh cho anh ta đều bước.

Đang đi bỗng anh ta quay lại:

– Ớ … ớ…. – Anh ta chỉ vào thắt lưng của tôi.

Tôi không hiểu việc gì. Tôi rợn người. Tôi nghĩ là anh ta chỉ vào con dao găm của tôi. Cha chả! Muốn gì mà anh ta chỉ vào con dao găm, con dao mà có lần tôi đã trình diện với độc giả. Nhưng dầu sao nó cũng là cái dao găm.

Tôi nhìn trong đôi mắt anh Mọi. Một tia sáng kỳ quặc ánh lên báo hiệu điềm chẳng lành. Trong lúc anh ta chưa có thêm cử động nào thì tôi rút con dao găm ra cầm tay, thủ thế.

Nhưng anh ta đã sờ lấy chiếc thắt lưng của tôi mà rên rỉ, như tiếng kêu rên của một con vật bị tử thương.

Tôi càng sợ hãi. Có lẽ anh Mọi này còn mang trong mình mối quốc thù của một dân tộc ly tan và không quên mối thù nước đó.

Họ không thể nào rửa hận cho non sông của họ thì họ thoả mãn cá nhân họ: giết vài người Việt Nam trong cái dịp may hiếm có này!

Vì vậy cho nên tôi càng thấy anh Mọi dẫn đường vui vẻ bao nhiêu tôi càng ái ngại bấy nhiêu. Tôi cứ nghĩ rằng anh ta lừa chúng tôi vào một cái bẫy mà đến lúc này dù có muốn thoát cũng khó.

Có thể bọn Mọi cắt cổ tế sống chúng tôi trong một buổi lửa trại huy hoàng để rửa hận cho đất nước chúng. Chúng sẽ nhảy múa suốt sáng bên xác hai thằng Việt Nam.

Đột nhiên tôi bảo Việt:

– Quay lại cậu à!

– Sao?

– Tớ ớn quá, linh tính báo trước thế nào ấy.

– Linh quái gì, đói bỏ mẹ rồi còn linh với tính.

– Nếu có chuyện gì xảy ra thì sao?

– Chết là cùng!

– Lý sự cùn thế!

– Chớ anh muốn làm sao? Rút lui à? Muộn rồi!

Tôi thở dài. Quả thật hai đứa đã đi quá xa trạm, kêu sao thấu được?

Thôi đành nhắm mắt đưa chân.

Đã thấy những mẩu lá giống như rau muống, những ống nứa đen thui dùng nấu cơm nếp và những cái xương còn dính thịt vương vải ở ven bờ suối.

Người Mọi bản xứ kêu ré lên. Anh ta giơ cánh tay khẳng khiu lên run run và thét những câu không rõ nghĩa gì. Tôi có cảm giác hắn như một tướng cường sơn gào thét ra lệnh với lâu la.

Người ta ào ào chạy tới, mang theo cùng với họ mùi hôi tanh của những cái khố lâu năm không giặt, những thân hình nhớp nhúa, bệnh tật đến đổi ruồi nhặng cũng không đậu vào.

Họ không ngần ngại xáp lại gần bên tôi và Việt, giật ngay những món hàng trên tay tôi. Tôi không chần chờ giương những món hàng lên vai lên ngực tôi. Nói tóm lại chúng tôi trở thành những con man- nơ- canh (mannequin) sống, quơ múa mặt hàng khêu gợi khách: những cái quần, cái áo lụa Hà Đông, những chiếc áo cổ vuông, những bộ đồ kaki còn mới nguyên, những cái khăn sọc rằn kiểu Nam Bộ….

Họ cầm lấy ướm thử vào mình một cách khoái trá, tự nhiên, như trong đời họ chưa từng thấy những vật này bao giờ.

Một chị đàn bà tay bế con, quơ lấy cái áo lụa trên vai tôi phất lên người chị. Có lẽ chị chưa biết xỏ tay vào áo bao giờ. Chị kêu lên the thé, tỏ vẻ ngạc nhiên thích thú đến cực độ.

Tôi nhìn chiếc áo lụa phủ trên vai chị mà xót xa. Da của chị là một sự tương phản tàn nhẫn đối với màu lụa Hà Đông mịn màng.

Người đàn bà gọi ngay đàn gà của mình lại.

Chúng chạy nhảy dưới sàn nhà. Một con gà mẹ đang xù lông lên gọi đàn con đang chạy chung quanh nhà kiếm ăn.

Lâu quá tôi không trông thấy cảnh gà mẹ túc gọi gà con xúm xít, mổ thóc trên sân. Chúng tôi đang đi trên con đường dẫn chúng tôi vào sự man rợ.

Bỗng anh Mọi khi nãy nhảy xổ đến nắm lấy thắt lưng tôi vừa kêu lên:…Ù ơ ơ…ư….ư vừa ra dấu.

Tôi không rõ anh ta muốn nói gì chỉ biết anh ta thèm sợi thắt lưng của tôi để đeo con dao rừng.

Tôi suy nghĩ mất một phút. Cái thắt lưng này là một loại hàng chiến lược vô cùng quan trọng. Chung quanh nó bám đầy những hàng chiến lược khác như: vải che mưa, bông băng phòng khi bị thương, dao găm, cây rút dép. Nhiều người đeo cả bi- đông vào đấy v.v… . Không có thắt lưng thì đeo các thứ đó vào đâu?

Ví dụ như trời mưa bất ngờ thì vải mủ đấy, lấy ra mà choàng. Dép sút bất ngờ thì cây rút dép lấy ra mà xỏ vào mà đi ngay.

Và còn một tác dụng lớn nhất là…khi đói thì uống nước suối và thắt lưng buộc bụng lại mà đi!

Ấy vậy mà tôi phải gật đầu đồng ý đổi chiếc thắt lưng cho anh Mọi.

Tôi mở ra ngay. Tôi thấy những khó khăn hiện ra trước mắt khi không có cái thắt lưng, nhưng cái thắt lưng đẻ ra bao nhiêu là thịt thà, cơm gạo. Những cái này thì cần thiết hơn cả những gì gì cao quý nữa kia chứ đừng nói là cái thắt lưng.

Cho nên tôi trao cái vật quý đó cho anh Mọi một cách khá tự nguyện. Anh ta nịt ngay và buộc chiếc dao rừng vào đấy, rồi vừa đi, anh vừa ngắm con dao đong đưa bên hông có vẻ hào hứng lắm.

Bỗng Việt vỗ vai tôi:

– Mình làm một con cầy đi anh!

– Cầy gi?

– Cầy chớ cầy gì!

Tôi ngẩn người ra một lúc mới nhớ lại cái tiếng quen thuộc đó. "Cầy"!

Tôi gật đầu. Việt chỉ cho tôi xem một trự mặc "com- lê" đen mướt dưới sàn nhà. Tôi thích quá! Tất cả các món nấu tuyệt ngon trong cái bếp thịt cầy bốc lên mũi tôi.

Chú Mực vẫn nằm im nhìn chúng tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên.

Việt vỗ vai anh Mọi và trỏ vào con Mực.

– Đổi cái đó nghe!

Anh ta đang ngắm nghía sợi thắt lưng với cái "búc" bằng đồng sáng loáng và tự ngắm nghía bộ tịch của mình khi được mang sợi thắt lưng ấy. Thấy anh Việt trỏ con chó, anh ta gật ngay, ú ớ mấy tiếng và cười khoe hàm răng dưới vàng ệch khói thuốc còn hàm răng trên thì cưa mài đến sát nớu.

Tôi có kinh nghiệm, khi đổi đồ với họ, họ đòi món gì mình chịu món ấy thì mình đòi lại món gì của họ cũng được. Ví dụ như sợi thắt lưng có đáng giá là bao nhưng mình có thể đổi bắt con chó. Còn nếu họ không thích thì dù mình cho cả bộ đồ mình vẫn không lấy được của họ một trái chuối.

Anh Mọi hăm hở vào nhà rồi trở ra với một vắt cơm trên tay. Anh ném vắt cơm xuống đất, vẫy tay gọi con chó lại. Con chó ngây thơ men đến bên vắt cơm giữa tiếng cười khúc khích của đám người.

Con chó vửa dí mõm vào mớ cơm thì nhanh như sóc, anh Mọi nhảy tới. Như có võ nghệ, anh ta chộp một chân sau của con chó, rồi trong lúc nó chưa ngoái cổ lại kịp để đớp vào tay anh thì anh đã nhoài tới hai tay chận ngang cổ con chó thật chặt và giở hổng nó lên khỏi mặt đất.

Khốn nạn, con vật bị lừa, bị tóm ngang cổ. Cái lưỡi của nó thè ra dài nhằng, cặp mắt nó lòi ra như hai hạt nhãn. Một người khác trẻ tuổi hơn đã thủ sẵn một sợi dây, nhảy tới và trói giật cánh khuỷu hai chân trước của con chó lên trên lưng.

Xong anh Mọi ném con mực xuống đất. Nó nằm kêu ri rỉ bên đống cơm chưa ngửi được hạt nào.

Tội nghiệp! Nó bị chủ nó lừa.

Nó tưởng được ăn ngon, chẳng dè bữa ăn được thay bằng cái chết.

Tôi mừng quá đưa luôn cho anh Mọi cả bộ đồ lụa Hà Đông. Đối với tôi bộ đồ lụa này chỉ là một gánh nặng, chứ không có nghĩa lý gì. Trên đường này không ai mặc đồ lụa, không ai chữa sốt rét bằng lụa, cũng không ai giải quyết cơn đói bằng lụa, và cũng không ai ràng rịt đôi chân rã rời bằng bộ đồ lụa bao giờ.

Một con chó! Từ đó tôi giải quyết được tất cả, kể cả cái mộng tưởng của tôi là về đến tận quê nhà. Bao món ăn, một bữa cỗ giành cho chúng tôi, và ba-lô của chúng tôi sẽ phình ra vì những gói ruốc chà bằng thịt chó.

Nhưng chưa đủ! Một con chó không đủ cho chúng tôi cứng đầu gối suốt con đường đi Ông Cụ. Tôi ngó quanh quất. Tôi lại trỏ vào lũ gà đang chạy lao xao dưới sàn nhà.

Một người đàn bà lấy chiếc quần đùi bằng vải thôi trên tay tôi và gật đầu ngay. Chỉ trong giây lát tất cả đồ đạc của chúng tôi tan biến đi ngay và chúng tôi được một số gà, một con chó và một trái bí đao rất to.

Việt cởi luôn quần áo đang mặc, chỉ chừa lại cái quần tiều, ném cả xuống đất và ra dấu đổi đồ. Tôi bảo:

– Đổi thì đổi luôn một thể!

Tôi thấy số thực phẩm nhiều quá không biết làm cách nào chở chuyên cho hết. Tôi bèn nghĩ cách làm thịt con chó tại chỗ rồi khiêng thịt về nhà cho nhẹ nhưng Việt phản đối. Việt đi chặt một cái đòn dài rồi tất cả gà và chó xỏ qua cây đòn, mỗi đứa khiêng một đầu.

Bỗng nhiên anh Mọi đến đứng trước mặt tôi và xoè một bàn tay ra trợn hai con mắt lên trắng dã trông rất khiếp đảm và quát:

– Đá lửa!

Anh ta nói rất rõ tiếng, và xoè một tay ra như biểu hiện quả quyết bắt tôi phải cho hắn. Đá lửa trong túi tôi còn đến những 40 viên nhưng biết chừng nào đến nơi mà cho được? Đi rừng không thể thiếu lửa!

Vì vậy tôi hơi lưỡng lự nhưng tôi thấy cặp mắt trắng dã của anh ta thì tôi hãi quá. Tôi lấy ra một viên. Chỉ một viên thôi, ruột tôi cũng đã thắt lại. Trông thấy viên đá của tôi đặt trên bàn tay anh Mọi tất cả những người đứng chung quanh reo lên mừng rỡ, bằng thứ tiếng riêng của họ nghe rất đáng sợ.

Rồi tôi và Việt bắt đầu lạch bạch khiêng mớ chiến lợi phẩm về. Vừa đi, tôi cứ nơm nớp lo. Chúng sẽ phục kích ở ven suối. Chúng chỉ cần lẫy tôi và Việt mỗi đứa một mũi tên thuốc độc. Pạch! Không nghe tiếng động, thế là xong đời, chúng tôi ngã gục xuống suối và hồn lìa khỏi xác. Thế là hết về quê!

Tôi cứ thấy trước mặt tôi cái anh Mọi lưng mang gùi lom khom đi như cuốc lủi. Cái bộ mặt anh ta trông hì hợm đáng ngại quá! Và con dao rừng bên hông anh ta nữa, cái lưỡi nó dài và sáng loáng quá đi mất.

Tôi đang nghĩ như thế thì nghe có tiếng chân sột soạt phía sau lưng. Tôi quay lại thì đúng thật anh Mọi đang sải những bước dài đuổi theo chúng tôi.

Tôi bảo Việt:

– Nhanh lên cậu!

– Nặng bỏ mẹ, nhanh gì nổi anh!

– Tớ sốt đây mà còn đi nổi.

Tôi không muốn nói với Việt cái hiện tượng nguy hiểm ở phía sau lưng chúng tôi, sợ truyền sang Việt sự sợ hãi.

Cho nên tôi chỉ giục suông anh ta chớ không nói lý do. Nhưng Việt cũng là người thông minh, có lẽ anh ta nghe trong giọng nói của tôi điều gì bất thường.

Việt quay lại và nói ngay với tôi:

– Làm gì anh ta có vẻ đuổi theo mình dữ vậy anh?

Tôi muốn trấn tĩnh Việt nên chối quanh:

– Có lẽ anh ta vội ra nương rẫy gì đấy thôi.

Nói xong tôi quay lại thì thấy anh Mọi chạy lúp xúp.

À, chết rồi, hắn đuổi theo chặt đầu mình lấy đá lửa và tìm muối. Tôi vụt nhớ chuyện những anh Mọi đổi một cái thủ cấp lấy 1 kí lô muối.

Trong nhà họ có một cái ống tre bộng trong đó chỉ có vài hạt muối. Những lúc bệnh nặng họ mới lấy muối ra ăn. Những buổi giỗ lớn họ ngồi quanh đống lửa chuyền tay nhau một cục muối, mỗi người liếm một cái đến suốt lượt rồi lại bỏ vào ống tre treo lên bếp như một thứ thuốc quí, một vị thần linh.

Anh Mọi này biết chúng tôi có muối nhưng giấu anh ta. Có thể là như thế!

Nghĩa vậy hai đứa chúng tôi bảo nhau bắt đầu chạy nhanh lên. Tôi quay lại thì thấy anh Mọi cũng đuổi theo. Đích thị anh ta định làm thịt chúng tôi rồi. Thế nào sau lưng anh ta cũng có một đoàn chạy theo tay nỏ tay cung.

Qua suối, gặp chỗ nước tràn, Việt vừa lội xuống thì vấp ngã. Tôi cũng ngã theo. Lũ gà và con chó dẫy dụa nước văng trắng xoá và kêu ré ầm lên như một bản nhạc loạn.

Anh Mọi đã đến sát bên tôi khi tôi mới vừa lồm cồm ngồi dậy, chưa kịp thủ thế. Anh ta cười. Anh ta đưa cái nón của Việt bỏ quên.

Tôi thở phào, hú hồn hú vía!

Tôi cầm cái nón đưa cho Việt và gật gù tỏ vẻ cảm ơn anh ta. Anh ta lại xoè bàn tay ra theo cái kiểu lúc nãy.

– Đá lửa!

Ý anh ta muốn đòi trả công.

Mặc kệ, tôi không đắn đo, tôi chỉ biết móc túi đưa cho anh thêm một viên đá nữa. Tôi liếc nhìn, gương mặt anh ta rất hả hê. Có lẽ mục đích mang cái mũ ra là thế.

Tôi và Việt nhấc đòn đặt lên vai. Gà và chó bị nhúng nước ướt mèm. Chúng kêu vang động. Gà đập cánh, chó dẫy dụa nước văng đầy mặt chúng tôi. Thiệt là một pha đặc biệt trong cuộn phim dài Giải Phóng Miền Nam.

Đến vừa đúng chỗ khúc quanh thì gặp một lão chài cá. Trong gùi lão ta có mớ cá to. Tôi bảo Việt ngay:

– Kiếm thêm mớ cá cậu ạ!

– Thịt nhiều quá rồi, ăn ngả nào cho hết?

– Cậu đừng tưởng việc ăn uống trong vài hôm mà nên nghĩ tới cái khả năng vài tháng.

– Ừ, nhưng mà nặng ba-lô quá thì sao?

– Cái gì nặng chớ mang thức ăn thì không nặng.

– Nhưng mà, có cái gì đâu mà đổi.

– Lột quần áo ra mà đổi chớ.

Chúng tôi để gánh thực phẩm xuống và men lại lão già đang chài. Tôi vừa đi vừa cởi áo cởi quần ra. Chỉ còn cái quân xà lỏn dính da. Tôi đưa bộ quần áo vừa lột ra khỏi người tôi và vẫy vẫy . Lão già vứt chài trên phiến đá và đi nhanh về phía tôi ngay.

– U…u…ơ…ơ…

– U…u…ơ…ơ… – Tôi vừa lên tiếng vừa trỏ vào cái gùi cá.

Lão già gật đầu ngay. Không suy tính thiệt hơn gì hết, tôi vứt cả bộ đồ trên phiến đá và mó vào mấy con cá trong gùi.

Chao ôi! Thiệt là mát tay, nhớt cá nhầy nhụa như truyền cho tôi sinh lực mới. Nhớ hôm trước đây cũng có lần đi qua suối có một cậu bất ngờ bắt được một con cá không rõ là cá gì.

Hình thù nó không giống loại cá nào ở đồng bằng hết. Khi đến chỗ nghỉ quân, cậu ta đem con cá ra đánh vảy thì một cậu khác gắt ầm lên:

– Sao lại đánh vảy, hả? Cứ rửa sơ sơ thôi, miễn có chất tanh vô người thì gân cốt khoẻ lên thôi!

Và cậu kia ngoan ngoãn nghe lời. Của đáng tội, con cá chỉ bằng ngón tay cái thôi!

Chất tanh ! Đó là cái chất gì?

Trên đường dây này đã phát minh ra cái "chất tanh" đó. Nó bổ dưỡng vô cùng.

Có biết bao nhiêu chất tanh trong gùi của ông lão chài cá.

Tôi cầm từng con cá ra xem. Mùi tanh của nó phất vào mũi làm tôi khoẻ thật. Mồm tôi ứa ra bao nhiêu là nước dãi.

Tôi cứ tha hồ chọn và bắt. Tôi bắt một con cá chép rõ to. Vảy nó ánh lên như bạc, mắt nó long lanh. Chỉ nội vảy của nó cũng đủ nấu nồi canh chua.

Việt bắt được một con cá chài đuôi đỏ, mình nó thon dài như ống trúc, nung núc những thịt.

Lão chài được cả một bộ đồ hình như không thiết tới gì nữa, để cho hai vị khách quý tha hồ bắt cá của lão.

Lão đang loay hoay có lẽ không biết làm sao để mặc áo quần. Tôi thấy vậy bèn đến chỉ cách cho lão ta. Chỉ một loáng lão ta đã mặc xong bộ áo quần vào người . Lão cứ đứng xoay bên này xoay bên kia, tự ngắm mình mãi với sự ngạc nhiên kỳ lạ.

(xem tiếp tại https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/05/dường-di-khong-dến-13/)

Đánh máy: Lê Thy