Monday, September 26, 2011

Cà phê cà pháo

Lâu ngày cả đám bạn thời Trung Học mới có dịp trốn vợ con, công việc hàng ngày, để ngồi lại với nhau. Mới đó giờ đã ba muơi năm. Thằng H tóc bạc trắng như một ông cụ bảy mưoi. Trước, chúng tôi có thể ngồi đồng ở quán cà phê mỗi ngày. Bây giờ thì không. Giờ phải hẹn hò, email điện thoại qua lại, lên lịch sao cho thuận tiện trước đấy cả mấy tuần. Lý do: thằng T từ Việt Nam qua chơi. Thằng P làm cả bọn ngỡ ngàng khi đến quán cà phê.

Xưa, cô hàng cà phê kín đáo trong trang phục nhưng đủ làm cho nhiều thằng trong chúng tôi phải bàn tán. Nay, cô hàng cà phê chân dài, quần áo chỉ có hai mảnh, vài thằng trong chúng tôi sợ, phải đưa mắt nhìn quanh ;-)

Xưa, cô hàng cà phê "anh" với "em" chúng tôi thấy thoải mái, tự nhiên. Nay "anh" với "em" thấy kỳ kỳ, lấn cấn. Mấy cô tiếp viên này cũng trạc tuổi đám nhỏ trong nhà. Thằng khỉ T vẫn còn máu tếu như ngày xưa "Cô cho tui xin ly sữa..."

Xưa, cả đám không thằng nào không phì phèo điếu thuốc. Nay chẳng thằng nào châm một điếu tương tư thảo cả. Phải chăng con cái, thời gian đã làm chúng tôi bỏ thuốc lá.

Xưa, chúng tôi ngồi đồng cả giờ ở quán cà phê mà không cần phải bận tâm đến chuyện khác. Nay, ngồi với nhau, đứa này đứa kia thỉnh thoảng check xem cái phone của mình có tin nhắn hay cuộc gọi nào không.

Xưa và nay, tình bạn chúng tôi vẫn không thay đổi

Wednesday, June 29, 2011

Gặp nhân chứng trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 (27/06/2011)


Cuối tuần qua, đại diện báo Đại Đoàn Kết đã tìm về miền Tây Nam Bộ để gặp lại những nhân chứng sống trực tiếp tham gia trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1- 1974. Qua từng câu chuyện cảm động được các ông kể, chúng tôi cảm nhận cảm xúc đặc biệt mà những người Việt đã phải trải qua khi chứng kiến biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bị xâm chiếm bằng vũ lực.

Chiến đấu tới hơi thở cuối cùng
Giai đoạn 1973 – 1974, khi Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris đã được ký kết, việc quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được trở thành việc riêng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đặc biệt, cùng với rút quân trên bộ, Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ cũng được lệnh rút hỏi khu vực Biển Đông.

Mỹ rút, đồng nghĩa với việc viện trợ quân sự của Mỹ ngày càng giảm buộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải chuyển dần các lực lượng hải quân đang chiếm giữ tại quần đảo Hoàng Sa về hỗ trợ cuộc chiến trên đất liền, chỉ để lại một trung đội địa phương trấn giữ. Ngay sau đó, Trung Quốc tiến hành liên tiếp các cuộc đổ bộ xâm chiếm các đảo đá và bãi ngầm trên quần đảo Hoàng Sa, cho đến khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa phát hiện được vào tháng 1-1974 và xảy ra trận thủy chiến để bảo vệ Hoàng Sa.

Ông Trần Văn Hà (tên thường gọi Tư Hà, 58 tuổi, hiện cư ngụ tại xã Phong Thạnh Đông A, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), thủy thủ tàu Nhật Tảo (HQ - 10), một trong 4 chiến hạm của Việt Nam Cộng hòa tham gia vào trận chiến kể lại: "Chiều 18-1, khi đang tuần tra ở vùng biển Đà Nẵng – Quy Nhơn, tàu chúng tôi bất ngờ nhận được lệnh đi Hoàng Sa. Không khí của các thủy thủ tàu lúc đó đều hết sức căng thẳng, nhưng tất cả đều sẵn sàng chiến đấu vì chủ quyền thiêng liêng của cha ông để lại. Cũng ngay chiều cùng ngày chúng tôi được học các ký hiệu nhận dạng tàu địch để sẵn sàng chiến đấu".

Theo ông Hà bồi hồi nhớ lại, cùng với tàu HQ-10, còn có 3 tàu khác của Việt Nam Cộng hòa tham gia trận chiến là tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4). "Sáng 19-1, khi tàu Nhật Tảo tới đúng tọa độ vị trí tập trung thì đã thấy 3 tàu bạn có mặt, nhưng cách khu vực tập hợp vài hải lý còn có thêm 4 tàu Trung Quốc cùng xuất hiện. Linh tính tôi mách bảo chắc chắn sắp xảy ra giao tranh giữa hai phía".

Tiếp đó, các tàu Việt Nam liên tục phát tín hiệu hàng hải yêu cầu tàu Trung Quốc di chuyển ra khỏi khu vực chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, phía tàu Trung Quốc cũng phản ứng lại tương tự. Tới 10h30 cùng ngày, khi Trung Quốc tiếp tục bất hợp tác, có dấu hiệu cố tình gây sự, dùng bạo lực tấn công xâm chiếm biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam thì không còn cách nào khác, tàu Nhật Tảo được lệnh khai hỏa.

Ngay sau đó, liên tục các tiếng nổ lớn dồn dập oang trời từ cả hai phía. Riêng tàu HQ-10 bị hỏa lực của địch bắn dữ dội; thông tin cháy ở các buồng máy 1, sau đó là buồng máy số 2 được truyền đi liên tục qua bộ đàm. "Bộ phận thủy thủ cơ khí chúng tôi được lệnh lên boong tàu hỗ trợ lực lượng trực chiến lúc này đã bị chết phần nửa. Xác chết đầy trên boong; tàu bị hư hỏng nặng và bốc cháy nhiều vị trí. Ngay cả hạm trưởng Ngụy Văn Thà cũng bị chết do đài chỉ huy bị hỏa lực địch bắn trúng". Ông Hà nhớ như in: "Khi tàu đã mất khả năng khiển dụng, HQ-10 phát tín hiệu cầu cứu sang các tàu bạn, tuy nhiên lúc này cả HQ-4 và HQ-5 đã rời đi, còn tàu HQ-16 tuy chưa rút kịp nhưng cũng bị hư hỏng nặng, khó có thể tương trợ HQ-10. Ngay trong khoảnh khắc đó, chúng tôi nghe lệnh mới từ Bộ Chỉ huy yêu cầu thủy thủ tàu đào thoát xuống các bè lưới trôi trên biển".

Ông Trần Văn Hà, một trong những thủy thủ thoát khỏi tàu sau cùng và nằm lênh đênh trên biển trong khu vực xảy ra trận chiến nên đã chứng kiến và kể lại: "dù bị hư hỏng nặng, phần nửa thủy thủ tàu đã chết, tuy nhiên những thủy thủ bị thương không còn khả năng đào thoát vẫn tiếp tục bám giữ vị trí chiến đấu. Các khẩu pháo 40 ly từ HQ-10 vẫn nổ giòn giã vào tàu Trung Quốc khiến các tàu này phải vất vả chống trả. Cuộc đấu súng cứ thế kéo dài tới chiều tối mới kết thúc khi hỏa lực từ tàu HQ-10 ngừng hẳn và chìm xuống biển sâu".

"Có lẽ đến lúc đó những thủy thủ còn lại trên tàu đã kiệt sức hoặc bị trúng đạn. Họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để hơn 20 đồng đội đào thoát thành công trên các bè lưới. 58 người con nước Việt đã ngã xuống biển sâu trong trận chiến này vì đã chiến đấu đến cùng để bảo vệ vùng biên cương của Tổ quốc Việt Nam", ông Tư Hà xúc động.





"Cảm nhận chủ quyền dân tộc nơi đảo xa"
Ông Nguyễn Văn Chọn (61 tuổi, hiện ngụ tại xã Phú Nghĩa Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An), thủy thủ tuần dương hạm HQ-6 kể lại: "Sáng ngày 19-1, tàu HQ-6 được lệnh tức tốc ra Hoàng Sa hỗ trợ trận chiến. Tuy nhiên, do xuất phát chậm, HQ-6 đã không thể tới kịp hỗ trợ đồng đội, cùng lúc đó thì tin hộ tống hạm Nhật Tảo bị nạn khiến chúng tôi hết sức lo lắng về số phận của anh em thủy thủ tàu. Thật may, 4 ngày sau tin anh Tư Hà (tên thường gọi của ông Trần Văn Hà-NV) cùng 19 thủy thủ khác được tàu Hà Lan cứu sống đã phần nào khiến chúng tôi nguôi ngoai. Sau đó hầu hết chúng tôi được phân công nhiệm vụ khác".

Từng nhiều lần tuần tra trên quần đảo Hoàng Sa, ông Chọn cho biết: "trong giai đoạn từ năm 1971 – 1973, tuần dương hạm HQ-6 từng nhiều lần được lệnh tuần tra khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trong những lần ấy, tôi từng trực tiếp phát hiện các bia chủ quyền có khắc ngự bút của vua Minh Mạng, ngoài ra có một đảo tương đối lớn (không nhớ tên) còn có cả Đài Khí tượng do Pháp dựng từ các thập kỷ trước đó".

Về sau này, trong các tài liệu còn lưu giữ lại xác nhận Đài Khí tượng trên quần đảo Hoàng Sa là do Pháp xây, trực thuộc Ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một đơn vị hải quân của Chính quyền Sài Gòn cũ. Điều này cho thấy hồi ức của ông Chọn là có cơ sở, hơn nữa cũng phù hợp với các thư tịch từ thời Nhà Nguyễn đã xác định.

"Cuộc chiến đã lùi xa hơn 38 năm, dù không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng của ông cha nhưng chúng tôi luôn nhận thức nơi biên cương ấy vẫn là vùng biển đảo chủ quyền của dân tộc Việt Nam; là máu, là nước mắt mà biết bao con người Việt Nam đã hi sinh để bảo vệ", ông Chọn tâm sự.

Thạch Sơn - Thành Luân
http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Chitiet=33184&Style=1

Monday, June 20, 2011

By Luu Van Loi

I. THE ĐẠI VIỆT DISCOVERED THE HOÀNG SA

If the Biển Đông (the South China Sea), like the Mediterranean Sea, is a strategical sea, there is, however, a great difference with regard to the history of navigation. As early as the years 3000 B.C. Phoenicians, Carthaginians, Cretans, Romans, and Greeks used that sea as a route of liaison and commerce with other riparian countries and made commercial and cultural exchanges with riparian countries from as far as the Black Sea. Maritime navigation was very developed in the region. On the contrary, in the Biển Đông, situated in a populated region and at the crossroads of several civilizations, for a rather long time the maritime activities of riparian peoples remained limited on a national scale. Movement by sea within the region was already difficult, all the more so with other regions. The reason was that the Biển Đông area is strewn with a multitude of islets and coral shoals which are very dangerous to navigate. Moreover, it is in a region of tropical tempests unbearable for the ships of that time. For these reasons, only after maritime navigation had made great technical progress, for example the possibility of building large ships, the invention of new forms of sails, and especially the invention of the navigation compass, could the ships, going to SEA or starting from there, venture to the high seas. That moment ushered in the era of commercial and cultural exchanges in that region, such as in India, in Western Asia and in Asia Minor.

The first navigators who crossed the Biển Đông were not only the Vietnamese, the Chinese, and the Malays, but also the Arabs, and the Indians. The Arabs came to China in the 8th and 9th centuries. In Quanzhou today, one can still find the mosque Ashab, the Muslim cemetery Lingshan, a statue of Visnu, a few tombs bearing inscriptions in Arabic. In the 13th century, Marco Polo arrived in Quanzhou, which he considered the biggest commercial port of that age. In 580, the venerable Buddhist priest Vinitaruci came to Vietnam by sea. The Chinese venerable Fa Hien came from India to China also by sea. Since the 13th century, Arab traders sailed to and fro on the Bien Dong and controlled a network of commercial representative offices from India to Quanzhou via Malacca.

The Portuguese were the first Europeans who came to East Asia and SEA: In 1505, they arrived in Malacca, in 1510, in Goa (India). They were Portuguese, but they flew the flags of the Spanish king. Magellan circumnavigated the globe and occupied the Philippines in 1521. Later, the Spanish installed a colony there in 1527. In spite of the proximity of this archipelago to the Spratly, the Spanish did not occupy any of its islands or shoals. Over many subsequent centuries, the Chinese had to cope with ethnic peoples of the West and the North, therefore their policy was essentially continental. But since the withdrawal to Hangzhou, the Southern Song could control the coastal region and the Yangzi and ever since they implemented a maritime policy. Under the Ming, emperor Young Le hastily built big boats, called bao chuan (treasure ships) and had the great eunuch Zheng He conduct an extremely strong fleet composed of 300 vessels (including 60 bao chuan) and nearly 30,000 men to SEA, the Indian Ocean, and the African coasts.

These were the seven voyages in the Southern seas carried out by Zheng He over 28 years. Crossing the Bien Dong in the course of nearly 30 years, sometimes passing by the Paracels, Zheng He did not occupy any island or shoal of the Paracels or the Spratly, leaving no trace there. Succeeding the Ming, the Qing pursued at first the policy of haifang (coastal defense) aiming at defending the coasts and the rivers. In the middle of the 19th century, after being defeated in the opium war, they thought to build a modern navy with Europeans as
instructors. This policy did not realize its power in time to resist the fleets of Western countries and that of Japan. So, unable to defend themselves on land and having no large vessels, how could they venture into the Biển Đông to lay hold of new lands?

The Dai Viet (ancient name of Vietnam) was a small country spreading along the coast of the Biển Đông. But as early as its creation, it was already a maritime country. War junks engraved on the bronze drums discovered in many parts of Vietnam show that in ancient times, the Vietnamese people already set great store by maritime navigation and reinforcement of naval forces. In the 17th century, the navy of the Nguyen seigneurs twice vanquished the warships of the Dutch. In the 18th century, the fleet of the Tây Sơn destroyed the fleet of Siam at Rạch Gầm- Xoài Mút. During that time, the navy of Cochinchina was provided with ships armed with howitzers and artillery guns.

Faced with the vital necessity of expanding their land, the Nguyễn seigneurs not only continued their march southward, but also made voyages on the high seas to occupy and exploit the islands of Hoàng Sa (i.e. the two archipelagoes). With the available documents, we can affirm that, at least, since around the 17th century, the Vietnamese feudal state had discovered and occupied the Hoang Sa (name of the Hoàng Sa and Trường Sa archipelagoes at that time) which did not belong to any state.

II. THE NGUYEN SEIGNEURS PERFORMED THEIR STATE FUNCTIONS OVER THE HOANG SA

At the beginning, the Vietnamese gave to the newly discovered islands the name in Nôm (demotic characters): Bãi Cát Vàng. The name Cát Vàng was marked on the map of Đỗ Bá Công Đạo. The Englishman Gutzlaff, in an article - "Geography of Cochinchina" -inserted in the review Geographical Society of London of 1849 also calls it Katvang(5).

In an article about Vietnam (Memoir on the Geography of Cochichina) published in the Journal of the Asiatic Society of Bengal, September 1837, bishop J.L.Taberd used the name Catvang (6). Dubois de Jancigny, in his book The Universe, History and Description of All Peoples, their Religions, Customs and Habits: Japan, Indochina, Ceylon, etc. spoke of Hoang Sa under the name Katvang... It is only later that the name was sinized into Hoang Sa (which always means "yellow sand").

The Vietnamese feudal state occupied the Hoang Sa through an organization set up by the State. Therefore, it actually occupied the Hoang Sa that the Kergariou-Locmaria expedition in 1787 – 1788 described the area as composed of two different archipelagoes separated from each other by a 500 km wide channel.(7) The Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (Collection of route-maps of the Southern Country) writes:

"In the middle of the sea there is a great sand shoal called Bãi cát vàng about 400 dặm long and 20 dặm wide which spreads on the sea... Each year, the last month of winter, the Nguyen sent there 18 junks to recover the goods, thus obtaining a great quantity of gold, silver, money, arms and ammunitions"(8).

The Bãi cát vàng is drawn in front of the district of Bình Sơn of the prefecture of Quảng Nghĩa and the island Cù Lao Ré very far from the coast. Immediately after its discovery, Bãi cát vàng was merged into the territory of Đại Việt, more precisely to the prefecture of Quảng Nghĩa.

All the official works of the State written by Institute of National History speak of Hoang Sa. The Đại Nam thực lục tiền biên (1844 - Authentic writings on the Dai Nam) in the part reserved for the Nguyen seigneurs writes:

"At sea beyond the commune of An Vĩnh, district of Bình Sơn, province of Quảng Nghĩa, there are more than 130 shoals and reefs separated from one another by one day or several geng. No one knows the length is how many thousand dặm (commonly called Vạn Lý Hoàng Sa); there is fresh water and such products as the holothurians, the scaled tortoise, mother-of-pearls, plaices"(9).

The Đại Nam thực lục chính biên (1848 - Authentic writings on the Đại Nam) part reserved for the Nguyen kings writes:

"The Hoang Sa are situated in the waters of Quảng Nghĩa, where the sky and the sea intermingle, preventing the evaluation of the depth."(10)

And:

"The land of Hoang Sa belongs to our territorial sea and is of great strategic importance..."(11)

The Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (Administrative catalogue of the Dai Nam established by imperial order) written from 1834 to 1851 confirms:

"The Hoang Sa are an integral part of our territory and of a great strategic importance".(12)

The Đại Nam nhất thống chí (Geography of the unified Dai Nam) elaborated from 1865 to 1882 (revised and augmented later), is an official book of the geography of Vietnam written by order of Emperor Tự Đức. In book VI, on the province of Quảng Nghĩa, one finds:

"In the East, the sand shoal of Hoàng Sa spreads and joins the blue sea to make a rampart on the sea; in the West, innumerable rocky walls solidly protect us against the mountain tribes. In the South, in the proximity of the province of Bình Định, the side of Bến Đá constitutes a transversal fortification; in the North, adjoining the province of Quảng Nam, are passes of sandstone which can serve as borders".

"To the East of the island Ré (Ly in Sino-Vietnamese), district of Bình Sơn, are the Hoàng Sa that can be reached from Sa Kỳ coasts in 3 - 4 days and nights with a favorable wind. The archipelago comprises in all more than 130 peaks separated from one another by one day or by a few geng. In the middle of the archipelago is the shoal Hoang Sa (yellow sand) which spreads over one doesn't know how many thousand dặm, commonly called Vạn Lý Trường Sa (shoal of ten thousand miles); fresh water, sea birds in innumerable flocks, holothurians, snails, goods from the wrecked ships are found there."(13)

From the 18th to the 19th centuries, many dignitaries, including the editors and editors-in-chief of the Institute of National History of the Nguyễn dynasty wrote about the Hoang Sa. In 1776, encyclopedist Lê Quý Đôn, then Deputy-governor of Thuan Hoa, wrote in his book Phủ Biên Tạp Lục (Miscellanies on the government of the marches):

"In the offing of the island Re (three or four geng from the coast- Author) there is the Great Trường Sa which formerly gave many sea products for sale in different markets. That's why the State organized the Hoàng Sa company to gather the maritime products. It takes three days and nights to reach the Hoàng Sa, which is close to the Northern country"(14).

In 1821, Phan Huy Chú, a scholar famous for his erudition who was entrusted with important functions, especially those of an editor of the Institute of National History, wrote his voluminous Lịch Triều hiến chương loại chí (Settlements of matters by the successive dynasties). He devoted a long passage to the Hoàng Sa (physical geography, organization of the Hoàng Sa company, resources). Here is an excerpt:

"Here (i.e the prefecture of Tư Nghĩa - Author) the potential is significant; rice is abundant; gold, silver, timber, precious stones, aloes wood, benzoin are all of excellent quality; domestic elephants and horses are also numerous. Moreover, there are islands and islets where precious and strange things are found. In this land (the hamlet of An Vĩnh, district of Bình Định, later called Bình Sơn - Author) on the high sea, there are a great number of islands and islets, approximatively 130 peaks, separated one from another by one day or several geng. To go by the high seas it takes 3 days and 3 nights to reach the Hoàng Sa"(15).

In 1876, Nguyễn Thông, a dignitary to whom Emperor Tự Đức entrusted the revision of the Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (Text and comments forming the complete mirror of the history of Vietnam per order of the emperor) wrote the Việt sử cương giám khảo mục (Brief history of Vietnam) containing the following passage about the Hoàng Sa:

"Vạn Lý Trường Sa: from the island Lý (commonly called Ngoại La, and Weila by the Chinese) i.e. the island Ré, going to the East, one will arrive in three days and nights"(16). The Chinese say "to have discovered" (not in the juridical meaning) the Xisha and the Nansha and to have known of their existence. As for the Vietnamese, not only have they known of their existence but they have effectively discovered (in the juridical meaning) the Hoàng Sa and Trường Sa. Nowhere have the Chinese spoken of the occupation of the islands of the southern sea; they knew of them only, while the Vietnamese said they had occupied the Hoàng Sa and Trường Sa.

III. THE NGUYỄN SEIGNEURS ORGANIZED THE EXPLOITATION OF THE RESOURCES AND THE ADMINISTRATION OF THE ARCHIPELAGOES

Since their appointment by the King Lê as governors of the southern half of the Đại Việt, South of the Đèo Ngang pass, later called Cochinchina, the Nguyễn seigneurs governed a country which was but a coastal band, narrow and unfavourable for cultivation, including: many politically and economically precarious regions. But that country had the great advantage of having longer coasts than the North and bordering the centre of the Biển Đông, which was the platform of the route from Malacca to Canton, Taiwan, and Japan. To profit from this advantage became a state policy for the Nguyen seigneurs, which was composed of the following four points:

1. Organization of the systematic exploitation of the maritime zones.
2. Organization of the control of the sea.
3. Organization of the coastal defense.
4. Organization of the tax collection and commercial exchanges with other countries.

In the course of these activities, the South discovered the islands Cat Vang, far from the coast, which led the Nguyen seigneurs to set up a state organization in charge of their occupation and exploitation. Composed of tiny islets and coral shoals, the Hoàng Sa has few underground resources. Heated each year at least for six months by the tropical sun and suffering drought, the islands are not favourable for agricultural development. There is a layer of guano which covers the ground and constitutes an excellent manure, but before the 20th century, the Vietnamese did not know its use. Only from the second half of the 20th century were undersea mineral resources discovered, and means available to exploit them. As the Đại Nam Nhất thống chí judiciously assesses, "the country produces a lot of holothurians, tortoise shell, snails with pearl, turtles and contains the merchandise left by wrecked ships". The Nguyễn seigneurs had a form of organization for the exploitation of the riches, which consisted in creating companies commanded and managed by the government and permitted to employ specialized personnel, which, in return, received material and political interests. According to the Phu Bien tap luc, the State organized the following companies:(17)

- Company Thanh Châu specialized in the gathering of swallow nests on the islands near the port Tam Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn (prefecture of Quy Nhơn).

- Company Hải Môn specialized in the fishing of sea products and in collecting merchandise beyond the island Phu Quy. According to Lê Quý Đôn, the organization and the administration of the companies Hoàng Sa obeyed the following points:

1. The task of the company was to fish for sea products (motherof- pearls elephants, ear-snails, good-smelling snails, holothurians, tortoise-shell, tortoises...) and to gather the merchandise and objects from wrecked ships (muskets, swords, guns, gold, silver, lead, tin, ivory, porcelain, woollen cloth, cloth, wax etc.).

2. The effective was fixed to 70 men. 3. For the company Hoàng Sa, the recruitment of labour was from the inhabitants of the commune of An Vlnh on the island Re, district of Binh Sdn, by order of the inscription to the role.

4. Advantages given to the members of the company Hoàng Sa: the volunteers had the right to an award of service, to the exemption from the personal tax, corvee, tolls. Those who did not fulfil their task were submitted to punishments corresponding to the gravity of the committed fault. The fulfilment of tasks would give right to a certificate of recognition and a reward in cash. Under the Nguyen emperors, the sanctions remained the same: according to the report of the Ministry of Public Works dated the 13th day, seven month of the 18th year of Minh Mạng s reign (1837), the commander of the naval forces Phạm Văn Biên and the guides Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sinh, and the helmsman Lưu Đức Trực, in the course of a voyage to the Hoàng Sa in 1837, arrived late and, as a result, were punished by flogging. The commander of the garrison Trương Viết Soái, in the course of the voyage in 1836, did not return the maps and for that was condemned to capital punishment, under reserve of the imperial approbation.

5. The duration of the mission was one year: in the 2nd month handing over the order of service; in the 8th month, end of mission and return. The number of junks in use was 5, the supplies were prepared for 6 months.

Later on, the Nguyen seigneurs organized a new company called Bắc Hải with undetermined effectives to be recruited among the inhabitants from the village Tứ Chính, or from the village Cảnh Dương and placed under the command of the company Hoàng Sa. In view of the large area of the maritime zones of Hoàng Sa, the company Bắc Hải was entrusted with the task of operating from the Trường Sa to Poulo Condore and to Hà Tiên. The results obtained by the companies depended on the companies themselves. In general, the products of fishing were up to the norms, but the quantity of merchandise or objects gathered was different each year. In his capacity of Deputy governor, Lê Quý Đôn himself made an enquiry:

"I (i.e Lê Quý Đôn - Author) have examined in person the registers of the Cai Đội Thuyên Đức Hầu and found the following: The year Nhâm Ngọ (1702) the company Hoàng Sa found 30 silver bullions. The year Giáp Thân (1704) 5,100 cân of tin. The year Ất Dậu (1705) 126 silver bullions. ừrom the year Kỷ Sửu (1709) to the year Quý Tỵ (1713), i.e. in five years, the company gathered several cân of tortoise-shell and holothurians. Sometimes only a few tins of salmon, a few bakedearth bowls and two bronze guns were found"(18).

IV. THE NGUYỄN EMPERORS CONSOLIDATED THE SOVEREIGNTY OVER THE TWO ARCHIPELAGOES

After the 1771 insurrection, the Tây Sơn became the rulers of Cochinchina and founded a new dynasty. They attached increasing importance to the development of the navy and the exploitation of the country s maritime position. They maintained the activities of the company Hoang Sa. After overthrowing the Tây Sơn with the assistance of France, Gia Long assumed the throne and ushered in the era of the Nguyễn dynasty. He began the reconstruction of the devastated country by the struggle between the Trịnh and the Nguyễn. At first, he suspended the activities of the company Hoàng Sa to resume them some time later. At least until the reign of Tự Đức, the members of the company Hoàng Sa were glorified as heroes, as evidenced by the funeral oration pronounced at the commemorative ceremony in their honour in their native country.

From 1805 on, Gia Long implemented all over the country a plan aimed at making the inventory of all the lands of each province, each district, and each commune in accordance with common instructions. This plan was continued by Emperor Minh Mạng and completed in 1836, with the achievement of the Địa bạ Gia Long (Gia Long land register).


It is precisely in the framework of this plan that the maintenance of the company Hoang Sa and its activities were carried out for exploitation purposes and for the topographic measurings of the Hoàng Sa.

J.B.Chaigneau, counsellor of Emperor Gia Long, with the Vietnamese name Nguyễn Văn Thăng, writes in his memoirs:

"Cochinchina, the sovereign of which has today the title of Emperor, is composed of Cochinchina proper, Tonquin, a part of the kingdom of Cambodia, some uninhabited islands not far from the coast and the Paracels archipelago, composed of uninhabited reefs and rocks. It is only in 1816 that the present Emperor took possession of this archipelago".(19)

In fact, the Emperor Gia Long did not go to the Hoàng Sa in person, but he sent Phạm Quang Ảnh there. "In the first month of the year Ất Hợi (1815), the King ordered Phạm Quang Ảnh of the company Hoàng Sa to go to the Hoàng Sa to study and to measure the maritime routes..."(20).

"In the year Bính Tý, the 15th year of the reign of Gia Long (1816), the King ordered the navy and the company Hoàng Sa to go in junks to the Hoàng Sa to study and to measure the maritime routes..."(21).

The first kings of the Nguyễn dynasty mobilized the company Hoàng Sa to exploit the islands and the shoals of Hoàng Sa, and at the same time, to reconnoitre, measure the islands and the shoals of the archipelago, and to draw its map.

To consolidate sovereignty

The Đại Nam Thực Lục chính biên writes:

"In the eighth month, in autumn, of the year Quý Tỵ, the 14th year of the reign of Minh Mạng (1833)".

"... the King told the Ministry of Public Works: On the Hoàng Sa in the waters of Quảng Nghĩa, in the distance, one can see the sky and the sea join in the same colour, which makes it difficult to estimate the depth of the sea. Recently, commercial vessels sunk there. We have to prepare junks and send our men there next year to build a temple, to erect a stele, and to plant many trees. In the future, the trees will grow and their greenery will help people recognize more easily the islands and the shoals to avoid being wrecked. It s a good work that will last a long time" (22).

- "In the sixth month, in summer, of the year Ất Mùi, 16th year of the reign of Minh Mạng "(1835).

- ...last year, the King had the intention of building a temple and of erecting a stele in this place (the Hoàng Sa - Author), but the works were prevented by storms. Order is given now to the Cai Đội of the navy, Phạm Văn Nguyên, to dispatch his men there and to the commander of the garrison, the workers of the provinces of Quảng Nghĩa and Bình Định to ensure the transport of materials for the construction of the temple (7 trượng distant from the old temple). To the left of the temple will be erected a stone stele, in front of the temple a windshield. The works must be completed in 10 days and the men must return"(23). Regarding the construction of the temple, the Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ gives the following facts":

"The 16th year of the reign of Minh Mạng (1835), it is respectfully demanded to the King to authorize the construction of a one-room temple in Hoàng Sa (according to the regulations concerning stone houses) to the southwest of the Bach Sa dune, with a stone stele on the left (1 thước 5 tấc high, 1 thước 2 tấc wide). In front, a stone wall will serve as a windshield, on the right and on the left, trees of different species will be planted"(24)

To actively execute topographic measures of the islands and the shoals and to measure the maritime routes. In the cadastral plan of all the country, King Minh Mạng paid attention to the acceleration of the works on land and to the topographic reconnaissance of the islands in the Hoàng Sa. According to the Đại Nam thực lục chính biên, King Minh Mạng gave general and specific instructions to the Company Hoàng Sa:

"The year Bính Thân , 17th year of the reign of Minh Mạng (1836), the Ministry of Public Works reported: the land of Hoàng Sa belongs to our territorial sea and is of great strategic importance...We have sent our men there to draw maps, but in view of the large area of the sea and of its distance, we have managed to carry it out in one place and we don t know how to continue the work. Each year it is a custom to send our men there to reconnoitre and to accustom ourselves to the maritime routes. From this year on, at the end of each first month, men of the navy, of the coast guard, and of the garrison will be sent on board a large junk to arrive at the beginning of the second month in Quảng Nghĩa, and the two provinces of Quảng Nghĩa and Bình Định will be authorized to hire junks from privates who will serve at the same time as guides in the voyage to the Hoàng Sa. When the junks arrive at an island or a shoal, no matter which one, they will from that point measure the length, the width, the height, the area, the perimeter of that island or shoal, the depth of the surrounding waters, find out the submerged shoals, reefs, if any, specify whether the approach is dangerous or normal, examine well the terrain, measure and draw a sketch. Moreover, considering the day and the port of departure and marking the route and the direction followed to arrive at a given point, they must estimate in dặm the length of that route and locate this point in regard to the coast by specifying the province and the district in front, the approximative distance in regard to the coast in dặm. All this must be mentioned and reported upon the return. The King approved the report and gave order to the Suất Đội of the navy, Phạm Hữu Nhật, to lead the fleet and to prepare 10 wooden posts to mark the visited places (each post is 5 thước long, 5 tấc wide, and 1 tấc thick). Each post bears the following inscription engraved on one of its faces: the Chánh Đội trưởng Suất Đội
Phạm Hữu Nhật of the navy has come here to the Hoang Sa for reconnaissance and topographical measures and leaves this witness-post to mark the fact"(25).

To fulfil international obligations

As said above, in the capacity of the sovereign of Hoàng Sa, in 1833, King Minh Mạng, anxious of their low height in regard to sea level, and of the confusion of the sea and the sky, ordered the Ministry of Public Works to plant a great number of trees, which, when taller, would facilitate the recognition of the coast of the islands and the shoals, and would allow the avoidance of ship wrecks. It was an act evidently inspired by the sense of guaranteeing the security of international navigation in territorial waters. Long before that, the Nguyễn seigneurs had given assistance to the wrecked ships in the vicinity of the Paracels. At least two instances can be recalled. The first case is that of the Dutch ship Gootebrok, wrecked in 1634 in the sea of the Paracels. The second is that of three Dutch sailed ships coining back from Japan and going to Batavia in 1714:

near the Paracels, they were surprised by a tempest. Two of them were able to avoid danger, the third was wrecked. The survivors, after taking refuge on the islands, found a way to get to Nha Trang (Cochinchina). They were all received by seigneur Nguyễn, who offered them money and rice to continue their way. These cases of rescuing wrecked ships are evidently cases of rescue by a riparian country in its territorial waters, aren't they?

V. ATTITUDE OF OTHER STATES VIS-A-VIS THE SOVEREIGNTY OF THE DAI VIET OVER THE HOANG SA

On the basis of the available documents, since the 17th century, the Đại Việt had occupied and administered the Hoàng Sa - i.e. the Paracels and Spratly archipelagoes. It was at time when not only the neighbouring countries, such as China, the Philippines, and Malaysia, but other Western powers in quest of new lands and new markets, such as Portugal, Spain, and Holland were also concerned. At that moment of history, Spain was the ruler of the Philippines; however, the Spanish were not opposed to the occupation of the archipelagoes by the Đại Việt and did not occupy any islands themselves.

Portugal had made Macao, which it occupied in 1550, an important commercial port. The first European who came to the Dai Viet was a Portuguese. The Portuguese policy at that time aimed at maintaining friendly cooperative relations with the Nguyễn seigneurs. Far from opposing the administration of the Hoàng Sa by the Đại Việt, Portugal helped the Nguyễn seigneurs in the manufacture and purchase of guns.
.
The Netherlands had two skirmishes on the sea with Cochinchina, not because of the Hoàng Sa, but because of its attempts to contact the Trịnh in the North. China deserves to be treated separately. If one thinks of the mass of historical writings related or unrelated to the Xisha and the Nansha published by Peking in increasing number each day, one would think that imperial China would have been the country that was opposed in the strongest way and most frequently to the occupation and the administration of the Hoàng Sa by the Đại Việt; but the unquestionable fact is that until the end of the 19th century, not only for nearly three centuries, China had not raised any protest against the Vietnamese authorities. The reason is simple: the Hoàng Sa did not belong to the territory of the Quing as the books, the manuals of geography and the Chinese maps show the Southern extremity of China being the island of Hainan. The Chinese authorities, as well the Chinese navigators and businessmen
who had passed by the Biển Đông and Vietnam, made no statements on this question. The tacit acknowledgement of the sovereignty of the Đai Việt by China continued for a long period. The Vice-governor of Thuận Hóa, Lê Quý Đôn, wrote in his Phủ biên tạp lục:

"The shoals of Hoàng Sa are in the proximity of Lianzhou, island of Hainan. Fishermen of our country sometimes met the fishing junks of the men of the North (the Chinese - Author) on the sea. On the high seas, people of the two countries asked one another about their activities. I myself saw a note which the Mandarin-Chief of the district of Wonchang of Qiongzhou addressed to the prefecture of Thuận Hóa in which he said: "In the 18th year of reign of Qianlong, ten military men native of the commune of An Vĩnh, company Cát Liêm, district of Chương Nghĩa of Annam, one day in the 7th month, arrived in Wanlichangsha for fishing and gathering merchandise. Eight of them set foot on land, leaving the two others to guard the junk. The mooring rope was broken by the wind, the junk was pushed by the waves as far as the port of Quang Lan, where the local authorities could verify the facts and sent these men to their native country. Seigneur Nguyễn Phúc Chu (rather Nguyễn Phúc Khoát mistakenly written Nguyễn Phúc Chu because the latter had died by that date - Author) ordered the Cai Bạ of Thuận Hóa, Thức Lượng Hầu, to make a note in answer"(26). When China has no valuable writings to defend its right of sovereignty over the Xisha and the Nansha, can it use its right of "suzerain" vis-a-vis its "vassal Đại Việt" to pretend that the latter had occupied them on their behalf?

We are facing a complex legal question. It is true that previously the kings of Đại Việt received the investiture of the Chinese Court to which it had to pay tribute. Deveria, in his book Histoire des relations de la Chine avec l'Annam du XIIIe au XIXe siècle writes:

"The word FAN which I translate by vassal has the literal meaning of borderland, a hedge in the sense of immediate neighbouring country and at the same time hedge of China. Combined with the word THAN it means "the protector of the throne" and the "defender of frontiers". Under the Northern Song, this title was given to certain dignitaries near the frontiers who enhanced the honour of China, which considered them its subjects, in spite on this fact"(27). The regime of vassality, essentially applied in the Ottoman empire, is a precedent of protectorate. It brought about two kinds of obligations: those of the vassal state (financial tribute and military assistance to the suzerain state), and those of the suzerain state (military aid) to the vassal state. The Chinese emperor invested the kings of Đại Việt without being obliged to defend their country militarily in case of aggression. The kings of Đại Việt paid tribute to China without being obliged to pay a financial tribute or to offer military assistance. Internally, as well as externally, the Vietnamese kings had the right to act without having to first consult the Chinese Court (for instance at the signing of treaties with France in the 19th century). The fact of accepting the investiture can be seen as an alignment, an acceptance of ideology, of the culture of China, as today one stands in "the free world" or "the socialist world". With such a distinction between the notion of hedge-country and vassal country, it is evident that China has no right of "suzerainty" over Vietnam. Moreover, this little influence of the Celestial Court which would have subsisted was wiped out by the annexation of Vietnam by France in the 19th century.

The treaty of Peace and Alliance concluded between France and Vietnam of 15 March 1874 explicitly states:

"Article 2. H. E. the President of the French Republic, recognizing the sovereignty of the King of Annam and his complete independence vis-a-vis any foreign power, whatever this power may be, promises to grant aid and assistance and undertakes to give, upon its demand and without repayment, necessary support to maintain order and tranquillity in its State to defend it against any attack and to destroy the piracy which afflicts parts of the coasts of the kingdom".

"Article 3: Recognizing this protection, H.M. the King of Annam undertakes to pursue a foreign policy conforming to that of France and to change nothing of his present diplomatic relations".

The Peace Treaty concluded in Hue on 25 August 1883 stipulates: "Article first: Annam recognizes and accepts the protectorate of France, with the consequences of this mode of relations from the point of view of diplomatic law of Europe, that is to say France will preside over the relations of a l l foreign powers, including China, with the government of Annam, which can diplomatically communicate with the said powers, only through the intermediary of France". In the preliminary Convention of Tientsin on 11 May 1884, China undertakes:

"2. To respect at present and in the future, the treaties directly concluded or will be concluded between France and the Court of Hue" (Article 2).

In the Treaty concluded in Huế on 6 June 1884 between France and Annam, it is stipulated that:

"Article first: Annam recognizes and accepts the protectorate of Prance.

France will represent Annam in all its external relations. The Annamites in foreign countries will be placed under the protection of France".

Thus, what remained of the influence of China on Annam ended with the conclusion of diplomatic acts between France and Annam and between France and China itself. The government of the Qing itself undertook to respect all treaties reached or will be reached between France and Annam.

VI. THE SITUATION UNTIL THE END OF THE 19TH CENTURY

The situation can be summed up as follows:

- Until the signature in 1884 of the Treaty of protectorate by France and Vietnam, the latter had occupied the Hoàng Sa and Trường Sa archipelagoes without meeting the opposition of any power whatsoever. Max Huber said of the Palmas island: "The territorial sovereignty implies the exclusive right to exercise the State activities"(28). The sovereignty of Vietnam over the Hoàng Sa and the Trường Sa is unquestionable.

- It is important to affirm that the company Hoàng Sa exploited and managed the two archipelagoes. It is possible that the exploitation and the management of the Hoàng Sa archipelago was easier, the said archipelago being nearer the bases of departure of Đại Chiêm and the Sa Kỳ. The maritime zone of the Trường Sa being larger than of the Hoàng Sa (160,000 - 180,000 km2), the authorities had to create a second company called Bắc Hải belonging to the company Hoàng Sa, but in charge of the operation in the southern part and the region of Poulo Condore, which remains until now the traditional fishing zone of the inhabitants of the province Bình Thuận.


(Excerpt from LƯU VĂN LỢI book entitled“THE SINO-VIETNAMESE DIFFERENCE ON THE HOÀNG SA AND TRƯỜNG SA ARCHIPELAGOES” Chapters III, THẾ GIỚI PUBLISHERS,HANOI — 1996)

Tuesday, May 03, 2011

Cất Quyền Giám Mục

Sáng nay trong bản tin VIS nhận được qua email, đọc thấy một mẫu tin ngắn gọn "The Holy Father removed Bishop William M. Morris from the pastoral care of the diocese of Toowoomba, Australia."(Xem http://visnews-en.blogspot.com/2011/05/other-pontifical-acts.html) Đây là một tin đặc biệt, hiếm có.

Thưòng thưòng các thông báo về các bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng dưới mục Other Pontifical Acts là việc nâng lên hàng giám mục, bổ nhiệm giám mục chánh toà, tổng giám mục, hay chấp thuận cho từ nhiệm hay nghĩ hưu.

Lần đầu tiên biết đến bản tin thuộc dạng "removed Bishop X from the pastoral care of the diocese of Y" vào cuối tháng Ba (http://visnews-en.blogspot.com/2011/03/other-pontifical-acts_31.html). Rất ngạc nhiên. Tìm tòi lục lạo trên web, mới hiểu ra giám mục Bishop Jean-Claude Makaya Loemba bị cất quyền cai quản địa phận Pointe-Noire không phải vì lý do đạo đức mà là do quản trị quá yếu kém gây hậu quả nghiêm trọng (Xem http://www.catholicnewsagency.com/news/congo-bishop-reportedly-removed-by-pope-for-serious-mismanagement/)

Lần này vị giám mục ở nước Úc bị Đức Thánh Cha cất quyền cai trị địa phận vì những tuyên bố nghịch lại giáo huấn của Hội Thánh.

Tự nhiên, liên tưởng đến một ngày nào đọc thăy tin "Đức Thánh Cha thuyên chuyển giám mục X khỏi trách nhiệm cai quản địa phận Y, Việt Nam".

Phải chăng quyết định cứng rắn của Toà Thánh trong hai tháng gần đây đã làm Tổng Giám Mục thành phố Sài Gòn suy nghĩ lại và thuyên chuyễn linh mục Phan Khắc Từ ra khỏi giáo xứ Vườn Xoài (Xem http://danchuausa.net/giao-hoi-viet-nam/giao-xu-vuon-xoai-thuoc-tgp-sai-gon-co-tan-chanh-xu/)

Wednesday, April 27, 2011

Phải Lên Tiếng

Nhạc: Lê Minh Bằng.

Trường sa là máu của ta. Hoàng sa là thịt của ta. Đất nước ta là xương là máu ông cha để lại. Quân bành trướng đừng mong xâm lấn. Kia còn bao mồ chôn quân Tống. Hỏi quân thù, hỏi quân thù còn nhớ hay không? Việt Nam nòi giống Lạc Long. Cùng nhau thề nguyền đồng tâm. Quyết đứng lên dựng xây Tổ Quớc thân yêu trường tồn. Không để đất vào tay quân cướp. Dân tộc ta vùng lên anh dũng. Sống oai hùng, sống kiên cường đòi lại biển Đông. Đừng im tiếng mà phải lên tiếng. Khi quân thù vào cướp quê hương. Đoàn kết lại tiêu diệt bá quyền thâm độc vô biên. Đừng im tiếng mà phải lên tiếng. Khi quân thù giết hại dân ta. Giòng máu Việt đã đổ chan hòa trên biển nước ta. Trường Sa. Hoàng sa. Là đất nước... Việt... của ta.

Saturday, March 05, 2011

Về Việt Nam Hưởng Già

Nhứng năm trước, tôi từng nghĩ tôi sẽ về quê, về Việt Nam an hưởng
tuổi già. Đọc bài báo VN Express: "Sống ở Việt Nam bằng tiền lương hưu
từ Mỹ" (http://vnexpress.net/gl/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/2011/02/song-o-viet-nam-bang-tien-luong-huu-tu-my/
) thấy mà ham.

Nhưng. Tại sao nhỏ bạn học mình lại chạy qua Mỹ dọn bải đáp cho tuổi
già, còn mình lại về quê?

Lại nửa, tôi có cái tật hay phê bình và chửi các nhà lãnh đạo, từ nghị
viên, thị trưởng thành phố lên tới tổng thống. Trước đây ở Việt Nam,
tôi chửi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ủng hộ Phong Trào Nhân Dân Chống
Tham Nhũng. Báo chí VN lúc đó gọi tổng thống Thiệu là Tám Thẹo. Qua Mỹ
tôi tha hồ phê bình, chỉ trích các tổng thống Mỹ đưong nhiệm Bill
Clinton, Obama. Vậy, nếu tôi về Việt Nam để nghỉ hưu, liệu tôi có thể
phê bình tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết, và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thoải mái không? có vi phạm pháp
luật của nhà nưóc XHCN hay không ?

Wednesday, February 23, 2011

Bình luận về bài báo của Tuần Việt Nam: Sự thật về sự kiện Hoàng Sa 1974

Qua bài báo của Tuần Việt Nam "Sự thật về sự kiện Hoàng Sa 1974"
(http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-02-22-su-that-ve-su-kien-hoang-sa-1974), báo chí của nhà nước CHXHCNVN không còn gọi chính quyền VNCH là "ngụy quyền" Sài Gòn như trước đây. Đó là điểm tiến bộ thứ nhất. Điểm tiến bộ thứ hai là bây giờ mới nói lên một sự thật. Dù muộn màng nhưng vẩn còn hơn không.

Trích đoạn từ Tuần Việt Nam:

Trận hải chiến sinh tử tháng 1/1974

Bất chấp thực tế chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc đã tiến hành cuộc xâm lược quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 khi nó đang được quản lý bởi Chính quyền Sài Gòn.

Từ đầu tháng 1/1974, Hải quân Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động khiêu khích quân đội của Chính quyền Sài Gòn đang đồn trú, thực hiện sự quản lý trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 11-1-1974 khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đang được chính quyền Sài Gòn quản lý, là một phần lãnh thổ của họ. Ngay sau tuyên bố nói trên, hải quân Trung Quốc đã mở màn chiến dịch xâm chiếm Hoàng Sa bằng cách tung nhiều chiến hạm và tàu đánh cá vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa.

Ngày 12-1-1974, ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động gây hấn của Trung Quốc

Ngày 16/1/1974, Chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên bố với những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo. Đồng thời Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đã đưa bốn chiến hạm ra vùng biển Hoàng Sa để ngăn chặn các hoạt động vi phạm chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa của lực lượng vũ trang Trung Quốc nhưng với thái độ ôn hoà, kiềm chế.

Ngày 18/01/1974, Trung Quốc tăng viện thêm quân, chiến hạm tới quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 19/01/1974, Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà đã có trận hải chiến ở khu vực đảo Quang Hoà.

Ông Lữ Công Bảy, người đã có mặt trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 35 năm trước trong vai trò là thượng sĩ giám lộ trên chiến hạm HQ-4 hồi tưởng lại: "Đúng 8g30, phía Trung Quốc nổ súng trước. Một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.

Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra lệnh "bắn". Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa.

Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy, văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng lên đài chỉ huy.

Trong bộ đàm tôi đã nghe tiếng bạn tôi, trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, hạm phó Thành Trí trọng thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị tử thương và bị thương rất nặng" (Trích Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau: 30 phút và 35 năm - Nguồn: Tuổi Trẻ).

Trận hải chiến chỉ diễn ra trong vòng 30 phút. 74 binh sỹ Việt Nam Cộng hòa đã hi sinh.

Ngày 20/01/1974, Trung Quốc đã điều động thêm máy bay oanh tạc các đảo VNCH đóng giữ. Tính đến thượng tuần tháng 02/1974, Trung Quốc đã tạm chiếm quần đảo Hoàng Sa và thiết lập căn cứ quân sự tại đây.

Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa do VN quản lý, ngày 19-1-1974 và 14-2-1974 chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên cáo về việc Trung Quốc "xâm lăng trắng trợn bằng quân sự" và tái khẳng định về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.

Ngày 20-1-1974, ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn cũng đã gọi điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa.

Wednesday, February 02, 2011

Tôi Đi Tìm Lại Một Mùa Xuân

Sáng tác: Đoàn Nguyên

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Mùa xuân xưa cũ qua mất rồi
Mùa xuân đã rơi vào dĩ vãng
Mà xuân nay vẫn còn dư hương

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Gặp nhau khi pháo vang cuối đường
Tay khép áo xanh nhìn không nói
Lạc hồn về cõi tiên nào đây

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Sợ khi tan biến bao kỷ niệm
Sợ áo xanh phai màu năm tháng
Sợ xuân chưa hết mà đông sang

Nên tôi tìm lại một mùa xuân
Người xưa không biết lạc phương nào
Không biết khi xuân về trên áo
Màu xanh năm đó còn xanh không

Ngày xanh niên thiếu qua mất rồi
Khi cuối thu mùa đông vẫn rơi
Khi áo xanh đã vượt sông dài
Khi pháo rơi dưới thuyền hoa rồi
Còn xuân này thương nhớ khôn nguôi

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Dù không mong đến chuyện tương phùng
Dù tháng năm trôi vào xa vắng
Và xuân nay khác biệt xuân xưa

Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Mùa xuân năm đó chưa thấy lại
Tôi vẫn đi trong chiều xuân tái
Tìm để mà tìm như thế thôi

Saturday, January 29, 2011

Xuân này con không về

Nhạc sĩ: Trịnh Lâm Ngân (Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân)

1.
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa

Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi
Bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng
Trông bánh chưng ngồi chờ sáng
Đỏ hây hây những đôi má đào

[ĐK]:
Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm
Mái tranh nghèo không người sửa sang
Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân

Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai
Sẽ đem về cho tà áo mới
Ba ngày xuân đi khoe phố phường

2.
Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
Không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà

Mẹ thương con xin đợi ngày mai...



Friday, November 19, 2010

Chán

Mở email ra, thấy cái thư của ông hiệu trưởng trường đại học của mấy đứa con thông báo về việc tăng tiền học phí lên 8%. Đóng thêm 822 đô cho một sinh viên. Hai đứa 1,6000 đô. Chán.

Lương không tăng, tiền học cứ tăng đều đều. Hai mươi năm trước, học phí ở Viện Đại Học California (University of California) khoảng hơn hai ngàn đô. Bây giờ, hơn 11 ngàn đô. Trường công lên học phí nhanh hơn trường tư. Nếu tư nhân hoá, không bao cấp nửa,hệ thống UC, đặc biệt hai trường UC Berkeley và UCLA, mình lại càng thê thảm hơn.

Mà nếu bỏ việc để đủ điều kiện hưởng sự trợ cấp của trường,tiền đâu để sống, để ăn, để con mình tiếp tục học. Xin được vài ngàn, kiếm đâu ra chục ngàn cho con ăn học.

Đã quá già để nhảy job, kiếm thêm chút đỉnh.

Đã quá già, để đủ sức chấp nhận rủi ro, mất mác, để đi buôn.

Đã quá trể, để ở lại bon chen làm "quan" như mấy tên bạn học ngày xưa hiện nay. Nói cho vui, chứ "không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Chán.

Thursday, October 14, 2010

Trò chuyện với Lê Thị Ý: Tác giả ‘Ngày Mai Ði Nhận Xác Chồng’

Thực hiện: Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt

Nhà thơ Lê Thị Ý.
(Hình: trích từ tác phẩm Tuyển tập thơ-văn "Quê Hương và Kỷ Niệm")

Cuối thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc "Tưởng Như Còn Người Yêu" do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý gây xúc động lớn lao cho người nghe.

Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954.

Nhân dịp từ Virginia đến California ra mắt tác phẩm mới tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, bà đã dành cho biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái cuộc nói chuyện thân mật sau đây.

-ÐQAThái: Tình khúc "Tưởng Như Còn Người Yêu", thơ của bà, Phạm Duy phổ nhạc; tựa đề khởi thủy của bài thơ là gì ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc bấy giờ vào năm 1970, tôi viết 10 bài thơ trong tập thơ "Mười Bài Thương Ca"; bài mà Phạm Duy phổ thành ca khúc là "Thương Ca 1".

-ÐQAThái: Phải chăng chính bà là người góa phụ đi nhận xác chồng trong bài thơ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: (cười thoải mái) Không. Cho tới bây giờ tôi vẫn độc thân.

-ÐQAThái: Vậy, bà lấy cảm xúc từ đâu để viết nên bài thơ bất hủ này?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.

-ÐQAThái: Bài "Thương Ca 1", Phạm Duy phổ nhạc, ngay khi được phổ biến, đã chiếm tâm hồn người nghe. Nhưng cũng có người lên án bài này "phản chiến"; bà nghĩ sao ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi tôi làm thơ, tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên.

Một người bạn của anh Vương Ðức Lệ tôi đến nhà chơi, thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh - người trụ trì sinh hoạt "Ðàm Trường Viễn Kiến" ở nhà cụ tại Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo - Cụ Quỳnh đọc, thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên, bài thơ của tôi được mọi người thương hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi, may mắn thôi, chứ tôi không chủ ý trước việc phổ biến bài thơ.

-ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, "Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng" thì Phạm Duy sửa thành "Bây giờ anh phủ mầu cờ" và cắt đi câu thơ kế tiếp.

-ÐQAThái: "Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng", tại sao lại phũ phàng ạ?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.

-ÐQAThái: Khi nhạc sĩ Phạm Duy đổi chữ và cắt bớt câu thơ như vậy, là tác giả, bà có thấy mất đi nguyên ý khi cảm xúc sáng tác không?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi không nghĩ gì và cũng không thắc mắc, không để
ý chuyện đó, vì khi tôi làm thơ, tôi theo vần điệu của thơ, còn ông Phạm Duy làm nhạc thì ông cảm hứng theo nốt nhạc.

-ÐQAThái: Hỏi câu này bà thứ lỗi cho, bà có người yêu là lính không?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: (ngập ngừng..., cười) Chắc cũng phải có chứ ạ!

-ÐQAThái: Bài thơ "Thương Ca 1" do bà sáng tác và Phạm Duy phổ nhạc, đã từ lâu trở thành của quần chúng. Nghĩa là, người ta hát say sưa mà không còn nhớ tới tên tác giả. Nếu tình cờ, ở một nơi chốn nào đó, bỗng nhiên nghe có người hát, có người nói tới bài thơ này, tâm trạng của bà sẽ ra sao?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi vui chứ ạ. Vì tôi thấy tôi may mắn có người biết đến thơ của mình; mà thực sự khi làm thơ, tôi làm vì tôi thấy cần làm thôi, chứ không mang ước vọng có con mắt nào đó để ý đến thơ mình (cười).

-ÐQAThái: Bà có thể đọc cho nghe nguyên văn bài "Thương Ca 1".

-Nhà thơ Lê Thị Ý:
"Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai."

-ÐQAThái: Nếu dùng thơ để kết thúc cuộc phỏng vấn này, bà sẽ chọn những câu thơ nào?

-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi muốn dùng hai câu thơ cuối của bài "Thương Ca 1" là "Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai", để nói lên tâm trạng người góa phụ trong chiến tranh, trong nỗi đau tận cùng, cảm xúc như mình vẫn còn người mình yêu.

-ÐQAThái: Cám ơn bà đã nhắc nhớ lại một bài thơ bất hủ nói lên nỗi đau của con người và đất nước Việt Nam thời còn chinh chiến.

Monday, October 04, 2010

Gởi Ban Biên Tập trang web Nữ Vương Công Lý (NVCL)

Cách đây mấy hôm, nhân đọc bài bình luân của NVCL “Ngôi nhà TGP TP. Hồ Chí Minh của giáo hội hay cơ quan của đảng, nhà nước XHCN?” tôi có ý kiến như sau:

http://tgp-tphcm.cesti.gov.vn/ chỉ là địa chỉ internet (URL) chứ không phải tên miền (Domain). cesti.gov.vn là tên miền của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Thành phố Sài Gòn. Phần đầu tgp-tphcm là host name. Nếu ngưòi ta đặt một cái địa chĩ thí dụ như http://nuvuongcongly.cesti.gov.vn/ hay http://nuvuongcongly.chinhphu.vn/ chỉ về địa chỉ 66.147.240.196 hay http://www.nuvuongcongly.net/, vậy thì Nữ Vương Công Lý là cơ quan nhà nước à?

Hôm sau tôi vào xem lại, biến mất.

Thôi được, cứ cho là vì lý do kỷ thuật nên ý kiến của mình bị xoá nhầm. Mình đăng lại.

Hôm nay, tôi vào xem NVCL: không đăng. Không đăng là vì tôi:

1. Không viết dấu tiếng Việt theo quy định?
2. Ngôn ngữ khiếm nhã với các hàng giáo sĩ, hồng y, giám mục, linh mục trong Giáo Hội?
3. Không đúng ý của nhóm chủ trưong NVCL

Trang mạng NVCL là một trang mạng tôi ưa thích, thường xuyên theo dõi. Là một ngưòi ham đọc và tương đối thoáng, tôi thường thích đọc nhũng thông tin đa phương để rút ra cho chính mình một bài học, một suy nghĩ độc lập. Với nhũng tiêu cực trong Giáo Hội chúng ta noi gương Chúa Giêsu:
Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ, và bảo những người bán chim câu rằng: “Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”. (Gioan 2, 14-16)

nhưng không có nghĩa là vì quá nhiệt thành cộng với sự thiếu hiểu biết mà chúng ta trở thành lạc giáo.

Đây không phải là lần thứ nhất tôi bị xoá bài. Tôi bị xoá ít nhất hai lần. Một lần tôi góp ý về với một đọc giả nào đó trên trang NVCL “đòi phải cho giáo dân góp ý kiến trong việc chọn giám mục”, tôi nêu ý kiến kèm theo các dẩn chứng các chọn giám mục chung ở khắp nơi trên hoàn vũ như ở Hoa Kỳ, Canada… Ý kiến của tôi bị xoá. Lần thứ hai, góp ý về “Thư của Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam nhân dịp Năm Thánh 2010″: Xoá. Rút kinh nghiệm tôi viết riêng ra ở trang blog của tôi. Lần này tôi cẩn thận chụp hình (screen shot)

Nhưng thôi, trang web của quý vị. Quí vị muốn làm gì thì làm. Cho đăng, tốt. Không cho, xoá bài cũng chả sao. Tôi không cần XIN để đươc CHO. Mình có trang blog riêng của mình cũng như nhiều diễn đàn và trang web khác để phát biểu ý kiến của mình.

Thân ái trong Đức Kitô
FreeVN

Friday, September 24, 2010

Bài Giảng Lễ Giỗ Lần Thứ VIII ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận

Lm Jos Nguyễn Văn Thiên

Theo cái nhìn trên phương diện tự nhiên, thì ngày mà một người sinh ra cũng chính là ngày mà họ bắt đầu lên đường bước vào một cuộc hành trình đi về sự chết.

Dường như cuộc đời của chúng ta cứ mãi lẩn quẩn trong cái vòng xoay của cuộc sống, cứ phải tuân theo một chu kỳ của 'Sinh- Bệnh- Lão- Tử'. Để rồi cái mục đích mà chúng ta bước ra khỏi lòng mẹ là để đi vào lòng đất.

Và nếu như mà cuộc sống của loài người chúng ta sẽ kết thúc đơn giản bằng cái chết như thế, thì quả thực sự sống này quá phi lý, quá bất công, và vô nghĩa.

Vì ở đời, mỗi người một lẽ sống, mỗi người một cách sống, cho dù là tốt hay xấu, nhưng không ai lại muốn sống để rồi cuối cùng lại đi vào cõi tiêu diệt, cõi hư vô.

Chúa Giê su Kitô của chúng ta giải toả sự phi lý ấy khi công bố ý nghĩa của sự chết: "Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không chết đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, thì sẽ sinh nhiều bông hạt."

Niềm tin Kitô Giáo của chúng ta, xác tín rằng: sự sống này chỉ thay đổi mà không mất đi, vì lẽ - chết không phải là hết, không phải là dấu chấm tận. Bởi vì thập giá Đức Kitô - đã trở thành một nhịp cầu nối liền hố thẳm của sự chết, để dẫn vào sự sống mới, sự sống vĩnh cửu. Sự sống ấy vững chắc hơn, cao cả hơn và chân thực hơn so với sự sống tạm bợ ở đời này.

Như thế có thể nói: đời sống của mỗi người chúng ta là một cuộc hành trình, là một chuyến đi, và mục đích của cuộc hành trình ấy, là chúng ta đi kiếm tìm hạnh phúc và là để chuẩn bị cho mình một đời sống vô tận.

Ai đã một lần xa nhà, hẳn cũng đã có kinh nghiệm mong chờ ngày sum họp với gia đình, được về thăm quê hương, về bên cạnh những người thân của chúng ta.

Đời sống của người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, chúng ta sống là để mong chờ ngày trở về với Thiên Chúa, trở về với người Cha nhân hậu của mình. Sống với niềm xác tín đó, chúng ta chẳng những không lo ngại, không e sợ cái chết, mà còn mơ ước, mong chờ và tích cực chuẩn bị cho ngày sum họp tràn đầy hạnh phúc đó.

Hạnh phúc ấy – sẽ không chỉ diễn ra sau khi chết, nhưng đã được khai mở từ ngày chào đời của mỗi người chúng ta. Để giúp chúng ta chuẩn bị chu đáo hơn và kỹ lưỡng hơn cho cuộc sống vĩnh hằng, cuộc sống không bao giờ tàn lụi.

Quả thật, Bàn tay Thiên Chúa đã rộng mở cho đời ta nơi ba mẹ, nơi người thân trong gia đình, nơi bạn bè trong khu xóm, nơi những người mà chúng ta gặp gỡ trên đường đời,…những người ân cần bảo bọc, đỡ nâng, và hết tình dìu dắt, an ủi, những người sẵn sàng đồng hành với chúng ta trên nẻo đường tiến về quê Trời.

Trên con đường ấy, lắm lúc đường xa sức yếu, gối mỏi chân chồn, nhưng chúng ta vẫn có thể đi tới đích, vì Thiên Chúa luôn ở cùng và đồng hành với chúng ta.

Điều quan trọng là mỗi người chúng ta có nhận ra được và biết tích cực cộng tác với ơn Chúa, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi thời đại để chuẩn bị thật tốt, thật chu đáo cho cuộc gặp gỡ thần linh ấy hay không.

Đây hẳn là điều mà Đức Cố Hồng Y Franxicô của chúng ta đã cảm nghiệm thật sâu xa – và đã chuẩn bị thật kỹ lưỡng, thật chu đáo, trong suốt đời sống của Ngài.

Ngay từ khi Ngài còn là một cậu giúp lễ, rồi khi trở thành linh mục, giám mục, những năm tháng Ngài bị giam cầm trong nhà tù cộng sản, và rồi những ngày tháng lưu vong nơi đất khách quê người, cả những năm tháng sống và làm việc trong giáo triều Roma với cương vị là một Hồng Y, và là chủ tịch hội đồng tòa thánh bộ Công Lý và Hòa Bình. Và nhất là trong những chặng cuối cùng của cuộc hành trình trần thế của Ngài.

Ngài đã đón nhận và xử dụng mỗi phút giây, mỗi biến cố vui buồn trong cuộc sống, trong mọi hoàn cảnh và môi trường để cảm tạ Thiên Chúa và để chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu mà giờ đây chúng ta tin tưởng rằng Ngài đang vui xướng tận hưởng vinh quang với Thiên Chúa.

Hôm nay, GĐ AC Hùng- Cẩm Anh là con cháu của Ngài mời gọi chúng ta cùng hiệp dâng Thánh Lễ để tưởng nhớ 8 năm ngày Ngài được đòan tụ với Thiên Chúa.

Thông thường mà nói, việc chúng ta dâng thánh lễ Giỗ, là để chúng ta cầu nguyện cho người quá cố, là để chúng ta xin Thiên Chúa tha thứ lỗi lầm, những thiếu xót mà họ đã mắc phải trong cuộc sống trần gian, mà sau khi chết họ không thể đền bù được. Qua thánh lễ chúng ta dâng, qua lời cầu nguyện và những việc lành của chúng ta, chúng ta xin được đền thay cho họ.

Thánh Lễ giỗ mà giờ đây chúng ta dâng lên để tưởng nhớ Đức Cố Hồng Y, lại mang một ý nghĩa khác. Chúng ta dâng thánh lễ này đúng hơn là để tạ ơn Thiên Chúa vì đã tặng ban cho chúng ta một con người sứ giả anh hùng của tin mừng Chúa Kitô.

Niềm vui này không chỉ dành riêng cho những người thân trong gia đình của Đức cố HY, mà là cho cả giáo hội công giáo hoàn vũ nói chung và cách riêng là giáo hội Việt Nam, và đặc biệt hơn là cho mỗi con người việt nam chúng ta.

Trong lịch sử của Giáo hội, chúng ta đã từng tự hào với giáo hội hoàn vũ vì con số đông các anh hùng tử đạo đã anh dũng đổ máu mình ra chứng minh cho đạo Chúa trên quê hương việt nam chúng ta. Bài ca hào hùng ấy đã vang dội từ đầu thế kỷ thứ 17, và đã không ngừng trải qua muôn thế hệ.

Ngày nay, giữa một thế giới mà tiền bạc và sở hữu được nhiều người xem là một thứ bảo đảm duy nhất, thì cuộc đời của ĐHY lại là một minh chứng cho sức mạnh của tình yêu thương và niềm tin. Ngài đã làm chứng cho chúng ta bằng chính cuộc sống của Ngài rằng: khi mọi cánh cửa của cuộc sống bị đóng kín, thì con người vẫn có thể vượt qua mọi trở ngại và lớn lên giữa dòng đời - nếu người ấy biết sống trong yêu thương và được yêu thương.

Đó là những hạt lúa mì đã rơi vào lòng đất, đã chết đi và đã sinh nhiều bông hạt cho đời sống đức tin của chúng ta.

Tấm gương sáng ngời của một tình yêu và lòng nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ vì tình yêu và cho tình yêu. Tình yêu quê hương, yêu đồng bào Việt Nam, của DHY càng cao vời càng sâu đậm và tha thiết hơn trong thời gian Ngài bị lưu đày xa xứ.

Trong suốt quãng đời còn lại, tuy Ngài bị ngăn cấm không được về thăm quê hương thân yêu của mình, nhưng không ai có thể ngăn cấm hay xóa đi được tình yêu đó trong khối óc và quả tim của Ngài.

Theo lẽ thường tình, nếu như bằng một lý do nào đó khi mà tình yêu của chúng ta bị cưỡng chế, bị ngăn cấm không được về thăm quê hương, thăm thân nhân. Chúng ta sẽ dễ dàng biến cái tình yêu trong sáng đó, thành lời oán hận, than trách.

Đối với con người của DHY, tình yêu của Ngài khi bị ngăn cấm lại càng trào dâng tha thiết nhưng không mang một lời oán hận. Chúng ta có thể nhận ra được tình yêu đó của Ngài được diễn tả qua bài thơ mà Ngài đã lưu lại cho chúng ta.

Con có một Tổ Quốc: Việt Nam
Quê hương con yêu quý ngàn đời
Con hãnh diện và Con vui sướng
Con yêu non sông gấm vóc, Con yêu lịch sử vẻ vang
Con yêu đồng bào cần mẫn - Con yêu chiến sĩ hào hùng
Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn,
Núi cao cao xương cất cao hơn
Đất tuy hẹp nhưng chí lớn- Nước tuy nhỏ nhưng danh vang
Con phục vụ hết tâm hồn- Con trung thành hết nhiệt huyết
Con bảo vệ bằng xương máu- Con xây dựng bằng tim óc
vui niềm vui đồng bào, Buồn nỗi buồn dân tộc
Một nước Việt Nam- Một dân tộc Việt Nam
Một tâm hồn Việt Nam, Một văn hóa Việt Nam, Một truyền thống Việt Nam.

Hôm nay, trong khi chúng ta dâng thánh lễ này, bên cạnh niềm tự hào về con người của DHY, chúng ta cũng cầu xin Thiên Chúa qua lời chuyển cầu của DHY ban ơn cho chúng ta cũng biết học hỏi, bắt chước theo gương sống của Ngài.

Cuộc đời của ĐHY được gắn liền một cách tuy huyền nhiệm nhưng rất thựctế với máu của các vị tử đạo đã đổ máu trong những thế kỷ qua. ĐHY đã học nơi các vị tử đạo bài học xin vâng. Một sự xin vâng vô điều kiện và vô giới hạn đối với tình yêu Chúa. Nhưng đồng thời cũng là một lời phủ nhận những sự dua nịnh, những sự thỏa hiệp bất công, cho dù là với mục đích cứu vãn chính cuộc sống của mình. Đây không những là một sự anh hùng, nhưng còn là một sự trung thành chín chắn, hướng cái nhìn về Chúa Giêsu là mẫu gương của mọi chứng nhân và mọi vị tử đạo.

Ông bà anh chị em thân mến, Đó là một trong những bài học quý giá về tình yêu và lòng trung thành mà mỗi người chúng ta cần phải noi theo khi đang sống nơi viễn xứ. Nghĩa là chúng ta cần phải học hỏi và bắt chước nơi Ngài. Đây là một gia sản cần được đón nhận trong mỗi ngày sống của chúng ta hôm nay, tuy đầy khó khăn nhưng chúng ta có thể làm nó trở nên chan hòa yêu thương và dịu hiền.

Vâng tình yêu đó đã được phú bẩm đã được tặng ban cho chúng ta qua những vị anh hùng tử đạo. Nhưng tình yêu đó phải được lớn lên và phải được trau dồi bằng chính những nỗ lực bản thân của mỗi người chúng ta trong cuộc sống hằng ngày.

Hôm nay, khi chúng ta nhìn lại quãng đời mà Đức Cố HY của chúng ta đã đi qua, mỗi người chúng ta cũng sẽ dễ dàng nhìn ra và khẳng định rằng Ngài là một người có tài và có đức. Vì vậy trước khi lìa trần, Ngài là một trong những ứng cử viên trong danh sách những vị sẽ thay thế Đức Cố GH JPII.

ĐHY đã ra đi trong tình yêu và trong sự tiếc nuối của tất cả mọi người. Các thân nhân của Ngài. Giáo Hội yêu quí của Ngài tại Việt Nam, và toàn thể dân tộc Việt Nam. Tòa Thánh cũng khóc thương Ngài.

Như vậy chúng ta có thể nói rằng sự ra đi của Ngài là một sự ra đi trong chiến thắng hào hùng, một sự thanh thản ra đi trong yêu thương và bình an.

Vậy lý do nào đã khiến Ngài làm thay đổi cái lý thường tình mà nhà văn Nguyễn Du, trong tác phẩm 'truyện kiều' nổi tiếng của mình, khi ông đưa ra một định luật chung, 'chữ tài chữ mệnh sao mà sánh duyên'.

Rõ ràng khi ông mô tả về cái tài và cái đức của hai nhân vật Thúy Kiều và Kim Trọng và về cái chết đau thương của họ. Chính bản thân ông cũng không tránh khỏi sự ngạc nhiên khi nhận ra một điểm chung trong cuộc sống 'chữ tài liền với chữ tai một vần'.

Nhà văn Nguyễn Du đã dùng sự sống và cái chết của hai nhân vật Thúy Kiều và Kim Trọng, để minh chứng cho lập luận của ông là những người có tài thì cho dù cuộc sống của họ có tốt đến mấy đi nữa thì rồi cuối cùng họ cũng sẽ gặp phải tai bay vạ gió, và cái chết của họ sẽ rất thảm thương.

Cuộc đời của DHY Franxicô của chúng ta thì lại hoàn toàn khác biệt, Ngài đã vượt ra khỏi cái chân lý đời thường của con người. Vì Ngài đã biết sử dụng đúng lúc và đúng chỗ cho cái tài và cái đức của mình.

Ngài đã biết vận dụng một văn hóa Việt Nam, một truyền thống Việt Nam vào đời sống xã hội và cả đời sống tâm linh của Ngài. Thưa cái văn hóa đó, cái truyền thống đó văn học Việt Nam chúng ta gọi là 'Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa'.

Đây cũng là một chân lý sống của Đức cố Hồng Y mà chúng ta cần phải biết thụ hưởng, phải làm duy trì và làm phát triển trong chính cuộc sống chúng ta.

'Thiên thời', Đối với Thiên Chúa, Ngài đã biết dành thời gian để yêu thương và phục vụ Người. 'Địa lợi', Ngài đã biết sử dụng đúng vào cái lợi điểm của tùy hoàn cảnh, của mỗi địa phương cho phép để làm phát triển đời sống tâm linh cho chính mình và cho người khác. 'Nhân Hòa', Đối với tha nhân đồng loại, Ngài đã phục vụ mọi người bằng tất cả tình yêu thương ôn hòa và nhân hậu.

Tất cả những bí quyết của ĐHY là lòng tín thác kiên cường nơi Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm và đau khổ mà Ngài đã chấp nhận với lòng yêu mến.

Thật vậy, chỉ khi nào biết sẵn sàng hy sinh bản thân, Người Kitô hữu mới có thể góp phần vào việc cứu độ trần thế. Đó là điều mà ĐHY, người cha, người thầy đáng kính của chúng ta đã thực hiện.

Ngài đã giã từ chúng ta, nhưng tấm gương của Ngài vẫn tồn tại. Đức tin của chúng ta cho phép chúng ta khẳng định rằng Ngài không chết, nhưng Ngài đã bước vào một đời sống vĩnh cửu không bao giờ tàn lụi.

Đây chính là hạt lúa mì đã được gieo vào lòng đất Việt Nam của chúng ta, đã được chết đi trong giáo hội của chúng ta, và đã nảy sinh hoa trái trong đời sống đức tin của mỗi người chúng ta.

Trong chúc thư cuối đời của mình, ĐHY quả quyết: "Tôi thanh thản ra đi, và tôi không giữ lòng oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ tôi đã trải qua cho Đức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse". Chúc thư tinh thần của ngài kết thúc với ba lời nhắn nhủ: "Hãy yêu mến Đức Mẹ, hãy tín thác nơi Thánh Giuse, hãy trung thành với Giáo hội, hãy đoàn kết và yêu thương tất cả mọi người".

Đây chính là tổng hợp bí quyết trọn cuộc sống của ĐHY. Đây cũng là bài học vô giá Ngài đã để lại cho mỗi người chúng ta. Amen

Lm Jos Nguyễn Văn Thiên
http://danchuausa.net/suy-niem/bai-giang-le-gio-lan-thu-viii-dhy-phanxico-nguyen-van-thuan/

Friday, September 17, 2010

Có thực mới vực đươc đạo.

Theo dõi tình hình giáo hội Việt Nam hiện nay, nhữg giáo dân có lòng với giáo hội, với đất nước thực sự băn khoăn lo lắng. Đó đây có hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nử đã để "thói đời" chen vào đời sống giáo hội. Thay vi can đảm làm chứng cho Đức Tin, rao giảng Tin Mừng, cổ vỏ công lý, hoà bình, họ thoả hiệp với kẻ gian ác, im lặng trước bất công. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã im lặng khi Thánh Giá, biểu tượng Đức Tin, bị đập phá, tu sĩ giáo dân bị tù đầy áp bức vì lương tâm. Đấng bản quyền của một Tổng Giáo Phận để cho linh mục tham gia vào Quốc Hội làm Tổng Đại Diện, linh mục có vợ con làm chánh xứ, giám mục phụ tá nói hành, nói tỏi giáo dân, để cho ban nhạc của địa phận hát nhạc tuyên truyền chính trị. Giám mục một địa phận không dám treo cờ Hội Thánh, cho rước tượng họ Hồ chung với Thánh Tượng Đức Mẹ. Ở một địa phận khác, giám mục không dám bảo vệ con chiên của mình trước nanh vuốt chó sói. Ở nước ngoài, có tự do dân chủ, nhưng có linh mục ngăn cấm giáo dân chào quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ. Vậy chúng ta phải làm gì?

1. Cầu nguyện: Nhờ lời cầu nguyện, lần hạt Mân Côi theo mệnh lệnh Fatima của Đức Mẹ, mà nước Nga trở lại và khối cộng sản tan vở vào thập niên 1990.

2. Hành động: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2,26).

* Gởi ý kiến, nguyện vọng lên các đấng bản quyền địa phương (giám mục chánh toà) về các linh mục. Với các giám mục, chúng ta trình lên Toà Thánh. Toà Thánh sẽ không bao giờ phong chức Giám Mục cho một linh mục Tổng Đại Diện như Huỳnh Công Minh khi hồ sơ năm 1975 về hành vi khiếm nhã với Đức Khâm Sứ Toà Thánh còn đó. Phần lớn các giám mục thưòng là các linh mục Tổng Đại Diện, giám đốc chủng viện, chánh xứ nhà thờ Chánh Toà,...Và với giám mục có quá nhiều ý kiến tranh cải, phê bình và không đủ uy tín để cai quản một giáo phận liệu Toà Thánh để vị ấy tiếp tục trông coi địa phận ấy hay cất nhắc lên vị trí cao hơn?

* Tẩy chay không dâng lể, xin lể cầu nguyện với các linh mục, giám mục bất xứng, chăn thuê cho thế quyền

* Tẩy chay không đóng góp hay dâng cúng. Hảy chuyển số tiền đóng góp, dâng cúng trong các thánh lể Chúa Nhật hay PSA cho địa phận sang các tổ chức từ thiện khác, thí dụ như Catholic Relief Services hay các giáo xứ, giáo phận nghèo ở Việt Nam.

* Cổ vỏ những tấm gương sáng của các vị mục tử chân chính như Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Đức Hồng y Trịnh Như Khuê, Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn, Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, TGM Nguyễn Kim Điền, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo, Đức cha Cao Đình Thuyên, Đức cha Hoàng Đức Oanh,...


Nếu giáo dân Việt Nam ở địa phận Phoenix không đóng góp tài chánh, liệu linh mục Nguyễn Văn Thuận có thể tiếp tục làm chánh xứ không? Và khi các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục các giáo phận có đông giáo dân gốc Việt tại Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Châu, Âu Châu,... thấy phản ứng chúng ta, họ sẽ giúp chúng ta lên tiếng với Toà Thánh.

Tại sao giám mục gốc Việt đầu tiên ở hải ngoại không từ Pháp mà từ Hoa Kỳ, Gia Nã Đại? Tại sao trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới vừa qua, Toà Thánh và Tổng Giáo Phận Sydney Úc Đại Lợi đứng về phía giáo dân gốc Việt ở hải ngoại? Phải chăng sức mạnh của cộng đồng giáo dân Việt?

Và khi giáo dân chúng ta cùng hành động, các giám mục chân chính nhân lành trong HĐGMVN sẽ không để cho thiểu số tiếp tục múa gậy vườn hoang nửa.

Ước mong các tổ chức phong trào giáo dân Việt Nam ở Hải Ngoại, các trang mạng: Diễn Đàn Giáo Dân (http://www.diendangiaodan.com/), Lương Tâm Công Giáo (http://luongtamconggiao.com/), Nữ Vương Công Lý (http://www.nuvuongcongly.net/), Ba Cây Trúc (http://www.bacaytruc.com/), Sài Gòn Echo (http://saigonecho.com/), các blog của giáo dân... cùng góp một bàn tay cho cao trào Cầu Nguyện và Hành Động trên để bảo vệ Giáo Hội Việt Nam.

FreeVN

Sunday, September 12, 2010

Ý kiến về Thư của Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam nhân dịp Năm Thánh 2010

Hôm nay ghé NuVuongCongLy.com để xem, thấy bài "Thư của Cộng đồng Dân
Chúa Việt Nam nhân dịp Năm Thánh 2010" (http://www.nuvuongcongly.net/xa-hoi/ban-doc-viet/b%E1%BA%A1n-d%E1%BB%8Dc-vi%E1%BA%BFt-th%C6%B0-c%E1%BB%A7a-c%E1%BB%99ng-d%E1%BB%93ng-dan-chua-vi%E1%BB%87t-nam-nhan-d%E1%BB%8Bp-nam-thanh-2010/)

Nội dung bức thư này đúng đắn nhưng nhân danh Cộng đông Dân Chúa Việt Nam là KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN. Phải chăng người viết lá thư ngỏ này cũng đi vào vết xe của nhóm Mục tử chăn thuê hay cái thiểu số đang cai trị ưa nhân danh tập thể?

Nói lên những băn khoăn, âu lo trước những vấn nạn của đất nước, giáo hội là điều cần nhưng phải dưới sự soi sáng hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đừng biến Giáo Hội của Chúa như một tổ chức trần thế.

Xin đừng kể tôi vào cái gọi là "Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam" này.

Friday, August 06, 2010

CÔNG GIÁO KHÔNG THAM GIA CHÁNH TRỊ ?

Hà Minh Thảo


Ngày 21.05.2010, Radio Vatican truyền thanh bài 'Đức Thánh Cha khuyến
khích Giáo dân dấn thân chính trị' bằng kêu gọi các tín hữu Công giáo
dấn thân trong lãnh vực chính trị và chứng tỏ rằng đức tin giúp họ đọc
các thực tại một cách mới mẻ và biến đổi chúng. Đức Thánh Cha Biển Đức
16 khẳng định rằng: Giáo hội không có sứ mạng huấn luyện chuyên môn
cho các nhà chính trị. Đã có nhiều tổ chức khác theo đuổi mục đích ấy.
Sứ mạng của Giáo hội là « đưa ra một phán đoán luân lý cả về những
điều liên quan tới lãnh vực chính trị, khi các quyền căn bản của con
người và phần rỗi các linh hồn đòi hỏi.. và Giáo hội chỉ sử dụng những
phương thế phù hợp với Tin Mừng và thiện ích của mọi người, theo thời
đại và hoàn cảnh khác nhau » (GS, 76).

Trong khi đó, lang thang trên xa lộ thông tin, chúng tôi đọc được câu sau:

« Mới đây trên DVD Thúy Nga Paris By Night, MC Nguyễn Ngọc Ngạn đã có
cuộc phỏng vấn với vị Tân Giám mục người Việt tại Toronto (Canada) là
Đức cha Vincent Nguyễn Mạnh Hiếu. Trong cuộc phỏng vấn này, Đức cha
Hiếu có nói rằng: 'Người Công giáo không làm chính trị!' »

Nếu chúng ta thông biết Hiến Chế Vui mừng và Hy vọng (Gaudium Et Spes)
và Giáo luật thì hai lời nói trên hoàn toàn không có gì mâu thuẫn, xin
mời chúng ta cùng phân tích.

I. KHÁI NIỆM VỀ CHÁNH TRỊ.

A. Công dân Việt-Nam.

Mọi người trong chúng ta khi sinh ra đã có quốc tịch Việt-Nam và là
công dân nước Việt, có nhiệm vụ tôn trọng luật lệ Việt-Nam và được
luật lệ Việt-Nam bảo vệ. Tham gia sinh hoạt chánh trị là quyền bẩm
sinh của mỗi công dân.

B. Hành vi Chánh Trị.

Trên Quê Hương Việt-Nam, người cộng sản gieo vào đầu óc đồng bào một
hiểu biết sai lầm về chánh trị, luôn phải sợ hãi khi nghe đến từ
'chính trị' hay khi không ưa ai thì cứ gắn cho người đó 'làm chánh
trị' một cách vô trách nhiệm và bất công.

Ở đây, chúng tôi đề nghị chúng ta đơn giản vấn đề như thế nầy:

Chế độ cai trị nào cũng cũng tự hào là Dân Chủ, tức là dân làm chủ Đất
Nước. Như vậy, Chủ quyền Đất Nước thuộc về toàn dân, tức mỗi công dân
sở hữu 1/56.252.543 Chủ quyền Đất Nước (đây là số cử tri ghi danh bầu
cử Quốc hội khóa 2007-2011). Thí dụ, quyền Lập pháp được giao cho Quốc
hội. Trong tòa nhà Quốc hội cũng như việc thảo luận và biểu quyết dự
luật rất không thể thực hiện được, nên phải tổ chức bầu cử 493 đại
biểu.

Khi tham gia tuyển cử, mỗi công dân dùng lá phiếu, tương đương với
1/56.252.543 quyền làm luật của mình, chọn và ủy quyền cho các ứng cử
viên trong đơn vị mình đầu phiếu để, khi đắc cử, trở thành đại biểu,
thay mình làm luật tại Quốc hội. Rất tiếc, vì số ứng cử viên bị giới
hạn bởi Mặt trận Tổ quốc khiến vô số người tài đức không thể hiện diện
tại Nghị trường.

Trong trường hợp nầy, những cử tri làm một hành vi chính trị công dân.
Tại Quốc hội, người đại biểu cần phải thảo luận và biểu quyết các dự
luật theo như họ đã hứa với cử tri. Đó là một hành vi chánh trị Lập
pháp cho quốc gia, nhằm phụng sự Công Ích, chứ không vì mị dân hay
đảng phái.

II. TÍN HỮU CÔNG GIÁO.

Người công dân Việt-Nam trở thành người Công giáo Việt-Nam sau khi tự
do xin lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Kết quả tức thì, người công dân có
quyền có những hành vi chánh trị dựa theo những qui chiếu do Phúc Âm
Đức Kitô, Giáo huấn xã hội Công giáo và Giáo Luật mang lại.

Ngày 05.07.2003, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong sứ điệp gởi cho
tổ chức Vatican 'Centesimus Annus-Pro Pontifice', đã nhắc người giáo
dân: « Những hoàn cảnh thê thảm thế giới ngày nay phải chịu chứng tỏ
tính thời sự thường trực của Học thuyết Xã hội của Giáo hội và sự cần
thiết khởi sự từ một viễn ảnh đúng, tập trung vào sự thật con người,
một sự thật do lý trí khám phá và được Tin Mừng Chúa Giêsu củng cố và
cổ võ giá trị chân chính và ơn gọi xã hội tự nhiên của con người ».

Về vấn đề này, Đức Gioan Phaolô II giải thích rằng Giáo huấn Xã hội
của Giáo hội cống hiến những chỉ dẫn cho 'sự cổ võ những nhân quyền,
sự bảo vệ gia đình, sự phát triển những cơ chế dân chủ đích thực và
góp phần chính trị, một nền kinh tế phục vụ con người, một trật tự
quốc tế mới bảo đảm công lý và hoà bình, và một thái độ trách nhiệm
đối với tạo vật.'

1. Tin Mừng Đức Kitô cần được chấp nhận như là Đại Hiến chương của
những Kitô-hữu hợp thành Giáo hội Công giáo, gồm bốn sách đầu tiên của
Tân Ước theo các Thánh Sử Matthêu, Máccô, Luca và Gioan, có tính ưu
việt trên hết, vì là những chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo
huấn của Ngôi Lời nhập thể, Đấng Cứu Độ chúng ta.

Công đồng Vaticanô II đã coi các sách Tin Mừng như những chứng từ
thành văn của các Tông Đồ hay của những vị đã sống bên các Tông Đồ ghi
chép lại do ơn linh hướng của Thánh Thần và đã long trọng khẳng định
lịch sử tính của các sách Tin Mừng vì trung thành truyền lại những gì
Đức Giêsu thực sự đã làm và đã dạy, luôn truyền đạt cho chúng ta những
điều chân thật về Đức Giêsu. Phúc Âm vừa là chứng từ về Đức Giêsu lịch
sử, vừa là chứng từ về niềm tin của các Tông Đồ sau Chúa phục sinh.

2. Giáo huấn xã hội Công giáo.

Ngày 01.05.2000, Lễ kính Thánh Giuse Thợ, với trách vụ Chủ tịch Hội
đồng Giáo Hoàng Công lý và Hoà bình, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn văn
Thuận, Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, đã ký ban hành 'Sưu Tập những
Bản Văn của Huấn Quyền về Học thuyết Xã hội Công giáo'. Trong đó, Đức
cha đã thu nhặt từ các văn kiện đang có trong kho tàng Giáo huấn về xã
hội và viết thành 11 chương về các đề tài: Bản chất Học thuyết Xã hội
Công giáo, Con Người, Gia Đình, Trật tự Xã hội, Vai trò Nhà Nước, Kinh
tế, Lao Động và Tiền Lương, Sự Nghèo đói và Đức Bác ái, Môi trường,
Cộng Đồng Quốc tế và Chương Kết. Văn kiện này được dùng làm căn bản
cho việc hoàn thành « Toát yếu về Học thuyết Xã hội Giáo hội ».

Qua 'Lời Giới Thiệu' của Đức Hồng y Angelo Sodano, Quốc vụ khanh Tòa
Thánh, gởi Đức Hồng y Renato Raffaele Martino, Chủ tịch Hội đồng Giáo
Hoàng Công lý và Hoà bình, đã viết: « … 2. Tài liệu này cũng trình bày
giá trị của Học thuyết Xã hội Công giáo như một phương tiện để rao
giảng Tin Mừng (x. Centesimus Annus, số 54), vì tài liệu này đặt con
người và xã hội trong mối tương quan với ánh sáng Tin Mừng. Những
nguyên tắc của Học thuyết Xã hội Công giáo đặt nần tảng trên luật tự
nhiên, vì thế được xác nhận và cũng cố trong niềm tin của Giáo hội nhờ
Tin Mừng của Đức Kitô… »

Khi khai mạc một cuộc hội thảo quốc tế về 'Chính trị, hình thức đòi
hỏi của đức ái' (La politique, forme exigeante de la charité) ngày
20.06.2008 qui tụ khoảng 60 chuyên viên tại Roma, Đức Hồng y Renato R.
Martino nói: « Giáo hội không làm chính trị, nhưng có một học thuyết
về chính trị, hầu có thể chu toàn sứ mệnh của mình, để phục vụ công
thiện công hảo… Duy trì và cổ võ nơi lương tâm mọi người, ý thức về
phẩm giá siêu việt của nhân vị: đó là sự đóng góp đầu tiên và cốt yếu
mà Giáo hội cống hiến cho cộng đồng chính trị. Trong 'sứ điệp' của Đức
Ki-tô do Hội thánh loan truyền, cộng đồng nhân loại có thể tìm thấy
sức mạnh để yêu tha nhân như chính mình, để chiến đấu chống lại tất cả
những gì phản nghịch sự sống, để chấp nhận sự bình đẳng căn bản giữa
mọi người, để tranh đấu chống lại mọi hình thức kỳ thị, để vượt qua
một nền luân lý hoàn toàn cá nhân… Nếu chính trị có tham vọng hành
động như Thiên Chúa không hiện hữu thì cuối cùng chính trị sẽ trở nên
cằn cỗi và mất ý thức về tính bất khả xâm phạm của nhân vị. »

Đề cập về đa nguyên dân chủ và những giá trị căn bản, Đức Hồng y đã
nhắc lại rằng những quyền lợi mang tính cá nhân và ích kỷ, ở ngoài
khung cảnh sự thật, tình liên đới và trách nhiệm, sẽ phá hủy nền dân
chủ và đưa vào những yếu tố phân tán và đối đầu nhau. Vào một thời đại
như thời đại chúng ta bị ghi dấu bởi những thái độ phản chính trị. Một
nền dân chủ chân chính phải cần đến sự trợ lực của tâm hồn, một giá
trị vô điều kiện của nhân vị hướng về tha nhân và Thiên Chúa trong sự
thật và sự thiện.

3. Giáo Luật.

Tông hiến "Sacrae Disciplinae Leges", được Đức Gioan Phaolô II ký ngày
25.01.1983 để ban hành Bộ Giáo Luật hiện hành.

… Thực vậy, Chúa Kitô không muốn phá hủy gia sản kỳ cựu của lề luật và
các tiên tri đã được thành hình dần dần qua giòng lịch sử và kinh
nghiệm của dân Chúa trong Cựu Ước. Đúng ra, Ngài đã kiện toàn nó (xem
Mt 5,17), để cho gia sản ấy trở thành, dưới một hình thức mới mẻ và
cao thượng hơn, một phần của gia sản Tân Ước…

… Bộ Giáo Luật này hoàn toàn phù hợp với bản chất của Giáo hội, cách
riêng đã được trình bày do giáo huấn chính thức của Công đồng Vatican
II xét trong toàn bộ và nhất là trong học thuyết về Giáo hội. Thực
vậy, phần nào Bộ Giáo Luật mới có thể được coi như một cố gắng phi
thường để diễn dịch đạo lý của Công đồng về Giáo hội ra ngôn từ pháp
lý…

Trong điều 207 Giáo Luật, số 1 phân biệt tín hữu Giáo dân với Giáo sĩ
và Tu sĩ như sau: « Do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu
trong Giáo hội, có các thừa tác viên có chức thánh, trong luật được
gọi là các Giáo sĩ; còn các người khác được gọi là Giáo dân. »

Số 2 của điều luật trên phân biệt Giáo dân với Tu sĩ như sau: « Trong
cả hai thành phần vừa nói, có những tín hữu tận hiến cho Thiên Chúa
một cách đặc biệt và đóng góp vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo hội bằng
việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm qua lời khấn hoặc qua mối giây
ràng buộc thánh thiện khác, được Giáo hội công nhận và phê chuẩn. Hàng
ngũ của họ tuy không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, nhưng
thực sự thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội. »

Như vậy:

- Giáo sĩ là tín hữu có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục.
Nhưng chỉ có Linh mục và Giáo mục được gọi là tư tế thừa tác và được
quyền Tế Lễ. Phó tế là những thừa tác viên được truyền chức thánh để
lo công tác phục vụ trong Giáo hội.

- Tu sĩ là người tín hữu nam nữ đã quảng đại đáp lời mời gọi của Chúa
để tự nguyện khấn và sống ba lời khuyên Phúc Âm (khiết tịnh, khó nghèo
và vâng phục) hoặc có giây ràng buộc thánh thiện khác được Giáo hội
công nhận và phê chuẩn. Đây là bậc sống thánh hiến dành cho những
người có ơn gọi sống những linh đạo hay đặc sủng đặc biệt của nhiều
Dòng Tu hay Tu Hội khác nhau.

- Giáo dân được Giáo Luật định nghĩa theo tinh thần Hiến Chế Tín Lý về
Giáo hội 'Aùnh Sáng Muôn Dân' số 31, như sau: « Danh hiệu Giáo dân, có
nghĩa là tất cả các Kitô hữu không thuộc thành phần chức thánh, hay
bậc tu trì được Giáo hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đã được phép
Rửa Tội sáp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được nhập tịch Dân Chúa, được
trở thành người tham gia, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế, chức
vụ rao giảng Lời Chúa, và chức vụ vương giả của Chúa Kitô, là những
người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Giáo hội và giữa
trần thế theo nhiệm riêng của mình. » Do đó, chỉ Giáo dân là những
người có phận vụ không ai có thể thay thế trong môi trường chính
trị-xã hội.

Như vậy, Giáo hội thật rõ ràng: Giáo sĩ không phận vụ trong môi trường
chính trị-xã hội. Do đó, Giáo Luật ấn định:

Điều 285: (1) Các Giáo sĩ nên xa tránh tất cả những gì không xứng hợp
với bậc mình, theo như những qui định của luật địa phương.

(2) Giáo sĩ nên tránh tất cả những gì, cho dù không xấu xa, nhưng xa
lạ không thích hợp với bậc Giáo sĩ.

(3) Cấm các Giáo sĩ đảm nhận những chức vụ công quyền có kèm theo việc
hành sử quyền bính dân sự.

(4) Nếu không được phép của Bản Quyền riêng, Giáo sĩ không được nhận
làm Quản Lý những tài sản thuộc các giáo dân hoặc những chức vụ trần
thế kèm theo nghĩa vụ phải kế toán sổ sách; cũng không được làm bảo
chứng cho dù dựa vào tài sản riêng của mình nếu không tham khảo ý kiến
của Bản Quyền riêng; phải tránh không nên cam kết những khế ước bảo
lãnh trả một món nợ mà không định rõ căn nguyên.

Điều 287: (1) Các Giáo sĩ hãy tận lực cổ võ duy trì hòa bình và hòa
đồng giữa mọi người, dựa trên nền tảng công bằng.

(2) Các Giáo sĩ không được tham gia tích cực vào các đảng phái chính
trị, hoặc dự phần lãnh đạo trong các nghiệp đoàn, trừ khi nào, theo
phán đoán của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo hội, việc bảo vệ
quyền lợi của Giáo hội và cổ võ công ích đòi hỏi như vậy.

III. GIÁO DÂN DẤN THÂN CHÍNH TRỊ.

1.- Đức Phaolô VI, Giám mục Giáo hội Công giáo và các Giám mục khác,
họp Công Đồng Chung Vaticanô II, ngày 07.12.1965, ký ban hành Hiến Chế
'Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium Et Spes', chúng ta
đọc nơi số 76:

Cộng đoàn chính trị và Giáo hội. Điều rất quan trọng là cần nhận thức
chính xác về mối tương quan giữa cộng đoàn chính trị và Giáo hội, nhất
là trong một xã hội gồm nhiều thành phần. Cũng cần phải phân biệt minh
bạch giữa những hành động của các tín hữu hoặc cá nhân hoặc đoàn thể
với danh nghĩa công dân dưới sự hướng dẫn của lương tâm Kitô giáo và
những hành động của các tín hữu khi họ nhân danh Giáo hội và hợp nhất
với các vị chủ chăn của họ.

Vì lý do chức vụ và thẩm quyền của mình, Giáo hội không cách nào bị
đồng hóa với một cộng đoàn chính trị, và cũng không hề cấu kết với bất
cứ hệ thống chính trị nào vì Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là đảm bảo
cho tính cách siêu việt của con người.

Cộng đoàn chính trị và Giáo hội, mỗi bên với lãnh vực riêng của mình,
đều độc lập và tự trị. Tuy nhiên, dầu dưới danh hiệu khác nhau, cả hai
cũng đồng phục vụ cho con người trong sứ mệnh cá nhân và xã hội. Tùy
theo hoàn cảnh và địa phương, nếu cả hai càng duy trì được sự cộng tác
lành mạnh, thì cả hai càng phục vụ lợi ích của con người một cách hữu
hiệu hơn. Bởi vì con người không phải chỉ thu hẹp trong nhãn giới trần
gian. Nhưng tuy sống trong lịch sử nhân loại, con người vẫn mang một
sứ mệnh trường cửu. Được thiết lập trong tình yêu của Chúa Cứu Thế,
Giáo hội có sứ mệnh làm cho công bằng và bác ái lan tràn trong mỗi dân
tộc và giữa các dân tộc. Khi rao giảng chân lý Phúc Âm và lấy giáo lý
và chứng tá của cuộc sống các Kitô hữu soi sáng mọi lãnh vực của sinh
hoạt con người, Giáo hội cũng tôn trọng và cổ võ tự do chính trị cũng
như trách nhiệm của các công dân.

Và được sai đi để loan báo Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế cho mọi người,
các Tông Đồ và các Đấng kế vị cũng như những cộng tác viên của các
ngài đều dựa vào quyền lực của Thiên Chúa để làm việc tông đồ; còn
Thiên Chúa thường tỏ rõ sức mạnh của Phúc Âm trong chính sự yếu hèn
của các chứng nhân. Vậy bất cứ ai hiến thân phục vụ lời Chúa đều phải
dùng đến đường lối cũng như phương thế riêng của Phúc Âm. Những đường
lối và phương thế này khác biệt ở nhiều điểm với đường lối và phương
thế của trần gian.

Thực thế, các thực tại trần thế và những thực tại siêu phàm nơi con
người đều liên kết mật thiết với nhau. Giáo hội cũng xử dụng các thực
tại trần thế tùy mức độ mà sứ mệnh riêng của mình đòi hỏi. Tuy nhiên,
Giáo hội không cậy nhờ vào những đặc ân của thế quyền. Hơn thế nữa,
Giáo hội cũng sẽ từ chối việc xử dụng một số quyền lợi đã được hưởng
một cách chính đáng khi thấy rằng việc xử dụng những quyền lợi đó làm
cho người ta nghi ngờ về lòng thành thực muốn làm chứng nhân của mình,
hoặc trước những hoàn cảnh mới đòi hỏi phải xử sự cách khác. Tuy
nhiên, bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào, Giáo hội cũng phải được tự do
rao giảng đức tin, truyền bá học thuyết xã hội của mình cũng như được
dễ dàng chu toàn sứ mệnh của mình giữa loài người. Giáo hội cũng phải
được quyền nói lên nhận định luân lý của mình về cả những vấn đề liên
quan đến lãnh vực chính trị khi quyền lợi căn bản của con người hay
phần rỗi các linh hồn đòi hỏi. Nhằm mục đích trên, Giáo hội xử dụng
mọi phương tiện và chỉ những phương tiện nào phù hợp với Phúc Âm và
lợi ích của mọi người tùy theo thời đại và hoàn cảnh khác nhau.

Trung thành theo sát Phúc Âm và thi hành sứ mệnh của mình trong thế
giới, Giáo hội phải cổ võ và nâng cao bất cứ điều gì là chân, thiện,
mỹ trong cộng đoàn nhân loại. Làm như thế tức là Giáo hội xây dựng hòa
bình cho con người để làm vinh danh Thiên Chúa.

Tinh thần của số 76 này đã được Đức Gioan Phaolô II nhắc lại nhiều lần
và Đức Biển Đức XVI nói với các Giám mục Việt-Nam trong các lần tiếp
kiến chung mỗi dịp Ad Limina trong các lần cuối vừa qua [hy vọng chúng
ta sẽ có dịp xem lại trong một lần khác.]

Đối với Giáo dân, điều 76 này nhắc: Giáo hội Công giáo, vì chức vụ và
thẩm quyền của mình, không thể bị đồng hóa với một cộng đoàn chính trị
(Nhà nước, chính đảng…) và không hề cấu kết với bất cứ chế độ chính
trị nào vì Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là đảm bảo cho tính cách siêu
việt của con người, được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người và
được cứu chuộc bởi sự chết và sống lại của Ngôi Hai Thiên Chúa. Nhưng
vì Giáo hội và Nhà nước đều phục vụ cho con người trong sứ mệnh cá
nhân và xã hội, nên nếu cả hai càng duy trì được sự cộng tác lành
mạnh, thì cả hai càng phục vụ lợi ích của con người một cách hữu hiệu
hơn. Tuy sống trong lịch sử nhân loại, con người vẫn mang một sứ mệnh
trường cửu.

Khi dấn thân chính trị, Giáo dân có những qui chiếu do Phúc Âm Đức
Kitô và Giáo huấn xã hội Công giáo thêm vào các luật lệ Việt-Nam.
Người Giáo dân không cần xưng danh tôn giáo, tinh thần phục vụ và khả
năng của mình mới là điều kiện để đồng bào, cử tri tín nhiệm chúng ta.

2.- Một Kinh nghiệm.

Ngày 01.04.1967, Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa Việt-Nam được ban hành với
các đặc điểm:

- Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp được phân nhiệm và phân
quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền được phối hợp và
điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản
Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội (Điều 3).

- Quyền Tư pháp được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp viện và được hành xử
bởi các Thẩm Phán xử án (Điều 76). Tối cao Pháp viện có thẩm quyền
giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tiùnh cách hợp hiến hay bất hợp
hiến của các đạo luật, sắc luật; tính cách hợp hiến và hợp pháp của
các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh (Điều 81 khoản 1).
Nhờ thế, giới cầm quyền không thể hình thành một Hiến Pháp với những
điều khoản đầy hứa hẹn dân chủ, pháp trị, nhưng, trong thực tế, Quốc
hội biểu quyết các đạo luật bất hợp hiến hay Chính phủ ban hành các
nghị định và quyết định hành chánh bất hợp hiến hay/và bất hợp pháp
như ngày nay.

- Người dân có quyền tự do giáo dục và được hưởng 'nền giáo dục cơ bản
có tính cách cưỡng bách và miễn phí'. Nếu công dân có khả năng theo
học cao hơn mà không có phương tiện, quốc gia sẽ nâng đỡ (Điều 10).

Căn cứ vào Hiến pháp, cuộc tuyển cử Nghị sĩ Thượng nghị viện đã được
tổ chức ngày 03.09.1967. Có 48 liên danh với 480 ứng cử viên thuộc các
chánh đảng (Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Duy Dân…), tôn giáo (Cao
đài, Hòa hảo, Phật giáo, Công giáo), xã hội (quân nhân, trí thức, khoa
bảng…) hiện diện tranh cử.

Kết quả, 6 liên danh đắc cử: về đầu, liên danh 'Nông Công Binh' do cựu
Tướng Trần văn Đôn làm thụ ủy gồm các quân nhân và nghiệp đoàn viên;
liên danh Bông Lúa, do ông Nguyễn ngọc Kỷ, tín hữu Cao đài, làm thụ ủy
về hạng 5; các liên danh 'Công Ích và Công Bình Xã Hội', 'Đại Đoàn
Kết', 'Trời Việt' và 'Đoàn kết để Tiến bộ' do các ông Nguyễn văn
Huyền, Nguyễn gia Hiến, Huỳnh văn Cao và Trần văn Lắm đứng thụ ủy đều
là những Giáo dân Công giáo chiếm các hạng còn lại.

Thượng nghị viện khóa đầu tiên có 26 người Công giáo trong số 60 Nghị
sĩ, có 11 Công giáo trong số 13 luật gia trong Viện Lập pháp này. Đặc
biệt, luật sư Nguyễn văn Huyền, một nhân sĩ danh tiếng trong giới Công
giáo và giới chánh trị, một chánh khách hiếm hoi của nền Đệ Nhị Cộng
hòa, đã được bầu vào chức Chủ tịch Thượng nghị viện. Ông đã xây dựng
uy tín cho Thượng nghị viện, xứng đáng với lòng kính nể của người dân
Việt trong việc phát biểu về các vấn đề: tướng lãnh tham nhũng (ngày
20.04.1970), chống độc diễn của liên danh Nguyễn văn Thiệu - Trần văn
Hương (ngày 22.09.1971). Ngoàụi ra, chúng ta còn nhớ một tối trong
tháng 05.1970, sau khi Thượng nghị viện phản đối 'Sắc luật Thuế kiệm
ước' của Chánh phủ, Chủ tịch Nguyễn văn Huyền đã lên án sự vi hiến của
Sắc luật này trên màn ảnh Truyền hình Việt-Nam. Sau đó, nhờ tài hùng
biện của một Nghị sĩ Công giáo khác, luật sư Nguyễn văn Chức, ngày
30.06.1970, Tối cao Pháp viện tuyên bố tiêu hủy 'Sắc luật Thuế kiệm
ước' vì vi hiến.

Tuy nhiên, năm 1974, sau khi một số Nghị sĩ Công giáo thuận theo ý
Tổng thống Nguyễn văn Thiệu để tu chính cho phép ông ứng cử nhiệm kỳ
thứ ba, luật sư Nguyễn văn Huyền từ chức Nghị sĩ bằng đăng báo xin
phép cử tri đã tín nhiệm ông. Khi người Công giáo không đồng tâm, đại
sự gặp nguy.


Hà Minh Thảo

http://vietcatholic.net/News/Html/82559.htm