Saturday, February 18, 2023

Xuân Vũ - Đưởng Đi Không Đến – 1 –

– 1-


….Bộ đội ở phía sau đi tới. Họ khiêng, họ vác, họ gánh. Lặng lẽ, nặng nề, từng nhóm, từng người, có khi năm bảy chục thước mới có một tốp, một người. Cự ly hành quân chẳng rõ được qui định là bao nhiêu.. Đó là vì Trường Sơn hiểm trở, nhưng trước nhất là vì đôi chân…


Thấy bộ đội đi, tôi và Lâm nhường bước, nép vào đường. Quần áo họ mốc cời, có cái vai áo rách toạc xuống nửa cánh tay, nhiều mái đầu như rú rậm, họ đi ngang đã nghe thấy một mùi chua khét lạ lùng. Nòng súng họ nhét giẽ rách, hoặc để trống hốc, sét rơi ra vàng oách. Nhiều ngườl gánh hẳn hoi bằng một thanh tre tươi. Ba lô một đầu súng và cạt-túc-se một đầu, như gánh những xâu thịt lợn. Người đi sau chót vừa đi vừa rên khừ khừ.


Tưởng đơn vị đã đứt đuôi, tôi sửa soạn cho đoàn của tôi tiếp tục đi nhưng nhìn lại thì thấy đơn vị còn lục tục ở phía sau.


Đột nhiên Lâm hỏi tôi :


– Này về tới Nam Bộ, anh sẽ ăn món gì trước nhất?


– Chè đậu! – Tôi đáp không cần suy nghĩ.


Vì sao tôi không suy nghĩ? Bây giờ, khi nhớ lại, tôi mới hiểu ra rằng đi đường mất calori nhiều quá, lúc nào cũng thèm đường. Đâu chỉ có một kí lô đường cát trắng được phát cho từ Hà-Nội mà đi hơn 1 tháng, trèo đèo lội dốc suốt ngày mà không dám đem đường ra ăn. Đường được xem như một thứ tiên được. Lúc sắp quỵ xuống kìa mới dám nghĩ tới thứ thuốc tiên đó! Cái cách ăn đường cát của những gã chân chỉ lội Trường Sơn đã làm cho nó trở thành tiên dược. Đâu có phải bỏ nó vô nước khuấy cho tan ra rồi uổng, mà phải chờ đến lúc khuya canh vắng, bên cạnh mình không còn ai thức mới sẻ lén mở ba lô ra lấy cái túi đường còn kha khá đó ra rồi mở sợi dây buộc túi đường một cách vô cùng cẩn thận, kẻo người bên cạnh nghe thì chết. Xong, mới bằng một cử chỉ vừa cẩn thận, vừa trang trọng, dốc ngược cái túi lên, tay giữ miệng túi sát vào mồm, tay bóp đít cái túi khe khẽ cho đường chảy vào mồm. Những hạt đường của Cu-Ba anh em (!) lăn trên thành túi ni lông nghe như những hạt sõi lăn trên sườn núi. Đợi đến khi số hạt đường nhất định đã rơi vào mồm thì chủ nhân mới bèn bóp cái miệng túi lại và khãy nhè nhẹ cho những hạt còn vô tình hay cố ý dính lại đấy rơi hẳn vào mồm chủ nhân, rồi mới buộc thắt nó lại. Những hạt đường đã nằm trọng miệng của chủ nhân rất yên trí rằng chúng không bao giờ bị thương, bởi lẽ rất giản đơn là chủ nhân không bao giờ dám nhai, bởi lẽ rất giản đơn nữa là nếu nhai thi đường sẽ chạm vào răng và gây nên những tiếng động và một khi cái tiếng động ấy bị lọt vào tai của một anh chàng 'Vô Ngại Tưởng Quân' nằm bên cạnh thì không chóng thì chầy chủ nhân của túi đường sẽ đau khổ vì bị vị tướng quân này không ngần ngại xỉn… đường. Mà trên đường Trường Sơn này thì những vị vô ngại tướng quân đó ở chỗ nào cũng có.


Vl thế cho nên ăn đường cũng phải cần thận tối đa, nghĩa là để cho những hạt đường tự tan chảy ra trong mồm một cách tự nguyện. Điểm nầy cũng còn thêm một ý nghĩa là như vậy chủ nhân sẽ có đủ bình tỉnh và thời gian mà thưởng thức cái vị ngọt ngào của đường Cu-Ba và nghe tình đồng chí xã hội chủ nghĩa anh em đi vào máu huyết của mình (!)


Nhưng đó chỉ đó là một lối tiêu thụ bình thường – để đề phòng các Vô Ngại tướng quân thôi. Còn nhiều cách khác nữa.


Vì đường nó quý quá làm vậy cho nên khi được Lâm hỏi ăn gì thì tôi đáp ngay rằng "chè". Không phải tiếng nói của lá phổi, cổ họng mà là tiếng nói của tâm tư, của nguyện vọng.


Vì sao? Vì lâu nay, mỗi lần cảm thấy sức khoẻ mình xuống dốc trông thấy một cách thảm hại, tôi chỉ nghĩ có một điều: "Ăn"! Ăn là khoẻ ngay, là đi nhanh, là vượt dốc trèo đèo như gió, là chống được sốt, là lạc quan yêu đời, là tin tưởng Đảng Bác thêm ngay, nhưng ăn thì có cả trăm món, làm sao tạo ra ngay cho được giữa rừng thẳm núi cao này? Chỉ có đường là đơn giản nhất. Nhiều khi tôi chỉ cần nếm một muỗng nhỏ đường mà cảm thấy khoẻ lên rất chóng, như vừa uống thuốc tiên.


Cái tiếng 'chè đậu' của tôi tung ra như một quả khói mù, nhưng đồng thời cũng như một giọt nước mát xối vào mặt mọi người giữa trưa nắng cháy. Những người đứng gần tôi tựa hẳn ba lô vào vách đá cho đỡ nặng đôi vai lắng nghe tôi nói tiếp.


Tôi cảm thẩy tôi thông minh hơn chính tôi ngày thường gấp bội, thông minh hơn cả Tào Tháo khi ông ta thấy binh sĩ khát cháy cổ thì gạt chúng bảo rằng phía trước một có một vườn mơ – nhưng tôi không giống Tào Tháo vì chính tôi cũng thèm chè như mọi người trong đoàn, chứ không như họ Tào hoặc họ này họ khác ngồi mát ăn bát vàng mà xua lũ con cháu vào con đường đi không đến mà bảo rằng sắp đến nơi rồi và sẽ có mâm cao cổ đầy ở cái đích sắp trông thấy đó.


Tôi nói tiếp để phát triển thêm cái mòn chè của tôi :


– Chè đậu trắng, các bạn ạ! Hạt to hơn đầu đũa ăn, hạt lép đã nhặt hết rồi, chỉ còn hạt trộng – tôi nói tiếp – đem nấu với đường móng trâu, chớ không nấu với đường thốt nốt, vì đường thốt nốt hơi chua, để ăn sống thì tuyệt vời còn đem nấu chè thì không bằng đường tán đâu. Nấu phải cho thật ngọt, ngọt gắt cổ họng, nếm vô một miếng là tằng hắng ngay. Đấy.. nấu xong nhắt xuống múc ra từng chén, chén trứng sáo to nhé, rồi mới rưới nước cốt dừa lên – nói đến đây tôi dừng lại nhìn từng người một. Gương mặt người nào người ấy sáng rỡ lên.


Tôi cũng thấy hăng hái hơn lên. Tôi đưa hai tay ra phía trước, hai bàn ấy úp vào nhau làm như đang vắt dừa. Tôi nghiến răng và bóp vặn hai bàn tay vào nhau tỏ vẻ quyết vắt cho thật khô với một sự vui sướng thèm thuồng ác liệt, với sự tưởng tượng trông thấy món chè đặc biệt đang dọn ra trước mắt mình.


Nhưng than ôi! qua cái cử chỉ ấy tôi hiểu rõ sức lực của tôl. Nó đâu còn đủ cho tôi làm cái việc đó. Nói trắng ra là nếu có một trái dừa phải vắt ở giữa lưng Trường Sơn này thì tôi không thể vắt lấy nổi nước cốt. Tôi cảm thấy hai cánh tay tôi rã rời, một sự rã rời làm tôi phải ngạc nhiên.


Giờ đây tôi vẫn còn nhớ hình đáng của hai cánh tay và hai bàn tay tôi lúc ấy. Màu da vàng vì sốt, sạm vì nắng, thâm vì sương gió và chướng khí núi rừng. Tôi không có chữ để gọi chính xác cái màu hổn hợp của ba màu kể trên. Tôi ngậm ngùi, nhưng vì là người có trách nhiệm nên tôi cố giấu sự bi quan, mà vẫn vui vẻ lao theo cái món chè.


Tôi đã "vắt dừa" xong và hăm hở nói tiếp:


– Nước cốt đặc quẹo giống như sữa. Nếm thử một miếng xem, ôi chao béo ngậy. Đây tùy thích của từng người, ai muốn béo thì "thím xực" luôn hai muỗng. Đấy, chè đã dọn ra rồi mời các bạn cùng múc nước cốt dừa rưới lên ai muốn xơi mấy chén cứ xơi… Xơi ngay trong lúc chè hãy còn nóng để cho nước cốt dừa quến vào thành một khối vừa béo vừa ngọt nuốt đến đâu nghe bổ đến đấy!


Lâm nói:


– Riêng tôi thì tôi muốn ăn một chén, còn xin một chén.


– Úy, lố tiêu chuẩn sao?


– Không! Một chén xin sau là để phơi sương, sáng mai dậy tập thể dục nhảy xuống sông tắm rồi lên ăn liền.


– Có súc miệng không? – Một người hỏi.


– Khà.. khà khà.


– Cái thằng nói làm nhớ nhà Má Chín ở Cai Lậy quá!


Chúng tôi ăn chè gió xong, bộ đội cũng vừa dứt đuôi. Tôi bảo:


– Tôi, anh em mình chuẩn bị đi!


Người nào người ấy mặt nhăn như bị, cất ba-lô lên vai, đành để lại bát chè đậu nước cốt dừa ấm hổi phía sau lưng.


Nhưng kìa có một người lê tới cùng đi về một phía với chúng tôi – nghĩa là Miền Nam.


Bất giác tôi ngó xuống đất. Tôi sợ hãi quá. Tôi sợ nhìn thấy tôi trong cái con người ấy. Đó là một người, vâng, đúng là một con ngưòi vì anh chàng có đủ tất cả những gì mà một con người bình thường nhất cũng có, và có cái mà con vật không có, nhưng anh ta không còn giống bất cứ một người bình thường nào trên trái đất, mà chỉ có thể đồng hoá vói chúng tôi trên dãy Trường Sơn này thôi.


Đó là một người gầy đét, gầy nhom, gầy như chiếc que, nói theo tiếng Nam Bộ, ốm tong ốm teo. Nói tóm một câu là gầy đến mức độ không thể gầy được nữa.


Má anh ta không còn thịt, để lòi ra những góc cạnh trên mặt, mắt anh mở thau láu, không phải vì tỉnh táo mà có lẽ vì đôi mi cứng đờ không khép lại được nữa. Bộ răng trên còn nguyên, nhô hẳn ra ngoài càng gây cho mọi người một sự gớm ghiếc của người chết với chiếc môi trên nhếch lên. Trong người anh cái bộ phận không gầy, vì không gầy đi được là bộ răng nầy.


Mái đầu anh che kín dưới làn mũ tai bèo. Vành mũ cong chụp xuống che kín đôi tai, đồng thời như cũng muốn che lấp lấy đôi tai, không cho nó thu nhận bất cứ sự việc gì bên ngoài, vì tất cả sự việc gì bên ngoài cũng không hay ho cả. Nên làm một kẻ mắt mù tai điếc mà lên bước trên con đường tối đại vinh quang nầy.


Còn chiếc mũ nữa, tôi không thể chỉ nói về nó có bấy nhiêu thôi, vì đó là chiếc mũ tai bèo của giải phóng quân "bách chiến bách thắng". Nó có điểm hay là muốn dùng nó làm gì cũng được: khăn lau mồ hôi, giẻ nhắc nồi, thấm chí (mà lại rất thông dụng) chỗ ngồi không đẹp người ta cũng không ngần ngại dùng đến nó. Chiếc nón của bạn này được giữ dính vào đầu anh ta bởi một cái quai nhỏ bằng chiếc đũa choàng qua hầu. Điều đó rất bình thường nhưng ở đây anh bạn lại treo một chiếc khăn lông nhỏ ướt lòng thòng xuống trước ngực như bộ râu vĩ đại của lão già Noël.


Chân anh lê đi, khỏi phải nói, với sự tiếp sức của hai chiếc gậy bằng mây mà hai tay anh cố chống tới đều đều – một thứ chân giả mà trông ra có vẻ có nhiều sức lực hơn đôi chân thiệt của anh ta. Anh ta đi qua trước mặc chúng tôi, không nhìn ai.


Không hiểu anh ta thuộc đơn vị nào, đau ốm từ bao giờ và nhất là anh ta suy nghĩ những gì, khi lê bước chân trên con đường vào Nam theo lệnh của Đảng-Bác giải phóng Miền Nam.


Tôi đã gặp anh ta trên nhiều chặng đường cho nên tôi quen mặt anh ta, nhưng tôi muốn xem đó là một điều gì không có thực mà đó chỉ là một cái bóng, một cái vong hồn vất vưởng hiện lên như một thứ ma quái giữa chốn hoang vu mà thôi.


Bởi vì làm sao lại có thể có một cán bộ, một đội viên hay một dân công với hình hài tư thế và bước đi như vậy được trên con đường tối hậu vinh quang này? Vâng, anh ta đang đi giải phóng Miền Nam trong một cuộc hành quân thần tốc.


Nhưng cuộc đời vẫn công bằng chính trực. Nó không để cho ai phải chịu riêng đau khổ một mình. Cho nên không những trên đường này có ông già Noël mà còn có cả bà Noël nữa.


Bà Noël đó là cô Thu trong đoàn tôi. Cô vừa trật chân bốn hôm nay nhưng cô không dám nằm lại vì sợ cái nỗi đêm khuya thân gái dậm trường, ở giữa núi rừng ma thiêng nước độc và đầy những cọp hùm rắn rết này, một thân gái bồ liễu như cô thì làm sao mà dám nằm lại?


Hơn thế nữa khi ra đi, ông chủ nhiệm ủy ban thống nhất – Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh có đến gặp chúng tôi và bảo rằng đoàn chúng tôi về đến nơi sẽ có Chính Phủ Liên Hiệp, tình hình sáng sủa hơn bây giờ nhiều. Như vậy ai mà nằm lại cho được. Còn một giò cũng phải nhắc cò cò đi tới chớ.


Lâm nhìn tôi và Thu, nói:


– Bà Noël đi trước đi! Đụng đầu mãi mà chẳng có tí quà nào cả!


Thu không cười. Cũng không ai cười. Vì cười cũng là một hình thức vận động làm cho mất nhiệt lượng đi. Đã không cười, Thu lại còn hơi cáu. Thu chống gậy lê cái chân sưng phù đi tới và càu nhàu:


– Buốt tận tủy đây còn quà với cáp!


Tôi thấy thương tâm quá. Với lại cũng có một phần trách nhiệm, nên tôi không nở bỏ Thu rơi lại phía sau.


Cứ bước một bước Thu lại nhăn mặt. Thu phải cân nhắc từng bước một, phải tìm một chỗ phẳng rồi mới từ từ đặt chân lên. Thu sợ tất cả mọi hòn đá trên mặt đường. Mà cái mặt đường vinh quang, đường giải phóng Miền Nam này có chỗ nào là không lởm chởm đá và gai?


Thu quen đi guốc cao gót nhảy múa trên sạp phẳng như mặt hồ Gươm và uốn mình theo những điệu nhạc làm rung động lòng người. Thu quen trình diễn dưới ánh điện rực rỡ và quen nghe những tràng vỗ tay tán thưởng tài nghệ của nàng. Đôi chân của nàng làm bằng sáp chứ đâu phải đúc bằng đồng bằng sắt như chân pháo binh bộ binh.


Ấy vậy mà chưa học xong chương trình múa ba-lê nàng đã xung phong đăng ký vào Nam biểu diễn cho đồng bào Sàigòn xem (!).


Tôi nhìn bàn chân và cổ chân của Thu. Thật đáng ngại. Nó bầm xanh. Thịt da có lẽ đã thối ở bên trong. Nó đang mưng mủ. Tôi nghĩ dại, đời cô văn công ca múa này, thế là hết. Nó mà xì mủ ra, gì chưa biết chớ phải lấy Trường Sơn làm nhà ít nhất là nửa năm.


Anh em khặc khừ qua mặt chúng tôi hết. Tôi cũng không nhớ rõ lúc bấy giờ là bao giờ. Chúng tôi không thích mặt trời, mặt trăng và ngay cả mặt người, người thân đi bên cạnh cũng không thích nhìn nốt. Có gì hay ho đâu?


Chỉ còn tôi và Thu sót lại sau rốt. Tôi thấy Thu không thể đi nổi nữa. Tôi bèn bảo Thu cởi ba-lô đưa tôi mang hộ. Thu không ngần ngại tí nào. Có lẽ nếu tôi không bảo, Thu cũng sẽ nhờ tôi. Ba-lô tôi đã nặng, lại còn đeo thêm dùm người ta. "Ốc không lo phận ốc lại còn làm cọc cho rêu" là thế. Tôi và Thu bỗng trở nên đôi bạn đồng hành khắn khít không phải vì tình cảm mà vì hoàn cảnh.


Vậy là tôi không lo bị cô đơn dọc đường. Nhưng mỗi đứa đau một bệnh. Tôi thì sốt, còn Thu thì què. Đứa nào cũng sợ bệnh mình cứ nặng thêm lên và lo bạn mình chóng lành hơn mình và bỏ mình lại với rùng núi và người ngợm không quen.


Hai đứa chỉ đi một quảng ngắn thì Thu ngôi phệt xuống và kêu nhức. Thu rưng rưng nước mắt và ôm cái bàn chân như ôm một cục than lửa, muốn bốc nó lên mà trái lại không dám sờ đụng nó.


Tôi hỏi trỏng:


– Không ráng lên nổi chút nữa à?


Thu lắc đầu mếu máo. Tôi hơi bực mình nhưng cũng thương tâm. Tôi hỏi:


– Thu có dầu nóng không?


– Không!


– Có thuốc đỏ không?


– Không, anh ạ!


– Có cù-là không?


– Có … nhưng hết rồi!


Tôi bực mình quát to:


– Cái gì cũng không vậy ?


Thu cúi đầu. Thu nhìn hai bàn chân của mình sưng to như một chiếc bánh bò. Đi Trường Sơn không gì đáng sợ bằng sốt rét, không gì quý hơn đôi chân. Thế mà Thu lại đau chân.


Tôi ngồi xuống bên Thu, nhìn cô nàng. Đây là lần đầu tiên từ một tháng nay tôi mới có dịp nhìn kỹ một người con gái, hay đúng ra, nhìn kỹ một con người.


Thu đã biến đổi rất nhiều so với Thu trước đây hơn một tháng. Cái cổ Thu cao lên trông thấy, và những ngón tay thì gầy đi, để lồi lên những đốt xương, còn những ngón chân, hai bàn chân, niềm tự hào của Thu, bây giờ trông đến thảm hại. Tôi không dám nhìn nữa.


Thu tự hào vì đôi chân Thu đẹp. Thu biết rõ điều đó là vì chính nó nâng Thu bay lên như đôi cánh. Cho đến bây giờ tôi mới thấy xót thương. Cứ nghĩ lại cuộc sống trước đây một tháng của Thu thì tôi thấy thương người con gái vô ngần. Chân vũ nữ múa ba-lê mà lại mang ra thử thách với đồi núi, với đá tai mèo Trường Sơn. Hà Nội đã đạt kỷ lục trong lối dùng người của họ. Phải nói thêm rằng lối dùng người tàn nhẫn của họ.


Tôi hỏi Thu:


– Bây giờ em tính thế nào?


– Anh hỏi thế nào là thế nào?


– Nghĩa là … – Tôi ngập ngừng không muốn nói rõ ý. Tôi muốn hỏi nếu đôi chân của Thu không lành thì Thu tính thế nào? Nhưng câu hỏi đó là cây kim sẽ chích vào bọc nước mắt đầy ứa của đôi mắt Thu cho nên tôi lặng thinh và rẽ sang ý khác.


Tôi hỏi:


– Sao em không có chuẩn bị gì hết vậy?


– Anh cũng biết vì sao mà!


– Ờ. Phải! Cái thằng cha bí thư toàn nói láo. Đi Trường Sơn cái gì cũng ..cha Tây. Cứ ăn no phè phè rồi đi như đi dạo. Chặng nào cũng có căng-tin!


Thu thở dài, Thu đưa tay gãi mấy vệt bùn trên bàn chân đau, lại thở dài và lắc đầu. Còn tôi thì cứ căm gan thằng cha bí thư.


Thu ngước lên nhìn tôi và nói:


– Vì cả tin cho nên em đâu có chuẩn bị làm cho cho vô ích. Em còn khuyên bạn em về Hà Nội chỉ nên lượn phố cho bõ những ngày xa cách sắp tới; mình phải đi xa hồ Gươm, hồ Trúc Bạch, tuy nói là đi giải phóng Miền Nam ắt sẽ có ngày về, nhưng ngày đó là ngày nào ai mà đoán trước cho được. Về Hà Nội thì em mặc áo dài, hết cái này đến cái khác, đi luợn phố cho mệt mới về.


Thu lặng thinh giây lâu rồi mới tiếp:


– Không biết các anh có tình cảm đó không, chứ riêng em thì thật là trẻ con như vậy đó. Nhiều khi em ứa nước mắt, em nghĩ chắc bây giờ mấy cái áo của em chúng nó đang nhớ em lắm. Chậc! bây giờ rủi mà phốc được về Hà Nội thì không dám chường cái mặt ra đâu. Và mặc áo dài đâu có được nữa, nó rộng thùng thình ai mà xem cho?


Thu bị lôi cuốn theo tình cảm của Thu về Hà Nội. Sự thực tôi thấy thương Thu và nhớ Hà Nội. Không biết thương Thu hơn hay nhớ Hà Nội hơn, có lẽ hai tình cảm như nhau, bởi vì trong Thu có Hà Nội mà Hà Nội bao giờ cũng in đậm bóng hình Thu. Tôi còn thương Thu vì càng đi Nam thì Thu càng xa quê, còn tôi thì càng gần. Cuộc đi này có phải chăng chỉ có lợi cho tôi?


Đôi lúc tôi cũng có cái tình cảm lạ kỳ này: tại sao lại bắt Thu phải bỏ nhà trường mà đi trên con đường khổ ải này? Và phải chăng khi ra đi Thu tỏ ra rất tự nguyện, bây giờ đây Thu vẫn còn tự nguyện hành quân và vẫn còn thấy những điều của các vị lãnh tụ nói với Thu là đúng? Nếu thế thì Thu khóc làm chi khi nhìn thấy đôi chân ngọc của mình sưng húp?


Tôi nói với Thu:


– Anh đâu có đồ gì đâu mà mặc đi bát phố như em. Mùa hè thì sơ-mi trăng pôpơlin quần kaki, mùa đông thì cũng thế, thêm một bộ áo bông vĩ đại khoác bên ngoài, nếu có mưa thì trùm một cái áo đi mưa dày mo may bằng hai tấm vải bạt Trung Quốc, đầu trùm một cái kê-pi có tai, thế thôi! Anh ra đi đâu có để lại cho bạn bè cái gì đâu, ngoài đôi giày hả họng và cái áo "tố lãm" của anh?


Thu cười:


– Vậy em tưởng anh có ít nhất vài ba com-lê chứ?


– Làm gì!


– Còn xe đạp anh để lại cho ai?


– Cho anh em trong xưởng Thống Nhất.


– Sao anh lại cho những người công nhân trong xưởng là những người dễ mua xe hơn những người khác?


Tôi phì cười:


– Em ngây thơ quá. Là vì anh chưa mua nổi nghe chưa?


– Anh chưa mua nổi hay là anh chưa có phiếu?


– Chưa mua nổi mà cũng chưa có phiếu em ạ.


– Vậy càng hay, còn em thì thật oái oăm. Lúc mình có tiền thì bình bầu không được phiếu, còn khi có phiếu rồi thì lại hết tiền. Cho nên mãi tới em lên đường chiếc xe đạp vẫn còn năm trong giấc mơ.


Rồi chúng tôi lại đi, càng lúc càng chậm chạp, còn câu chuyện thì cứ nhạt dần.


Hôm qua anh chị em bị một trận mưa suốt dọc đường. Ở rừng núi mà lại đi với giao liên thì làm sao mà nghỉ được, vả lại có nghỉ thì cũng không có chỗ đứng cho nên mưa thì cứ mưa, đoàn cứ phải "can đảm" "anh dũng" xông pha mưa gió vậy. Cho nên bây giờ tôi đã bắt đầu nghe ơn ớn trong nguời rồi. Cơn sốt đến rất nhẹ nhàng dễ biết. Dễ biết hơn nữa vì nó đã đến với tôi nhiều lần và tôi đã cắn răng chằn mắt mà tống cố nó đi một cách hết sức dũng cảm. Nó đi nhưng tôi biết nó sẽ trở lại bởi vì nó biết chắn chắn sẽ có một lần nào đó, tôi sẽ đón lấy nó hoàn toàn. Lần đó là lần này đây.


Hôm qua, đến nơi, sau khi mắc tăng căn võng tôi thay quần áo ngay, và lần đầu tiên trong đời tôi biết kí-nin đắng như thế nào. Rồi tôi nấu cơm ăn xong ngủ cũng rất ngon, sáng dậy trước khi lên đường tôi lại uống thêm hai viên kí-nin loại nặng nữa.


Khi rời Hà Nội tôi định không mang cái túi thuốc của nhà trường cấp cho- cái gói nặng hơn kí-lô và gồm bằng mấy chục thứ thuốc, có cả thuốc trị rắn cắn- vì tôi cho rằng tôi không thể ngã bệnh được với cái quá trình mười hai năm ở Hà Nội, không hề đi bệnh viện của tôi. Chẳng ngờ cái quá trình đó không còn uy lực trên chặng đường này nữa. Với con sốt rét rừng voi cũng ngã.


Miệng tôi bắt đầu thấy đắng, những đốt xương sống như rời ra, tay thấy lười cử động, chân thì cứ lê đi nhưng càng lúc càng chậm, đầu choáng váng và mắt hơi hoa lên.


Nắng loang lổ trên đường đá lởm chởm. Tôi tìm những chỗ nắng mà bước. Nắng chạm vào da tôi, gây nên một phản ứng khó chịu. Tôi cảm thấy gây gây ngần ngật không ấm áp tí nào như mọi khi sau cơn mưa gặp nắng. Lũ vi trùng trong máu tôi, tôi như trông thấy rõ từng chú một như những chú kiến chạy hàng đàn, mỗi chú ngạm một hồng huyết cầu của tôi như mỗi chú kiến tha một hạt gạo. Sự chuyển động của hằng triệu con vật li ti đó làm cho tôi mất thăng bằng, cơn lạnh nổi lên từ trong máu, trong tủy, làm thể nào ánh mặt trời xoá tan đi được?


Các bắp thịt của tôi như bị dãn ra hết không còn sức bật nữa và tôi nghe máu tôi loãng ra như có ai pha nước lã vào đấy. Tôi vung tay gồng mình thoi vào thinh không như bốc-xơ tập võ một mình. Tôi vặn mình sang bên này sang bên kia. Tôi cố vận chuyển tất cả những bắp thịt của tôi để chống lại cuộc tấn công thầm lặng của lũ vi trùng nhưng cuối cùng, tôi đã run lên.


Và cuối cùng tôi phải bảo Thu chờ tôi đi rẽ vào rừng đốn lấy một chiếc gậy. Tôi rút con dao trong lưng ra, một con dao găm, cán gỗ có ngấn, đánh vẹc-ni màu nâu, lưỡi dao dầy như lưỡi búa. Đó là con dao của hợp tác xã xứ xã hội chủ nghĩa rèn, trao cho mỗi con người đi giải phóng Miền Nam, con dao mà chúng tôi đã nguyền rủa ngay từ khi đốn cái cành tre đầu tiên làm đũa. Tôi chọn một cái cây nhỏ, ít nhánh và ngay ngắn trong một bụi của nó. Đó là một thứ cây rất giống cây mật cật của rừng U Minh nhưng thu nhỏ lại còn độ một phần mười. Tôi tưởng nó mềm lắm chỉ độ vài dao là hạ được rồi, chẳng ngờ tôi giạng thẳng cánh tay bổ đến hơn mười lăm phút mà chẳng ăn thua. Đối với một việc nhỏ như vậy còn tính nhầm thay huống gì những chuyện lớn ví dụ như chuyện vượt Trường Sơn này. Tôi nhìn theo con dao, khổ quá cái lưỡi của nó dày ù, tôi đã mài mấy lần, hễ nó càng mỏng, đem đốn cây thì nó lại càng mẽ. Thực tình những người thợ rèn cũng rất đáng thương. Họ đâu có đủ thép pha vào sắt kia. Nhà máy nấu thép ở Thái Nguyên chưa xây xong. Nghe đâu người ta có nấu thử một mẻ tốt lắm đạt yêu cầu quốc tế, không thua thép Trung Quốc và Triều Tiên, nhưng khổ thay họ chỉ nấu có một mẽ để coi chơi thôi, chớ không nấu nhiều. Thật là bực mình, cũng như tôi rất bực mình khi thấy trong những tủ kính mậu dịch, hàng bán thì ít mà hàng mẫu "miễn hỏi giá và không bán" thì nhiều.


Vâng, thép trong con dao găm này không đủ làm cho con dáo bén đến độ cần thiết cho người đờì, nói đúng chữ nghà nghề là con dao non. Cũng như những kẻ đi trên con đường này khi mới xuất phát thì tưởng mỗi người như một lưỡi gươm linh, chém một nhát là rụng đầu đối phương, nhưng khi đi được ít chặng thì cái lưỡi gươm đó bỗng nhiên trở thành non nhão lạ thường, cũng như con dao găm nầy đốn mãi không ngã đến cái cây lớn hơn ngón tay cái.


Tôi lôi được cái gậy ra đường thì tay chân rụng rời. Thu biết tôi sốt. Tôi mà đi gậy là chuyện không thường. Thu hỏi:


– Anh sốt phải không?


Tôi gục đầu giữa hai đầu gối và không đáp.


Chung quanh tôi, trời đất tối sầm lại. Đốn một cái cây, đó là cái thước đo sức mạnh khỏe của tôi. Tôi quá tự tin cái sức khỏe của mình. Trên đường đi tôi luôn luôn nhắc nhở anh em không nên uống nước suối sống nhưng chính tôi lại làm việc đó một cách vô cùng hồn nhiên. Tôi ngủ ít khi nằm gọn trong màn vì màn mắc trên võng thì tù túng quá, tôi luôn luôn thò đầu ra ngoài. Đó là hai cách rước vi trùng sốt rét vào mình nhanh chóng và nhiều nhất. Vì thế, là người khỏe nhất đoàn, tôi lại là người ngã ngựa sớm nhất của đoàn.


Bây giờ thì tôi không còn cần gì hết. Tôi không muốn cử động, không muốn ai động đến tôi. Nếu tôi ví một cách chính xác thì tôi là một cái bánh tráng nhúng nước treo trước gió. Tôi chỉ muốn nằm quặp xuống đây gối đầu lên một hòn đá, và hoá đá luôn. Tôi muốn lịm đi rồi chết hẳn không biết đau đớn gì càng tốt.


Nhưng tôi là đứa cháu của Bác và Đảng, và con yêu quí của nhân dân Miền Nam, là bạn của Ốt-Trốp-Xơ-Ki nhân vật anh hùng của Thép Đã Trui, thì làm sao có tư tuởng lạc hậu như thế được.


– Đi anh, đi – Thu giục tôi.


Tôi cố ngóc cổ dậy và mở mắt nhìn. Chung quanh tôi như tẩm kí-nin một màu vàng oách. Tôi chống tay lên cái đầu gối đứng đậy với sự giúp sức của Thu. Thu đã mang lấy ba-lô của nàng, không để cho tôi mang giúp nữa. Quả tình là bây giờ tôi yếu hơn Thu, và bây giờ tôi mới biết thế nào là cơn sốt.


Chúng tôi lê chân đi với nhau, chậm chạp như nhau và đau đớn rên siết như nhau.


– Anh sốt lắm phải không?


– Như có lửa trong máu – tôi tiếp – nhưng đối với anh thì sốt dễ chịu hơn rét.


Tôi sợ Thu chần chờ bận bịu với tôi nên tôi bảo:


– Em đi trước đi!


– Em đi với anh chứ.


– Không nên lướng vướng với kẻ ốm. Thu cứ đi đi.


– Cả đoàn không ai ở lại đây hết.


– Được rồi, chừng nào tôi tới thì tôi tới.


Tôi biết Thu là cô gái rất đôn hậu, ăn ở có tình nghĩa, Thu rất khổ tâm vì Thu không giúp được gì tôi trong buổi này.


Hôm Thu ngã trặc chân không đi được thì chính tôi là người đề ra ý kiến đầu tiên khiêng Thu đi. Ý kiến đó được đề ra, trước tiên trong chi bộ bị phản đối dữ dội nhưng tôi đã cương quyết giữ ý kiến của tôi bằng nguyên tắc tổ chức, bằng tình cảm và bằng cử chỉ thực tế. Tôi đã xung phong đi chặt cây đòn đầu tiên và khiêng chặng đầu tiên. Sau đó thì mọi người dù bất mãn cũng phải kê vai vào đòn khiêng.


Thu thấy tôi đứng dậy và liếc nhìn tìm chỗ ngã lưng thì Thu sa sầm mặt lại:


– Anh ở lại một mình thì làm sao?


Tôi cứ lặng lẽ ngồi phệt xuống đất như một tảng đá bị đứt giây rơi xuống đất.


Thu không nở rời tôi. Nàng hỏi:


– Em còn nước đây anh có uống không?


Nước ở trên đường Trường Sơn mà sao không uống. Có bao giờ ai dám mời ai. Đã không mời lại còn giấu và không bao giờ dám nhận mình còn nước dù nước khua lỏng bỏng trong bi-đông đó. Nước là máu đối với người, là thuốc bổ đối với cơ thể, ai đi cho máu và đem thuốc bổ của mình cho người khác bao giờ? Ấy vậy mà Thu cho tôi, cho tôi một cách thật sự, thật tình và tôi thì không dám nhận.


Tôi nói:


– Anh không khát em ạ!


– Sao lại không khát. Anh đang sốt, anh cần nước hơn em.


– Bao giờ khát anh sẽ xin…


Thu mở nút bi-đông và ngồi xuống để kê miệng bi-đông vào miệng tôi. Thu không cởi cái bi-đông ra được vì khi mang đồ đạc, Thu cũng như mọi người đều mang bi-đông vào trước rồi mới quàng ruột tượng và các món khác chồng lên. Đó là một sự cố ý, để khỏi bị mất bi-đông (mất vì rơi rớt, vì bỏ quên hoặc bị ăn cắp) và để mỗi khi nâng bi-đông lên miệng của chính mình cũng khó khăn và vì thế người ta sẽ ít uống nước.


Thu ngồi xuống một cách khó khăn vì chân đau nhưng Thu đành chấp nhận một sự hy sinh con con. Thu ngồi trên một chân và đưa bi-đông vào mồm tôi. Tôi vẫn lắc đầu, tôi thấy cơn khát tan biến đi mất.


– Cám ơn em!


Rồi tôi bảo:


– Thôi em cứ đi trước đi cho kịp đoàn (mặc dù tôi biết không thể nào Thu bắt kịp) còn anh thì ngồi tại đây…- Tôi bi quan đến nỗi muốn nói rằng: nằm lại đây và làm phân bón cho cây Trường Sơn thêm xanh và đỉnh Trường Sơn thêm cao, cho vinh quang của Bác và Đảng cao ngất và chói lòa khắp biển Đông. Nhưng tôi tốp lại cái ý nghĩ đó kịp thời và tôi nói với giọng lạc quan hơn–…anh nằm lại đây đến mai anh sẽ tiếp tục đi, sốt một cơn có nghĩa lý gì!


Thu càng bận bịu tôi càng giục càng gắt gỏng và cuối cùng có lẽ Thu nhận ra rằng tôi nói đúng nên Thu đi.


Trên Trường Sơn này bỏ nhau là chuyện tất nhiên. Người bỏ đi hình như cũng không ân hận gì hết. Còn người bị bỏ lại cũng không – hoặc không nên – lấy đó làm buồn, vì cái luật chung là ai cũng là kẻ bị bỏ rời và ai cũng sẽ bỏ rơi người khác, cho nên cuối cùng rồi không ai ân hận, không ai trách ai.


Vì ở lại làm gì? Thuốc men thì đứa nào cũng có, còn nấu cơm nấu cháo thì dễ dàng thôi, ai mà chẳng tự làm lấy được? Nếu rủi có chết thì cứ nằm đấy vài hôm rồi cũng rã tan.


Tôi nhìn Thu chống gậy lê bước trên con đường nhấp nhô những hòn đá. Tôi nghĩ đến một màn múa tuyệt đẹp trên sân khấu nhà hát lớn thành phố Hà Nội, cũng đôi chân ấy, nhưng giờ đây nhiều khi qua suối, tôi được nhìn rõ hơn – đôi chân đẹp nhất Hà Nội.


Rồi Thu khuất hẳn trong mắt tôi. Tôi gục đầu xuống trên hai đầu gối, môi thấy khô khan. Tôi đã không uống ngụm nước của Thu mời – tôi cũng không hiểu tại sao – trong lúc tôi đang khát cháy cả ruột gan, có lẽ vì tự ái và tự trọng.


Tôi định gục đầu ngồi như thế cho đến bao giời thì đến, nhưng tôi ngồi chưa yên thì tôi đã ngạc nhiên: cái mặt phẳng mà tôi ngồi tự nãy giờ, ô hay không phải bằng đá núi mà là bằng sắt. Nhưng tại sao lại có một tảng sắt to thế nằm giữa chỗ này? Câu hỏi đó làm cho tôi tỉnh dậy và bắt đầu tìm hiểu. Sự tìm hiểu đó kéo dài không quá cái tích tắc thì tôi đã nhận ra đó là cái đế súng cối. Nó bằng sắt thép thật. Đáng lẽ nó phải được nâng niu lau chùi và luôn luôn ở những nơi thích đáng nhưng vì nó bị vứt ở đây cho nên nó mới ra nông nỗi ấy. Nó mất hết chức năng, mất hết giá trị. Ai đi qua cũng dẫm lên, ai muốn ghé đít ngồi thì cứ ghé. Mấy ai còn nhìn ra nó như tôi. Mà dù có nhìn ra nó đi nữa thì phỏng tôi đã làm được việc gì đối với nó? Nó đã rỉ sét. Màu sét làm cho nó tiệp với màu đất nâu. Tôi bỗng thấy tỉnh người và tôi chua xót nghĩ đến số phận của tôi một cách duy tâm, rằng sự "gặp gỡ" giữa tôi và cái đế cối này là một điềm gở cho tôi. Tôi vốn là một con người hay suy nghĩ thì làm sao tôi không suy nghĩ cho được khi tôi ngồi ở đây mà sốt.


Anh binh sĩ nào đã vứt cái đế cối xuống đây? Cái đế súng cối này đã từ trên vai một binh sĩ nào tuột xuống đây? Nó không muốn rơi xuống đây nhưng vì người ta vứt nó xuống nên nó phải nằm ở đây, nhưng binh sĩ đó tên gì? Ở đâu? Anh ta đã vác cái khối sắt này từ bao lâu và anh ta đã nghĩ gì khi trút cái quả núi con này xuống đây?


Trời ơi! Tôi không hiểu được cái sức lực nào đã chuyển nỗi cái đế cối 82 ly qua những dãy núi trùng điệp này. Trong khi tôi chỉ mang có một cái ba-lô đựng toàn của riêng tôi, nghĩa là những đồ ăn, đồ ngủ mà chỉ tôi xài, không ai có quyền động tới. Trong khi mà tôi tìm từng những mẫu giấy trong cái vỏ lưỡi lam, và tất cả những đồ vật có sức nặng bằng cái nút áo trở đi để giảm chính. Trong khi mà tôi chỉ mang giúp cho anh bạn chí thân của tôi một cái áo mỏng nặng không đến 300 gờ-ram và chỉ trên một quảng đường ngắn thì anh chiến sĩ này đã vác, ngoài cái ba-lô của anh ra, cả cái đế cối này, một cái món đồ vật của anh nhưng không phải là của anh, không phải trên một quảng đường mà là suốt cả con đường.


Đừng ai chê trách anh, đừng ai buộc tội anh. Tôi xin làm biện hộ sư cho anh tới cùng. Anh chiến sĩ ấy là con người, anh ta phải biết suy nghĩ, phải có lương tri, vì thế anh ta đã vứt cái gánh nặng đó đi. Anh vứt nó đi là phải. Bất cứ anh bộ độ con cháu Cụ Hồ nào trên đường Trường Sơn này vứt súng đi cũng đều không đáng chê trách. Người ở ngoài cuộc không thể hiểu được con người đã lao lực như thế nào. Tôi chua xót nghĩ đến cái vai gầy không còn thịt đã bị cái đế cối kia cạp cho tận xương, tới cái xương sống nhu lưng đê sông Hồng uốn lượn nao núng vào mùa nước đổ, tới hai hàng xương sườn nỗi vòng lên và suýt bật tung ra mỗi lần chiếc đế cối kia, vì một cử động nhanh hoặc bất thường, đè nặng xuống vai anh ta hơn, tới hai cái chân cũng bị những mảnh đá tai mèo róc hết thịt để lộ ra những chiếc xương cong dưới sức nặng cũng của chiếc đế sắt và mỗi bước đi, những cái khớp xương cứ khua lụp cụp như những ổ đạn của những chiếc xe lâu ngày không vô mỡ bò, tới những ngón chân như những cây gậy toè đầu đã để lại máu trên những phiến đá. Tôi nghĩ đến những bộ phận của con người bình thường nhất từ cái tóc, từ cái tai cho đến cái răng, cái mũi của anh chiến sĩ, quả tình đáng thương hại. Anh ta là một người không còn giống người nào trên trái đất kể cả tôi, là đồng bào, đồng hành, đồng chí của anh. Tôi vụt đứng dậy vì không hiểu sao tôi lại nghĩ rằng cái đế cối này là một nấm mộ dưới đó là một bộ xương đang rã ra và vong hồn còn treo lơ lửng đâu đó trên những cành cây trên đầu tôi.


Anh chiến sĩ đã không trút khỏi cái khối nặng của Bác và Đảng đặt trên lưng anh vì anh đi giải phóng Miền Nam với cái đế cối kia mà. Anh đã vấp ngã, tôi nghĩ vậy. Mà khi cái đế cối kia sau khi đã nằm chễm chệ trên lưng anh mấy tháng trời, nó nhân dịp đó mà trả ơn cho anh bằng cách là đè anh bẹp dí như một chiếc rập nhẹp đề một con chuột. Và trung thành với chủ nó cho đến giờ phút cuối cùng, cái khối sắt ấy đã lấy thân ra làm nấm mộ che đậy sương gió cho anh.


Tôi chua chát nghĩ đến nhân vật anh hùng của truyện dài Paven Coóc-sa-ghin trong "Thép Đã Trui". Vâng, thép trong xứ Việt Nam cũng đã trui như thế đấy và con người được gắn thêm cái danh hiệu vinh quang "đi giải phóng Miền Nam" cũng đã được trui như thế ấy.


(tiếp theo tại đây)

Đánh máy: Lê Thy
https://thaithuyvy.wordpress.com/

Xuân Vũ - Đưởng Đi Không Đến

CẢM NGHĨ
về
"ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN" của Xuân Vũ

::: Bác sĩ Hồ Văn Châm :::

Tôi nghĩ rằng khi đọc xong tập hồi ký vượt Trường Sơn này của nhà văn Xuân Vũ, mỗi độc giả tùy theo thân thế và tâm sự riêng biệt của mình, có thể có những cảm nghĩ rất khác nhau.  Người thích phiêu lưu mạo hiểm, say mê những chân trời xa lạ, những câu chuyện sôi nổi được tác giả ghi chú rất linh động trong tập sách.  Kẻ ưa mơ mộng, thương cảm nỗi vất vả nhọc nhằn của người nữ vũ công có đôi bàn chân sáp đúc trầy trụa vì đá tai mèo trên những đỉnh núi cụng trời.  Chính khách thời thượng gật gù khen nội dung tốt.  Độc giả khó tính tặc lưỡi cho là sách tuyên truyền.

Tôi lại nghĩ rằng mỗi độc giả chúng ta, dù khen, dù chê văn tài của tác giả, dù chăm chú, dù hời hợt theo dõi diễn biến câu chuyện, đều không thể chối cãi một sự kiện hiển nhiên là nội dung cuốn sách đượm tính chất xác thực, không dài dòng lê thê, không hoa hoè hoa sói, không bịa đặt, không xuyên tạc, không phỉ báng ai mà cũng không ca tụng ai. Người viết chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe cùng những cảm nghĩ của mình trên đường vượt Trường Sơn trở về Nam thi hành nhiệm vụ giao phó.  Tính chất xác thực nầy, những ai đã từng leo đèo vượt núi, những ai có liên hệ ít nhiều với dãy Trường Sơn trùng điệp đều làm chứng cho tác giả. Nói một cách khác, tập hồi ký này ghi lại trung thực một đoạn đời của nhà văn Xuân Vũ trong sự nghiệp phục vụ quê hương.

Tôi gặp nhà văn Xuân Vũ giữa năm 1971, sau khi anh đã thành công vượt mọi gian khổ, vượt dãy Trường Sơn, nhưng không vượt được nỗi khủng hoảng ngày đêm dằn vặt tâm tư.  Đưởng Đi Không Đến . Trên đường vô Nam, anh đã đến nơi đến chốn, nhưng trên đường tiến tới sự nghiệp phục vụ quê hương đường đi đã bế tắc.  Đau đớn cho anh, anh đã tiêu phí 20 năm trời đã đi trên con đường ngày nay bí lối đó.  Cơn khủng hoảng thật là trầm trọng, khủng hoảng tâm thần, khủng hoảng lý tưởng.

Tôi nghĩ rằng trường hợp của nhà văn Xuân Vũ không phải là một trường hợp cá biệt.  Một số độc giả chúng ta cũng như rất đông anh chị em ruột thịt chúng ta còn ở bên kia chiến tuyến ngày đêm cũng khắc khoải suy tư về một lối thoát vẹn toàn cho cơn khủng hoảng thời đại đó.  Khắc khoải suy tư, khủng hoảng tâm thần, khủng hoảng lý tưởng… bởi lẽ chúng ta còn là người Việt Nam và dòng máu sôi sục trong huyết quản chúng ta, đầy ắp truyền thống Việt Nam hào hùng của biết bao nhiêu thế hệ tiền bối Việt Nam.

Tôi nhớ là đã nói chuyện nhiều với nhà văn Xuân Vũ về Đưòng Đi Không Đến của anh, của số đông chúng ta, và khuyến khích anh cố gắng vượt qua cơn khủng hoảng tâm thần để tìm đi đúng con đường vì dân vì nước . Để dẫn chứng, tôi đã tâm sự với nhà văn Xuân Vũ về việc gia tiên ngày xưa đương chức tri huyện Lê Thủy, Quảng Bình, lúc Vua Hàm Nghi xuất cung truyền hịch đã khẳng khái treo ấn từ quan, hưởng ứng việc Cần Vương, để rồi ngậm ngùi, thống hận tử trần, tuổi chưa được 40.  Sau này, gia nghiêm khăng khăng không chịu ném bút lông cầm bút sắt, tuy giữ được khí phách sĩ phu, nhưng cơn khủng hoảng lý tưởng càng trầm trọng hơn, đường đi hoàn toàn nghẽn lối.

Tôi đã nói cho nhà văn Xuân Vũ biết là kinh nghiệm dòng họ khiến cho tôi ngày nay nghĩ rằng chúng ta không thể quá khích mà cũng không thể tiêu cực.  Đường đi của chúng ta phải là con đường thích nghi với hoàn cảnh năm châu họp chợ, thích nghi với trình độ kỹ thuật không gian và thế quân bình lực lượng của các đại cường.

Đành rằng chúng ta yêu nước nồng nhiệt, đành rằng chúng ta lập chí lớn lao, nhưng chúng ta phải biết lượng sức dân, sức nước. Yêu nước thì phải thương dân, trước hết phải lo cho dân có cơm áo. Yêu nước nhất quyết không phải là mưu đồ sự nghiệp cá nhân, mặc cho dân chúng lầm than, quê hương tan nát.  Yêu nước càng không phải là điên cuồng nhắm mắt đưa toàn dân vào con đường đấu tranh ngu xuẩn và vô vọng có thể mang tới hậu quả diệt quốc, diệt chủng.  Yêu nước lại càng không phải là cưỡng bức nhân dân thắt lưng buộc bụng, nhịn đói, nhịn khát để tập trung tài nguyên nhân lực vào việc dùng vũ lực mưu toan áp đặt một nền nếp suy tư và những phương thức hành động đã được đúc khuôn mà dân chúng không mong muốn.  Các nhà cầm quyền Miền Bắc nên ra khỏi tháp ngà để ngẫm nghĩ về điều đó.

Tôi lại cũng nghĩ rằng yêu nước không phải là tiêu cực chống đối.  Những lời phê bình vô trách nhiệm, thái độ bất hợp tác hoặc lề lối buông xuôi, chỉ biết thở ngắn than dài, ưu thời mẫn thế, không phải là phương châm hành động của con cháu những người đã xông xáo ra Bắc vào Nam, bình Chiêm phạt Tống, gây dựng nên cơ đồ ngày nay để lại cho chúng ta.  Yêu nước thì không thể thản nhiên nhắm mắt ngồi bất động để mặc bọn ma đầu phá hoại cơ nghiệp của cha ông. Yêu nước thì phải tích cực hoạt động, xây dựng đổ vỡ, vun quén tình hình, loại bỏ bọn sâu dân một nước, dạy dân, nuôi dân, cho dân sinh dân trí mỗi ngày một thêm phát triển.  Các bậc có trí thức tại Miền Nam tự do này nên nghĩ tới trường hợp Vua Chiêu Hoà nước Nhật Bản sau ngày bại trận, khôi phục lại địa vị đại cường.  Ai bảo hành động của Vua Chiêu Hoà từ năm 1945 đến nay lại không sáng suốt và ích lợi cho quốc dân Nhật Bản như công cuộc duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng 100 năm về trước.

Trên con đường sự nghiệp phục vụ quê hương, đi như Xuân Vũ đi trong tập hồi ký này thì đường đi nhất định không đến, đi như Xuân Vũ đang đi ngày nay thì đường đi nhất định phải đến.

Saigon, ngày 2 tháng 7 năm 1973
Bác sĩ HỒ VĂN CHÂM

(Tiếp theo)
https://thaithuyvy.wordpress.com/

Monday, February 13, 2023

Việt Nam Một Chuyến Đi - Vũ Ngọc Tấn

"Tôi xa Hà nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say.."
(Anh Bằng)
 
*
Sự thực thì tôi xa Hà nội năm 12 tuổi và chưa hề có em nào hết, cũng như chưa hề biết yêu. Nay nói chuyện về thăm Hà nội, cũng như du lịch Việt nam, trườc hết xin minh định vài điều:

- Thứ nhất: Đất nước Việt nam là của chung mọi người Việt, và không phải là của riêng bọn cộng sản. Vì là của chung mọi người (tức là của anh và của tôi) thì tôi có quyền thăm đất nước tôi. Hơn nữa, đất nước là muôn đời và kẻ cầm quyền chỉ có một thời mà thôi. Kẻ cầm quyền (nay là bọn cộng sản) một ngày nào sẽ ra đi thì đất nước vẫn còn đó. Ta không thể lẫn lộn đât nước và kẻ cầm quyền và ngược lại.  Ta có thể không ưa kẻ cầm quyền, nhưng ta không thể từ bỏ đất nước của ta.

- Thứ hai: việc mắt thấy tai nghe bất cứ một chuyện gì, và khi kể lại ta nên giữ một nguyên tắc: Có thì nói, không có thì thôi. Không phải vì ghét kẻ nào thì nói thêm cho bõ ghét, không có nói cho có và thương kẻ nào thì đưa kẻ đó ên mây xanh. Làm như vậy ta sẽ làm mất đi sự trung thực của bài viết, và sinh ra nhàm chán, làm mất lòng tin của người đọc.

 - Thứ ba: Xin kể một giai thoại. Hôm đó tôi và chú tài xế lái xe vào tỉnh Quảng Trị. Qua một công viên, tôi thoáng thấy tương một anh già bằng đá trắng. Sau đó tôi vô giải khát ở một quán cà phê gần đó. Bà chủ quán, qua câu chuyện nói bằng một giọng miền Trung rất nặng: "Bức tượng đá là tượng ông Duẫn. Ông ấy sinh ra ở Quảng Trị đấy!"  Nghe mẹ này nói và nhìn mặt mẹ, tôi biết là mẹ rất lấy làm vinh dự có Lê Duẫn (một thời là Tổng bí thư đảng CSVN) sanh ra ở nơi này. Tôi lờ đi không hỏi gì thêm. Lúc ra khỏi tiệm tôi hỏi cậu tài xế: "Cậu có biết Duẫn là thằng nào không?" Chú ta trả lời: "Con sanh ra sau chiến tranh, năm nay con 45 tuổi. Con chỉ lo làm việc kiếm ăn mà thôi và không biết hề Duẫn, Minh Khai là ai, làm gì... và cũng chẳng cần biết để làm gì.."
 
Qua câu chuyện kể trên, ta có thể suy luận ra một điều: Tại Việt nam và kể cả ở hải ngoại, ta có 2 lớp người:

- Lớp người thứ nhất (nay chỉ còn khá ít) gồm có những kẻ như mẹ chủ quán cà phê này: Lúc nào cũng ôm lấy dĩ vãng- dù rằng dĩ vãng đã qua cả nửa thế kỷ. Nói chuyện thì nói về dĩ vãng như là nói chuyện ngày hôm qua. Phía bên ta (những người bỏ cộng sản ra đi), thì cũng không thiếu những người như vậy.

- Lớp người thứ hai là những người sanh ra sau chiến tranh (như cậu tài xế xe của tôi), và một số khá lớn những người lớn tuổi ở trong nước và hải ngoại. Đối với những người này thì: Chiến tranh đã qua đi cả nửa thế kỷ và Miền Nam đã thua. Ta không thể lấy lại được đất nước từ tay CS và cũng chẳng có ai gíúp ta lấy lại đất nước. Cho nên: "Simply live and let live."

Nay xin vào chuyện "Du lịch Việt nam."

Tôi đã du lịch VN nhiều lần nhưng lần này tôi muốn làm một chuyến du lịch từ Nam ra Bắc, nhất là thăm viếng cảnh núi non hùng vĩ Miền Bắc. Nay sau khi về hưu vào tuổi 80 - tuy hơi muộn nhưng lượng sức có thể làm được, nên tôi quyết định ra đi. Vì bà xã và các cháu đều phải làm việc, không thể đi chung, nên tôi đi một mình. Qua Net và điện thoại tôi mướn "bao" được một chiếc xe có tài xế lái để đi từ Nam ra Bắc và ngược lại tôi phải trả khoảng 100 đô Mỹ mỗi ngày (tức là 3 ngàn đô la trong một tháng du lịch quanh VN), và số tiền này gồm để trả cho việc: Bao một chiếc xe muốn đi đâu thì đi, thêm tài xế lái xe. Tài xế phải tư lo chuyện ăn, ở, xăng nhớt, thuê bãi bến (để đậu xe)… Tuy rằng giao kèo là như vậy, như vì chỉ có 2 thầy trò nên tôi vẫn mời chú tài xế ăn chung (chuyện ăn uống ở VN quá rẻ: Mỗi bữa ăn là trên dưới 10 đô la mỗi người). Hơn nữa ta phải nhìn rõ là mình đi chơi trong vòng một tháng, không thể ngày nào cũng ăn nhà hàng sang, ở khách sạn "xin," điều này không thực tế. Do đó, nhiều khi lỡ độ đường, ta cũng phải chấp nhận là có thể ăn ở trong quán hay ngoài đường (ngồi ghế đẩu thấp), và ngủ khách sạn hay là ngủ tại "nhà nghỉ" tức là kiểu "Bed and Breakfast (B&B)" tại Mỹ, Úc.  Tuy rằng là  "nhà nghỉ" nhưng  cũng có đủ máy lạnh, TV, tắm nước nóng, và giá có thể là từ 250,000 đ trở lên (tức là 12 đô Mỹ một đêm). Nếu chấp nhận như vây thì ta du lịch dễ dàng, tự do lái xe đi cho tới tối rồi mới tìm nơi nghỉ, không phải "book" trước khách sạn; mà thường thì khách sạn thì chỗ nào cũng dư thừa...

MIỀN TRUNG

Tôi khởi hành từ Sài gòn vào một buổi sáng đầu tháng 8, tôi và tài xế nhắm hướng Bắc ra miền Trung. Tôi tính ghé những đồi cát trắng ở Mũi Né, Phan thiết, rồi thuê xe "Quad bike" (xe có bánh xe lớn chạy trên cát); nhưng khi tới Phan Thiết thì trời mưa nên không thể mướn xe lái trên cát ướt được. Do đó tôi phải tiếp tục nhắm hướng Cam Ranh và qua đêm tại Phan Rang. Như ta biết Cam Ranh xưa là căn cứ Mỹ, nhưng nay thì đường phố khá mở mang, với những hàng cây cảnh được trồng tỉa rất khéo léo nằm giữa những công viên dài chia đôi con đương  và những công viên cùng hàng cây cảnh này kéo dài cả chục cây số chạy song song với biển. Các "Resorts" (khu nghỉ mát tư) chiếm hầu hết các bãi biển. Điều này có nghĩa là tư nhân không được vô tắm biển tại những nơi này, trừ phi là khách của "Resort." Tuy nhiên lái xe vòng vòng, rối tôi cũng kiếm được một bãi tắm công cộng, khá dài, lan ra tới dãy núi xa xa với những hòn cồn nhô lên trên mặt biển  ở trước mặt, rất nên thơ. Cam Ranh là nơi mà cát trắng xóa, có thể so sánh với Jervis Bay gần Sydney tại Úc. Ta thường nói "Nha Trang là miền quê hương cát trắng," tuy nhiên cát ở Nha trang thì màu hơi vàng, không thể nói là trắng như Cam ranh được.

Rời Cam Ranh ra Nha Trang, tôi khá ngạc nhiên vì sự phồn vinh của thánh phố này: nhà cao tầng san sát, bãi biển Nha trang dài cả chục cây số, với những hàng dừa và cây bàng cho bóng mát bọc theo đường đi dạo mát suốt dọc theo bờ biển. Biển Nha Trang khá sạch và thoai thoải, và nước biển thì muôn đời vẫn ấm (ngày và đêm) cho nên sáng sớm, khoảng 5 giờ đã có người tằm biễn. Khoảng 5 giờ chiều khi đã nhạt nắng, thì người ta lại ào ạt đi tắm biển. Tôi mướn một phòng khách sạn ngay mặt biển ("waterfront") có balcony nhìn ra biển, với giá là 500,000 đồng (khoảng 25 đô Mỹ) một đêm. Buổi tối bờ biển thắp sáng như ban ngày và người ta túa ra đường như trảy hội: đi ăn uống, nghe nhạc, đi dạo theo những hàng dừa dọc biển hay là nhảy xuống nước tắm đêm.

Khi ra tới Quy Nhơn, thì thành phố này cũng lớn và phát triển như Nha Trang, tuy nhiên bãi biển Quy Nhơn đầy rác và rất dơ bẩn, có lẻ là bãi biển dơ nhất mà tôi đã trải qua. Tuy rằng có những xe hót rác chạy trên cát dọc theo bãi, và cứ vài chục mét thì lại có một thùng rác để hốt, nhưng khi ta nhảy xuống tắm, thì chân ta đụng rác lung tung dưới nước. Bãi biển sạch nhất và đẹp nhất tại Quy Nhơn là bãi Kỳ Co. Vì bãi  này nằm trong một khu nghỉ mát nên ta phải trả tiền vô cửa (khoảng 10 đô la). Đây là một bãi tắm cát mịn, nước xanh, có những hang nhỏ bên hốc núi để thăm viếng, có thể thuê ghe để thăm vùng biển xung quanh. Đồ ăn biển ở Quy Nhơn, thì cũng giống như Nha Trang: nơi đây là bậc nhất ở VN với tôm hùm, ốc biển... Ta muốn ăn gì thì người ta nấu ngay cho ta ăn lúc đó trong quán ăn cạnh biển.

Tại Quy Nhơn, tôi có ghé thăm "Viện bảo tàng Quang Trung" tại ấp Tây Sơn để tưởng nhớ lại người anh hùng áo vải, từ nước lã mà vã nên hồ, một thời lừng lẫy phá quân Thanh. Viện bảo tàng được xây tại chính nơi anh em Nhạc, Huệ, Lữ sanh ra và lớn lên, với cái giếng mà anh em nhà Tây Sơn ngày xưa lấy nước uống. Đằng trước viện là bức tượng Quang Trung Nguyễn Huệ đứng sừng sững với nét kiêu hùng, áp đảo ba quân. Vô trong là những di sản thời Tây Sơn với trống làm bằng da voi, tiền đúc thời Tây Sơn và những ấn tín, cùng minh hoa những chiến công hào hùng của Nguyễn Huệ.

Cũng không xa nơi này là Thành Đồ Bàn của nước Chiêm Thành năm xưa. Ta còn nhớ là vua Lê Thánh Tông đánh và thắng Chiêm vào năm 1471. Vua cho phá hủy thành này. Sau đó vào năm 1778, Nguyễn Nhạc (nhà Tây Sơn) xưng đế và cho xây thành Hoàng Đế trên nền của thành Đồ bàn xưa. Trước khi thăm nơi này, tôi háo hức là sẽ được xem một nơi mà "Rừng hoang vu.  Vùi lấp bao nhiêu uất căm hận thù" (Xuân Tiên); nhưng tôi đã vỡ mộng. Trước mắt tôi là một nơi hoang vu khô cằn sói đá với bức tường đá ong, cái cổng tam quan khép kín và chiếc hồ cạn với cột cờ và bia đá bên trong nay đã rêu phong. Từ ngoài nhìn vào, ta ngâm ngùi cho một triều đại quật cường của người Chiêm một thời đóng đô ở đây, với ngày nào Chế Bồng Nga tiến quân ra đất Bắc uy hiếp vua nhà Trần phải bỏ kinh đô Thăng Long mà chạy...

Tiếp tục lái xe về hướng bắc nhắm hướng Đà Nẵng. Đồi Bà Nà là một đồi khá cao phải đi xe cáp treo dài gần 6 cây số để lên đỉnh đồi. Cáp treo này được xếp hạng là dài nhất thế giới. Cáp treo dẫn tới đỉnh đồi và từ đây, ta sẽ thăm một chiếc cầu vòng cung nối liền ga cáp treo với vườn cây. Có hai bàn tay lớn bằng đá tạo hình tương như chiếc cầu này được hai bàn tay đá nâng lên. Kiến trúc này hoàn toàn do người Việt vẽ họa đồ và xây lên (Vũ Viết Anh, Trần Quang Hùng và Nguyễn Hữu Tuấn). Đây là một nơi đáng thăm viếng: từ trên chiếc cầu vòng cung với gió lồng lộng, tạo cảm tưởng là ta đang bay bổng trên không, ta có thể nhìn bao quát toàn vùng, và xa xa về thành phố Đà Nẵng.

Ngũ Hành Sơn ("Marble Mountains"), hay Núi Non Nước là một nơi khá đặc biệt. Đây là 5 ngọn núi đá bằng cẩm thạch ("Marble") lẫn với đá vôi.  Qua giòng thời gian, mưa lũ đã soi mòn đá vôi tạo nên những hang động rất lôi cuốn du khách. Trong năm ngọn núi (Ngũ Hành) thì Thủy Sơn là nơi đáng coi nhất với rất nhiều chùa và hang ở lưng chừng núi. Ngày nay ta có thể đi thang máy lên lưng núi và từ đây ta đi bộ thăm rất nhiều chùa chiền: chùa Tam Thai, chùa Linhh Ứng và "Cổng Trời "(nơi cầu thang bằng đá dẫn đền chỗ vách núi nứt ra như một cái cổng nhìn lên bầu trới), rồi động Huyện Không, hang lên trời v..v...

Tôi có tới thăm và tắm ở bãi biển Mỹ Khê.  Bãi rất dài và nước biển rất ấm và sạch. Tuy nhiên tôi vẫn thích biển Nha trang hơn vì Nha trang có đường đi dạo cạnh biển rợp bóng dừa và bóng cây bàng.

Tới Huế thì thấy thực sự Huế là một thành phố không có nhiều thay đổi nếu ta so sánh với Đà Nẵng hay Sài gòn. Tuy nhiên Huế vẫn là cố đô của nhà Nguyễn, và những nơi như Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, hay là lăng Tự Đức... là những nơi tại Huế mà không lần nào thăm Huế ta có thể bỏ qua. Có một điều là cầu Tràng tiền (là nơi mang nhiều kỷ niệm của các bạn sinh quán tại Huế), nay vào ban đêm, chiếc cầu này được thắp sáng bằng đèn màu mỗi nhịp cầu một màu khác nhau và màu thay đổi liên tục. Thú thực nhìn cảnh màu sắc xanh đỏ này có vẻ rất là rẻ tiền. Hơn nữa, cái cảnh gạ gẫm chào hàng của những anh xích lô, hay là những chị chèo thuyền trên sông Hương làm du khách rất phiền muộn. Ta đi bộ bên giòng sông Hương để nghe vang vọng trong tai những bài ca hay bài thơ về Huế, thì cứ vài phút lại có một anh hay chị nhảy ra chào hàng (!). Thật hết thơ và hết mộng. Đi về phía bắc, tôi bỏ con đường lộ 15 qua động Phong Nha (vì đã thăm nơi này trước kia) nên đi theo quốc lộ 1 qua đèo Ngang. "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà"  (bà Huyện Thanh Quan), thì sự thực tôi cũng không thấy có gì làm tôi xúc động. Có lẽ vì nay có đường hầm xuyên núi Hoành Sơn nên ta đã mất đi khúc đẹp nhất của đèo Ngang từ đỉnh núi nhìn ra chăng?

MIỀN BẮC

Vào địa hạt Ninh Bình nơi đất Bắc, ta không thể bỏ qua thung lũng Tam Cốc, Tràng An... là những nơi được UNESCO liệt kê là di sản của thế giới. Tôi mướn thuyền đi trong Tam Cốc: vẫn đẹp và thơ như thuở nào và gợi nhớ tới Hạ long hay Quế Lâm. Rời Tam Cốc, tôi tính leo lên Hang Múa rồi thăm Tràng An; nhưng vì trời quá nóng (nhiệt độ hôm đó gần 40 độ C), nên tôi đi thẳng ra Hà Nội.

Hồ Gươm (Hà nội): trong đêm tối, tôi đi dạo quanh Hồ Gươm, lòng bồi hồi nhìn đền Ngọc sơn và cầu Thê húc trong đêm để nhớ tới những kỷ niệm năm xưa hồi mình còn bé, thì tình cờ cũng thấy vài anh Tây ngồi trên ghế đá mê mẩn ngắm liễu và những hàng cây la đà nghiêng bóng bên hồ. Cái lãng mạn của Hồ Gươm thì ngòi bút khó có thể mô tả được. Tôi có thăm Văn Miếu để tìm lại  những cảm nghĩ về một thời văn học và khoa cử của ta thuở xưa. Đi dọc theo phố Huế để tìm lại dĩ vãng, thì rạp xi nê Đại Nam vẫn còn ở chỗ cũ, vẫn giữ tên cũ, nhưng nay trở thành nơi trình diễn và hội họp của doanh nhân. Chợ Hôm thì nay đã dep. Tôi có lên đường Cổ Ngư (nằm giữa hai hồ Tây và Trúc bạch), thì nay đã thay tên là đường Thanh Niên (rất vô duyên), tuy nhiên chùa Trấn Quốc (là trung tâm Phật giáo của đất Thăng long từ thời Lý Trần) thì vẫn  mơ màng soi bóng trên mặt hồ.

Rời Hà nội tôi nhắm hướng vịnh Hạ Long, thì trên đường đi, nhớ tới chuyện Vua Trần Nhân Tôn và Huyền Trân công chúa, tôi ghé thăm núi Yên Tử.

Chùa Đồng trên đỉnh núi Yên Tử (Quảng Ninh - gần Hạ Long): chùa được đúc bằng đồng do vua Trân Nhân Tôn, sau khi từ bỏ ngai vàng, đi tu và cho đúc chùa này trên đỉnh núi. Ta phải qua 2 lần cáp treo và leo núi khoảng 1000 bậc mới lên được tới chùa (kể cũng là kỳ công của một anh già 8 bó như tôi). Tưởng cũng cần nhắc lại là Huyền Trân công chúa là con của vua Trần Nhân Tôn. Công chúa được gả cho vua Chiêm là Chế Mân và nhờ đó Chế Mân xin dâng hai châu Ô và Châu Lý (nay là Thừa Thiên và Quảng Trị). Vậy bạn nào quê quán xứ Thần Kinh cũng nên nhớ lại gốc gác mình từ đâu mà có

Vịnh Hạ Long nhìn từ đỉnh Ti Tốp. Muốn lên tới đỉnh này, ta phải leo khoảng gần 700 bực thang lát đá. Tuy nhiên từ đỉnh núi nhìn bao quát toàn cảnh vịnh Hạ Long xung quanh, ta sẽ thấy là đã không uổng công leo. Tại Hạ Long ta cũng không thể bỏ qua chuyện đi vô "Hang Luồn": muốn vô hang này, ta phải chèo thuyền ("kayak") đi qua một cửa hang nhỏ thông qua vách núi (tức là luồn qua). Khi vượt qua hang, ta sẽ lọt vào một khung cảnh thần tiên với tứ bề là vách núi cao sừng sững bao quanh một mặt hồ nhỏ nước xanh biếc như gương.

Một nơi khác tại Vịnh Hạ Long mà ta không thể bỏ qua là đảo Cát Bà. Ngày nay ta có thể tới Cát Bà dễ dàng bằng cách lái xe lên phà từ đảo Tuần Châu ra Cát Bà. Đảo Tuần Châu cách Hạ Long khoảng 10 cây số và nay đã được nối với đất liền bằng một con đường dài khoảng 1 cây số. Khi lên tới bến phà bên Cát Bà, ta phải chạy xe khỏng 40 cây số nữa để tới thị trấn Cát Bà. Tại đây ta mướn ghe đi thăm quần đảo Cát Bà và vịnh Lan Hà. Đây là một cái vịnh lớn rất đẹp bao quanh bằng ngững hàng núi đá vôi nhấp nhô trên mặt biển. Ta có thể leo núi hay tắm biển tại những bãi cát trắng như bông nối liền hai ngọn núi trên biển và có thể là chỉ có một mình ta trên bãi cát.

Từ vịnh Hạ long vào buối sáng, tôi trực chỉ hướng Hà Giang qua Hà nội. Nhờ hệ thống đường cao tốc, tôi tới Hà Giang vào buổi chiều. Đây là tỉnh cực bắc VN giáp giới Tầu và ngăn cách với tỉnh Vân Nam bên Tầu bằng một vùng núi non hiểm trở với đỉnh Tây Côn Lĩnh và giòng sông Chảy.

Một cảnh trên đèo Mã Pì Lèng (Hà Giang). Theo tôi thi con đường lái xe từ Cổng Trời (Quản Bạ - Hà Giang) tới Đồng Văn (nơi cực bắc VN - giáp giới Trung Quốc), rồi từ Đồng Văn tới Mèo Vạc (con đường này là đường đèo Mã Pì Lèng) là con đường đèo đẹp nhất mà tôi đã đi qua. Con đường này có thể so sánh với con đường được mệnh danh là con đường lái xe đẹp nhất thế giới ("The most beautiful drive in the world") là con đường từ Banff (với lake Louise) tới Jasper ở Alberta (Canada). Đoạn cuối của đèo là sông Nho Quế: một con sông nước xanh biếc lượn qua eo núi với vách núi cao vút, cùng rất nhiều thác nước và thác bậc thang ("cascades").
 
Rời Hà Giang qua Cao Bằng, quanh co trên vùng núi non dọc theo sông Gầm (đoạn nối tiếp của sông Nho Quế), tôi qua Cao Bằng lên thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc: Thác nằm vắt ngang biên giời Việt và Tầu. Dù qua nhiều tranh cãi về thác này, cho rằng Trung quốc đã chiếm phần chính của thác, thì theo tôi nơi tốt nhất để chiêm ngưỡng thác là từ bên phía Việt Nam, không phải là từ phía Trung Quốc; vì từ bên VN, ta có thể quan sát trực diện vô thác. Phía bên Tầu, dù họ xây cất con đường vòng núi quy mô để cho khách coi thác, nhưng cũng chỉ được ngắm thác xeo xéo từ một bên vách núi mà thôi. Tuy được nhắc tới nhiều qua giấy mực và tuy rằng thác khá lớn, nhưng ta không thể so sánh thác này với sư vĩ đại của những thác như Niagara (Mỹ - Canada), Iguazu (Argentina) hay Victoria (Zambia - Zimbabwe) được. Thác cũng chẳng thể so sánh với những thác ờ Iceland (do tuyết tan tạo ra rất nhiều thác vĩ đại), hay những thác từ núi đổ xuống biển như  tại vịnh Bergen (Bergen Fjords) bên Na Uy hay Milford Sound (bên New Zealand)… là những nơi có cả trăm thác nước từ núi đổ xuống biển. Cho nên nếu ta đi du lịch trong vùng Hà Giang, Cao Bằng... thì nên ghé coi thác cho biết, cón nếu từ Sài gòn hay Hà Nội mà vượt đèo vượt núi đi coi thác thì có lẽ là không phải là chuyện đáng làm.

Cũng cân nhắc là đường đi từ tỉnh lỵ Cao Băng ra thác Bản Giốc là một con đường rất đẹp và hùng vĩ với núi đá vôi  xuyên mây chập chùng trên đường đi. Con đường này cò thể so sánh với cảnh ở Quế Lâm ("Guilin") bên Tầu.

Rời thác Bản Giốc, tôi hướng xuống phía Nam thăm hồ Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn. Hồ Ba Bể ở cách đường lộ chính khoảng 50 cây số. Đây là một hồ rất lớn, bao quanh bằng những dãy núi đá vôi cao và hùng vĩ cho nên cảnh nước in bóng núi rât là nên thơ. Tuy nhiên, khi đi thăm những thắng cảnh trên hồ: như thác nước, hang đá, hồ nhỏ với vách núi bao quanh... thì ta lại gặp cảnh cũ: các hàng quán hai bên san sát, mời chào. và níu kéo rất là thối chí cho khách du lịch.

Rời hồ Ba Bể tôi trực chỉ hướng Nam trở về Sài gòn.

Khởi hành từ Nha Trang vào buổi sáng tôi tới Sài gòn vào lúc hoàng hôn. Cái nhìn đầu tiên có lẽ là Sài gòn nay có khá nhiều nhà cao tầng và số xe máy tuy vẫn nhiều, nhưng xe hơi cũng tăng gấp bội. Một điều đáng chú ý là không còn chuyện "nói thách" như xưa. Thăm hàng, quán thì giá thế nào, bán thế đó. Không còn chuyện mặc cả. Ở ngoại quốc thì ta có Uber, thì Sài gòn có Grab: ta có thể "book" xe  Grab đi từ nơi này tới nơi khác với giá khoảng từ 3 tới 5 đô Mỹ và giá cố định. Hầu như tất cả những cơ sở thương mại đều xài tiếng Mỹ cạnh tiếng Việt: "Thương xá Tax" nay thành "Saigon Centre" (gần tòa nhà cũ), bệnh viện Sài gòn năm xưa (trước chợ Bến Thành) thì ngoài chữ Bệnh Viện Đa Khoa Sài gòn, thì là chữ "Saigon General Hospital."  Nói chuyện với người Sài gòn, thì có thể nói là 90 % ưa Mỹ và chỉ có cỡ 10% ưa Tầu. Đến nỗi là một số anh Tầu ờ VN không dám nhận mình là người Tâu vì sợ bị dân… bề hội đồng.

Trong hầu hết những khách sạn mà tôi đã ở, tôi có thể bật đài (TV) CNN, Al Jazeera, BBC... của Tây phương thoải mái.  Trên đường phố Sài gòn và trên khắp mọi nẻo đường trên đất nước VN, tôi nhân thấy là có rất nhiều xe hơi mang nhãn hiệu "Vinfast" và cũng có rất nhiều trạm sạc điện cho xe ở bên đường. Hỏi ra thì biết đây là một hiệu xe hơi chạy điện, làm tại Việt nam mà giám đốc công ty là một người Việt tên là Phạm Nhật Vượng. Công ty của ông này xuất phát từ Ukraine, và ngày nay công ty này (Vingroup) bao gồm nhiều lãnh vực: Du lịch, Bất động sản (Vinpearl Phú Quốc, Cáp treo Nha Trang..), xe hơi điện (Vinfast), xe bus chạy điện (Vinbus)... Công ty xe hơi điện này đang nhắm vào thị trường Mỹ và Âu chau.
 
Một điều khá ngạc nhiên là khoảng 6 năm trước, tôi ghé thăm "Viện bảo tàng Mỹ thuật" ở đường Phó Đức Chính (gần chợ Bến Thành), thì ngày đó, trong tòa nhà thứ hai của viện bảo tàng này là san sát tượng Hồ Chí Minh cái này sau cái khác - trông khá trơ trẽn, vô duyên và chẳng có gì là mỹ thuật (ngược với cái tên "Viện bảo tàng Mỹ Thuật" của nơi này) - thì ngày hôm nay khi thăm viếng, các tượng của Hồ nay đã biến mất và thay vào đó là những bức tranh  hoặc điêu khắc khác. Có một vài tranh vẽ Hồ nói chuyện với các em bé hay các" chiến sĩ," nhưng con số này rất ít. Riêng tác phẩm "Vườn Xuân Trung Nam Bắc" của Nguyễn Gia Trí vẫn còn được đặt ở một vị trí trang trọng. 28 bức tranh của họa sĩ Lê Thị Lựu do cô Thụy Khuê tặng viện bảo tàng nay được đặt trong hai phòng là nơi duy nhất có máy lạnh trong Viện Bảo tàng, với bức tranh "Sơn Nữ" rất đáng chú ý. Video phỏng vấn cô Thụy Khuê (tác giả của cuốn "Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc" là một cuốn sách phê bình HCM rất nặng nề) được chiếu đi chiếu lại liên tục tại hai phòng này.

Từ bến Bạch Đằng, tôi lên tầu cao tốc ra Vũng tàu. Tàu đi mất 2 giớ để tới Vũng Tàu và giá vé khư hồi là 30 đô Mỹ. Tại Vũng Tầu, tôi mướn bao một xe taxi trong 4 giờ với giá là 30 đô Mỹ để thăm Vũng Tầu và Long Hải. Bãi Trước Vũng tầu ngày nay tuy được trùng tu cho rợp bóng cây, nhưng bãi khá dơ bẩn vì rác. Bãi Ô Quắn (tức "Nghinh Phong") thì ngược lại. rất đẹp và đáng nhẩy xuống tắm. Bãi Sau Vũng tầu nay được mở mang: ngày xưa thì trần trụi không có cây thì nay với khoảng 10 cây số rợp bóng cây trên bờ và hàng quán rất tất nập.

Một vài cảm nghĩ

- Một cách tổng quát thì người dân VN ngày nay khá dễ thương và lịch sự: Nói chuyện đều có thưa gởi và kêu chú xưng cháu với tôi. Chuyện "Bún mắng, cháo chửi" nối tiếng nhiều năm trước, thì nay tôi không thấy. Ngược lại tôi xin kể một chuyện: Hôm đó tôi cho lái xe về tới Gia Lâm (cạnh Hà nội). Tôi và tài xế rất đói bụng nhưng kiếm mãi không ra quán ăn. Lúc đi xe loanh quanh gặp một cậu bé bên đường, tôi xuống kiếng xe và hỏi: "Cháu có biết chỗ nào bán phở không?"  Cậu cu này nhìn tôi, nói: "Cháu biết nhưng đi lòng vòng khó tới lắm. Để cháu dẫn bác đi."  Nói xong cậu nhỏ này nhảy tót kên xe gắn mày đi vòng vo khá xa và chỉ cho tôi tiệm phở. Tôi bàng hoàng nghĩ bụng: chuyện này khó xảy ra ở Úc: người ta có thể chĩ đường cho mình, nhưng đi xe đưa mình tới nơi tới chốn thì thú thực tôi ít gặp.

- Một chuyện nữa là khi ở vịnh Hạ Long, tôi gởi đồ để giặt trong khách sạn. Khi đi ra ngoài mới sực nhớ là mình quên một xấp tiền trong túi một chiếc quần. Tôi đinh ninh là sẽ mất số tiền này, nhưng khi trở về khách sạn, thì đồ giặt được đưa tới phòng và số tiền tôi bỏ quên trong túi được để lên trên cái túi đồ giặt (chuyện này cũng khó xảy ra ở Úc..).

Trên đây là những điều tai nghe, mắt thấy ở Việt Nam. Có thì tôi nói, không có thì thôi. Tôi không nói thêm và cũng không nói bớt…

Vũ Ngọc Tấn
7 Sept 2022
https://hung-viet.org/a29199/viet-nam-mot-chuyen-di

Sunday, February 12, 2023

Đồi Charlie: Người đi, linh hồn ở lại

Tuấn Khanh
https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/doi-charlie-nguoi-di-linh-hon-o-lai/

Chúng tôi chọn những ngày cuối năm để leo lên ngọn đồi lịch sử
Charlie, bởi vào lúc này thời tiết không quá khắc nghiệt để lần mò
được đến nơi. Mang theo trong chuyến đi, những thứ quan trọng nhất là
rượu, hoa và nhang: quà cho những người mà thế hệ chúng tôi chưa từng
biết mặt.

Máu xương người Việt…

Khác với việc thắp nhang ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nay nằm
trong địa phận tỉnh Bình Dương, đường đi nghĩa trang không khó nhưng
lại phải chịu sự dòm ngó và hạch hỏi của nhóm gác cổng do công an địa
phương cắt đặt, còn đường đi đến đồi Charlie chỉ có núi rừng, vài tấm
bảng chỉ đường phủ đầy bụi đỏ. Thi thoảng trên đường có bắt gặp vài
người dân tộc Jarai hay Sedang.

Charlie là một chóp đồi cao nằm giữa ba huyện Sa Thầy, Đắk Tô và Ngọc
Hồi, thuộc tỉnh Kon Tum. Đường đi đến đó cheo leo và trắc trở. Chúng
tôi đoán là trước năm 1975, hầu hết cuộc chuyển quân đều dựa trên
không vận mới có thể nhanh và an toàn. Người Việt trong vùng gọi là
Sạc-Li, dựa theo âm tiếng Anh, mà trong chiến tranh Việt Nam, cứ điểm
cao 900m so với mặt nước biển được quân đội đặt tên, tạo thành tuyến
phòng thủ và quan sát khu vực ngã ba Đông Dương. Nơi đây còn là vùng
bảo vệ cho sân bay quân sự Phượng Hoàng và bản doanh bộ Tư lệnh Hành
quân Sư đoàn 22 Bộ binh ở Tân Cảng của miền Nam.

Việc đặt tiểu đoàn 11 nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ ở
đồi Charlie là một sự khó chịu vô cùng đối với quân Bắc Việt, vì mọi
cuộc chuyển quân ở ngã ba Đông Dương hay từ Bắc vào, qua ngã này, đều
có thể bị phát hiện. Cho nên, trong cuộc tổng tiến công năm 1972 của
quân đội Bắc Việt, cùng với một phần của Mặt trận Giải phóng miền Nam,
đồi Charlie là mục tiêu cần phải bị xóa sổ. Cái gai cần phải nhổ cho
đường tiến quân thuận tiện từ Tây Nguyên xuống đồng bằng miền Nam.

Mùa hè 1972, người ta gọi đó là mùa hè đỏ lửa. Đỏ lửa là bởi sự nóng
bức của thiên nhiên, cộng thêm súng đạn bay khắp nơi trong một cuộc
tương tàn nhân danh giải phóng của chủ nghĩa cộng sản. Không có số
liệu chính xác nào nói về thương vong của cả hai bên ở đồi Charlie,
nhưng dựa trên phần sử liệu được công bố thì phía Việt Nam Cộng Hòa có
tiểu đoàn 11 Song kiếm Trấn ải (tạm tính khoảng hơn 600 người) đối đầu
với quân của sư đoàn 320 Bắc Việt (tạm tính khoảng gần hơn 7,000
người), chưa kể phía lực lượng Mặt trận Giải Phóng Miền Nam không được
công bố, thì con số ít nhất thiệt mạng sau khi máy bay B-52 bỏ bom rải
thảm tái chiếm, những thanh niên Việt Nam của cả hai bên thiệt mạng,
ít ra cũng phải là 4,000 đến 5,000 người trong trận đó.

Điều đó, có nghĩa rằng chuyến đi mất gần ba tiếng di chuyển lên đến
đỉnh đồi của chúng tôi, nơi đâu cũng có máu xương người Việt. Từng
viên đá, từng khúc quanh, từng ngọn cây… chắc đều giữ lại phần bí mật
nhất chưa bao giờ được kể lại về số phận không chỉ của từng con người,
mà của một dân tộc phải chịu điêu linh vì cuộc chiến tranh màu lý
tưởng cộng sản.

Ngọn đồi Charlie xanh mướt và lặng lẽ giữa thông xanh, trời mây và gió
se sắt lạnh. Đầu ngõ vào cầu treo dẫn đến chân đồi, chính quyền địa
phương đến hôm nay cũng chưa dám ghi rõ ràng về cuộc chiến này, mà chỉ
đơn giản là "Di tích lịch sử của điểm cao 1015 Charlie và 1049 Delta"
– khác với giọng điệu thường đắc thắng và kiêu ngạo sau 1975, khi mà
những di tích thường có thêm các tấm bia ngợi ca sự anh dũng của quân
đội Bắc Việt.

Nhưng ở Charlie, mất mát quá lớn có thể là điều nhà cầm quyền ngại
ngùng không muốn nhắc tới. Hàng năm không chỉ có những chuyến xe từ
Bắc vào Charlie để viếng người thân sinh Bắc tử Nam, mà chính người
miền Nam đứng trên ngọn đồi ấy cũng ngậm ngùi: Ai, điều gì… đã xô đẩy
khiến cho máu xương Việt Nam chia lìa và chôn vùi thảm khốc đến vậy?

"Đi thăm ông Trung tá Bảo à?"

Chúng tôi đi xe máy, sáu người chở nhau và tận dụng mọi sức lực tay
chân để có thể đến đỉnh đồi, trước khi trời sụp tối. Có đoạn phải vừa
nổ máy xe, vừa đẩy, có đoạn vứt bớt đồ lại vì quá mệt, mang vác không
nổi. Đoạn đường vừa tạm hết lầy sau mùa mưa, lại khô, trơn và nhiều ổ
gà và đá vụn. Mọi người trong đoàn có lúc mệt đến mức hoa mắt, tay
chân bủn rủn, thở không được vì không khí ngày càng loãng. Anh B.,
người khỏe nhất trong nhóm, có lúc đứng lại chắp tay và cầu nguyện "Đã
đến được đây, mấy anh phải giúp tụi em đến nơi thắp hương mời rượu cho
mấy anh".

Đã 45 năm rồi. Những ngôi mộ, nếu có, thì giờ cũng đã um tùm cỏ lau.
Thịt xương cũng đã là rêu bụi. Chiến địa đã trở thành rừng xanh bao
phủ trên núi, ôm kín mọi nỗi lòng. Đó là chưa nói nhiều thế hệ đã đi
qua, không biết, hoặc bị tuyên truyền bóp méo tin tức về những người
lính Việt Nam Cộng Hòa ở đây. Vậy mà mấy lần, gặp một người Jarai hay
Sedang, thấy chúng tôi hồng hộc thở trên đường, họ cười thân thiện và
hỏi "đi thăm ông Trung tá Bảo à?".

Lạ lùng. Sao họ lại biết Trung tá Bảo nhỉ? Thậm chí bài hát nổi tiếng
của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có tên Người ở lại Charlie cũng không
nhắc gì về tên của người chỉ huy tiểu đoàn Song kiếm Trấn ải này. Dù
sau khi tử trận ở Charlie, Trung tá Nguyễn Đình Bảo (1936-1972) được
truy phong đại tá, nhưng dân trong vùng vẫn nhớ về một vị Trung tá,
giữa hàng ngàn người đã gửi lại hình hài ở nơi này.

Người ở lại Charlie

Trận chiến Charlie diễn ra trong một tuần, dữ dội. Quân đội Bắc Việt
được điều động tiến vào Nam, số trang bị và nhân lực được kể là gấp
sáu lần quân Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ. Một người lính miền Nam phải
chống cự với 6-7 người lính miền Bắc. Pháo kích và tiến công biển
người diễn ra cấp tập trong ba ngày đầu. Đạn pháo kích đã khiến Trung
tá Nguyễn Đình Bảo tử trận vào ngày thứ hai (12-4-1972), các chỉ huy
nối nhau thay quyền kiểm soát cũng tử trận liên tục.

Không chỉ tấn công mà mục tiêu của sư đoàn 320 còn là tiêu diệt cho
được tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải (theo nhà văn Phan Nhật Nam thì sau
trận đồi Charlie, tiểu đoàn này mất 400 quân nhân) nên quân Bắc Việt
bao vây và chặn đường mọi ngã. Thậm chí súng phòng không Bắc Việt còn
được chuẩn bị để ngăn không cho trực thăng tiếp viện.

Sau khi không còn đạn dược và lương thực, những quân nhân Việt Nam
Cộng Hòa còn lại đã rút lui, nhường đường cho tốp máy bay B-52 bỏ bom
hủy diệt toàn bộ phần Sư đoàn 320 đang tràn lên ở đây. Charlie phút
chốc thành bình địa, kể cả những bộ đội từ Bắc vào, cho đến những thân
xác còn nằm lại của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.

Mọi nỗ lực tấn công hao tổn về con người và súng đạn của phía quân
chính quy Bắc Việt hoàn toàn thất bại. Có lẽ vì vậy mà trong wikipedia
Việt ngữ nói về Sư đoàn 320, chiến sử Charlie đã không được ghi lại
cũng như cũng cố ý không nhắc tới, trong các mục viết ca ngợi danh
tiếng của Sư đoàn này.

Nói về trận đánh đó, vùng đất đó, nhà văn Phan Nhật Nam có viết trong
bài Người ở lại Charlie: "Bi kịch không riêng đối với những người lính
Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo –
Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua
hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa
Con Người Lính. Nỗi Đau kia hằng mới vì Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung,
cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của Tình Yêu trong đời sống
trần thế giới hạn của nhân sinh" (trích)

Cuối năm 1972, quân đội Việt Nam Cộng Hòa có tổ chức dựng bia tưởng
niệm trên đỉnh đồi để tưởng các quân nhân đã hy sinh trong cuộc chiến,
và ghi nhớ nơi tử trận của Đại tá Nguyễn Đình Bảo. Nhưng rồi sau 1975,
chính quyền địa phương theo lệnh từ Hà Nội đã cho đập phá tất cả. San
bằng mọi thứ. Nhưng đáng ngạc nhiên, là chính nhà cầm quyền Bắc Việt
cũng không hề dựng bất kỳ bia tưởng niệm nào cho hàng ngàn người lính
của họ đã thiệt mạng ở nơi này.

Mãi cho đến giữa thập niên 1990, những đoàn thân nhân từ miền Bắc vào
để viếng, nơi con em của họ đã để lại tuổi xuân trên ngọn đồi Charlie
mới góp tiền cùng nhau dựng một bàn thờ, hương khói. Còn về những
người miền Nam, không biết ai đó đã ùn một đống đất, tựa như một gò
nhỏ, hay có thể là một nấm mộ tượng trưng cho những ai lên thắp hương
cho Đại tá Nguyễn Đình Bảo và những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Và dù
rất khiêm tốn, không có bia hay chữ ghi chú nào, nhưng mọi người đều
biết nếu thắp nhang cho những người miền Nam, thì đến đó.

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Khi cả nhóm loay hoay trên ngọn đồi, lúc chiều xuống đậm rồi, vẫn
không biết là nơi nào để hướng đến, thì chính một người trẻ tuổi địa
phương bất ngờ có mặt xuất hiện trên đó chỉ giúp, "nơi của ông Bảo",
hay nơi để viếng những người cùng ông ngã xuống, cũng vậy.

Hương bay theo gió, những cánh hoa vàng phất phơ trên cỏ. Tôi chợt nhớ
đến phần cuối trong Đồi gió hú của Emily Bronte, rằng "dưới những cành
hoa phất ấy, những người nằm dưới nấm mộ ấy có thật sự yên nghỉ
không?". Không có ai trả lời tôi suy nghĩ đó, chỉ có tiếng gió rít qua
từng hồi như tiếng thở than.

Con đường xuống núi nguy hiểm và khó khăn hơn cả lúc đi lên, vì chung
quanh là bóng tối, đường lầy với cát khô và đầy khúc quanh đốc xuống
thẳng đứng. Nhưng bên cạnh chuyện việc lo lắng đi ra, ai cũng mang
theo một cảm giác kỳ lạ. Trận chiến Charlie lại sống động như mới hôm
qua, những người Việt Nam nổ súng vào nhau như vẫn còn nghe tiếng đạn
bay. Rừng núi âm u như vẫn chực chờ những cái chết vô định. Chúng tôi
cảm nhận được hết mọi thứ và ngồi lại, kể với nhau khi ra đến bên
ngoài.

Ký ức thường rồi dần sẽ phai mờ, sự khốc liệt của chiến tranh, máu và
nước mắt rồi cũng khô cạn. Nhưng anh hùng tử, khí hùng bất tử, cái
chết vì chính nghĩa bảo vệ miền đất tự do của những thanh niên miền
Nam Việt Nam quyết bảo vệ vùng đất của mình vẫn được nhớ đến, vẫn
phảng phất trong hương gió núi vùng Dakto, trong lời hát, bất ngờ hiện
ra vào chiều sẩm tối ở đồi Charlie, khiến chúng tôi gai người – sự
linh thiêng của núi sông là đây, của cha anh là đây, của nghịch cảnh
tương tàn vì tham vọng cơ đồ là đây.

Đi trong đoàn có hai sư thầy trẻ, vừa là bạn tín ngưỡng, vừa là người
đồng chí hướng. Nhang được đốt lên, hoa được đặt xuống mặt đất bằng.
Chai rượu trắng được rót xuống cùng những lời cầu nguyện khác nhau.
Anh V., đứng thẳng dáng gầy, tay chắp nhang ngang mày im lặng. Sự tôn
nghiêm của anh làm hơi rượu như nồng hơn, sẻ chia như những vần thơ
của Tô Thùy Yên:

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chén rượu hồng đây xin rót xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Giờ thì không có ai là kẻ thù, cần diệt trừ và không có nơi chốn nào,
cần phải bị giải phóng. Chỉ có những con người nằm lại với nhau, xương
thịt nằm lại trên cùng một mảnh đất, cùng ngửa mặt lên bầu trời đêm
của ngọn đồi Charlie để thấy thương đau là tên gọi chung của tất cả.
Tất cả thịt xương Việt Nam đã đến, đã hư không, chỉ còn linh hồn ở
lại.

Chắc chắn rồi chúng tôi sẽ trở lại, rót rượu cho mọi người, không phân
biệt là ai. Vì như có một lời hứa âm vang trong tim với những con
người đã đến, thân xác ra đi nhưng linh hồn mãi mãi ở lại Charlie.
Những người anh em Việt Nam đã chết trên đất nước, đem lại những điều
quý giá. Có những người dạy cho thế hệ sau biết chính nghĩa quốc gia
là gì, và có những người lại dạy cho chúng tôi biết cuộc tương tàn ấy
đau đớn thế nào trong tham vọng chủ nghĩa.

Tháng 12-2020

Monday, August 08, 2022

Nguyễn Hưng Quốc: Đất nước sẽ về đâu?

https://www.voatiengviet.com/a/dat-nuoc-se-ve-dau/3311636.html

Tôi có khá nhiều bạn bè hiện đang sinh sống tại Úc, trước đây, khi còn
làm việc, cứ ao ước đến ngày về hưu, con cái khôn lớn, có gia đình và
có việc làm ổn định cả, sẽ về Việt Nam an hưởng tuổi già. Bức tranh
người ta vẽ ra rất đẹp: với số tiền hưu trí tại Úc, người ta có thể dễ
dàng có một cuộc sống rất phong lưu ở Việt Nam. Có thể thuê người ở.
Có thể đi đây đi đó. Có thể ăn hết món lạ này đến món lạ khác. Thế
nhưng, đến ngày họ thực sự về hưu, sau vài chuyến thăm viếng Việt Nam,
người ta lại đổi ý. Theo họ, Việt Nam chỉ là nơi để đi du lịch chứ
không phải là nơi có thể sống được lâu dài. Người ta đưa ra hai lý do
chính: Một là nhớ con cháu tại Úc; hai là, Việt Nam hoàn toàn không an
toàn.

Tôi cũng có khá nhiều bạn bè ở hướng ngược lại: Họ sống tại Việt Nam,
phần lớn đều khá thành đạt, có chức có quyền và có tiền. Họ cho con
cái du học ngoại quốc. Học xong, các cháu có việc làm đàng hoàng, sau
đó, bảo lãnh cho cha mẹ từ Việt Nam, sau khi về hưu, ra ngoại quốc
sinh sống. Họ bỏ lại sau lưng cuộc sống rất dư dả và cũng rất vui vẻ
trên quê hương để sang sống ở một quốc gia xa lạ về cả ngôn ngữ lẫn
văn hoá; và vì sự xa lạ ấy, cũng khá buồn rầu. Hỏi tại sao, họ cũng
nêu lên hai nguyên nhân: Một là muốn gần gũi con cháu; và hai là, ở
ngoại quốc, dù buồn, vẫn an toàn hơn hẳn Việt Nam.

Bỏ qua việc sống gần con cháu, cả hai nhóm người ấy đều có nhận thức
giống nhau: Việt Nam, dù là quê hương người ta rất yêu mến, không còn
là một nơi an toàn để sống.

Trước hết là thiếu an toàn về chính trị. Ở bình diện cá nhân, người ta
có thể bị bắt bớ hay tra tấn bất cứ lúc nào nếu muốn có một tư duy độc
lập và nếu muốn thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ở bình diện quốc gia,
dù nhà nước Việt Nam luôn xem sự ổn định là một trong những mục tiêu
lớn nhất của họ, ai cũng biết, Việt Nam lúc nào cũng ẩn chứa đầy những
nguy cơ bất ổn. Bất ổn trong nội bộ đảng với các khuynh hướng và phe
phái khác nhau. Nhưng quan trọng nhất là bất ổn trong quan hệ với
Trung Quốc: Không ai dám chắc những mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung
Quốc trên Biển Đông sẽ không bùng nổ thành chiến tranh. Đã đành Việt
Nam lúc nào cũng nhân nhượng Trung Quốc. Nhưng sự nhân nhượng nào cũng
có giới hạn. Mà Trung Quốc thì rõ ràng không muốn dừng lại ở bất cứ
giới hạn nào cho đến lúc hoàn toàn trở thành bá chủ trên Biển Đông.

Thứ hai là thiếu an toàn về giao thông. Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng
10.000 người chết vì tai nạn xe cộ. Mười ngàn: tức mỗi ngày trung bình
gần 30 nạn nhân. Đó là người chết. Con số những người bị thương tật
chắc chắn sẽ nhiều hơn hẳn. Bởi vậy, ở Việt Nam, nhiều người nói, cứ
mỗi lần bước ra khỏi cửa nhà là thấy phập phồng. Con đường nào cũng
đầy bất trắc. Đi đúng luật và lái xe cẩn thận cũng có thể bị những
chiếc xe "điên" bị mất tay lái cán chết. Ngay cả đi bộ cũng không an
tâm. Mỗi lần băng qua đường là một lần đối diện với rủi ro.

Nhưng quan trọng nhất là mất an toàn thực phẩm. Báo chí đã nói rất
nhiều về thực phẩm bẩn ở Việt Nam. Hầu như tất cả đều bẩn. Hầu như bất
cứ loại gia súc nào cũng được cho ăn các hoá chất độc hại để tạo nạc
và tăng trọng. Tệ hại hơn, người ta còn đem bán cả thịt thối rữa, sau
khi tẩm ướp bằng các loại hoá chất để bay mùi và săn thịt. Ngày trước,
đã có nhiều người giả thịt trâu thành thịt bò. Bây giờ, "tài" hơn,
người ta còn biến cả thịt heo thành thịt bò. Thịt giả như vậy cũng
được đi. Nhưng vấn đề là để làm giả như thế, người ta lại sử dụng các
loại hoá chất độc hại để nhuộm màu thịt. Ăn chúng, người ta ăn cả các
chất có thể gây ung thư.

Thịt đã thế, rau trái cũng thế. Cũng đầy hoá chất. Hoá chất trong phân
bón và trong các loại thuốc trừ sâu. Hoá chất còn được dùng để ướp
trái cây cho chúng bắt mắt hơn. Ngay cả nước dừa cũng không an toàn.
Để trái dừa có màu tươi như mới, người ta lại nhúng chúng vào hoá
chất. Lại hoá chất.

Trước, người ta tưởng ăn cá tôm và các loại hải sản là an toàn. Nhưng
không phải. Tôm cá và hải sản nuôi trong các hồ nhân tạo cũng nhiễm
đầy các chất cấm. Còn tôm cá và hải sản được đánh từ sông và biển? Từ
đầu tháng 4 vừa rồi, chúng lại cũng bị nhiễm độc. Hàng trăm tấn cá bị
chết, tấp trắng các bờ biển từ Hà Tĩnh vào đến Huế, kéo dài cả hơn 200
cây số. Chính quyền còn ú ớ trong việc xác định nguyên nhân cá chết
nhưng có một điều chắc chắn: chúng bị nhiễm độc các loại hoá chất do
con người thải ra. Thành ra tôm cá đánh bắt từ biển khơi cũng không
còn an toàn nữa.

Thịt: độc. Tôm cá: độc. Rau, trái và củ: độc. Cả không khí người ta
thở, đặc biệt tại hai thành phố lớn, Hà Nội và Sài Gòn, cũng nhiễm đầy
chất chì và thuỷ ngân: độc. Cả nước bị nhiễm đầy chất độc. Không có gì
đáng ngạc nhiên khi tỉ lệ người Việt Nam mắc bệnh ung thư rất cao.
Càng ngày càng cao.

Lâu nay, nói đến những khó khăn mà Việt Nam đang đối diện, chúng ta
hay nghĩ đến các yếu tố chính trị và địa chính trị, đến vấn đề dân chủ
và nhân quyền, đến chuyện các đại công ty phá sản và nợ công chồng
chất. Nhưng ngay cả về phương diện xã hội, liên quan đến chuyện ăn
uống và hít thở hàng ngày, Việt Nam cũng đối diện với bao nhiêu nguy
hiểm.

Tôi cứ tự hỏi: Trong một khí quyển như thế, làm sao người Việt Nam có
thể sống được và tương lai đất nước sẽ đi về đâu?

Tự dưng lại nhớ đến bài thơ "Đất nước mình ngộ quá phải không anh" của
Trần Thị Lam, một cô giáo dạy Văn ở Hà Tĩnh, viết sau biến cố hàng
trăm tấn cả bị chết ở miền Trung. Bài thơ đăng trên facebook của cô,
sau, công an địa phương buộc cô phải gỡ xuống. Lời thơ đơn giản, thật
thà, nhưng thể hiện được những trăn trở của cả hàng triệu người Việt
Nam hiện nay.

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…