Saturday, July 01, 2023

XUÂN VŨ - MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG - 5


Đêm xuống nặng nề ảm đạm đến chết người. Chúng tôi đã xa Hà Nội ngót bốn mươi ngày. Cứ hễ đêm đến là sự sợ hãi tăng lên. Bởi vì đêm thường có chuyện bất ngờ mà chẳng làm sao đối phó được.

Và đêm nay chúng tôi đụng phải sự bất ngờ đó. Vào lúc gần nửa đêm, Họa sĩ Núi bỗng nhiên ngâm thơ:

Đường đá chập chồng đồi cao thấp
Núi vẫn đôi mà anh thiếu… em!

Tôi đang thức trăn trở vì cái dạ dày đồng khởi. Có lẽ vì mấy cục thịt khỉ ngoan cố chăng. Đau thì cắn răng chịu chứ không kêu ai mà cúng không có thuốc. Còn mấy chục viên át-pi-rìn nhưng không dám uống, sợ hết, khi cần chính nó thì lại không có. Tham thực cực thân, quả có đúng !

Tôi đâm ra hối hận vì đã nuốt càn ba cái thịt con khỉ chết oan. Nhưng ai lại có thể tự chế mình trong một tình huống như vậy ? ..

Tôi nằm nhìn dãy gà mèn mập mờ ngoài lều, trong đó nằm yên giấc ngàn thu những cái xương khi đã được cụ Hoàng ta gọt rửa sạch những gân và thịt còn sót ở những đầu xương. Cụ ta hăng hái tuyên bố nấu cao vậy thôi chứ thực cự thì chắc không ai có đủ kiên nhẫn và có sức nấu. Phải hai ba ngày đêm liền chi đó thì mới có thể biến mớ xương này tan ra nước chứ đâu phải như nấu cơm nấu cháo. Rồi còn phải pha chế nó mới thành cao… khỉ!

Đang nằm suy tính tìm sáng kiến giúp cụ Hoàng thì nghe ông họa sĩ trẻ ngâm thơ. Giọng ngâm khá hay, nó uốn éo ngắt quang rất đúng điệu và lại đúng chữ nữa. Đặc biệt lại có một sự chơi chữ đầy ý nghĩa trong câu cuối "Núi" vẫn "Đôi." Đôi là người yêu của Núi. Có lẽ hai câu thơ này chàng ta đã làm để tặng người yêu, nhưng sao lại "thiếu em?"

Như vậy chắc Núi ứng khẩu ngâm lên.

Nghĩ đến đây, tôi rùng mình. Thằng bé này sắp theo ông theo bà đây! Tôi nghĩ vậy vì lúc còn đi chung với Năm Cà Dom, anh ta có nói cho tôi biết đại khái về sốt ác tính. Đặc tính của nó là bệnh nhân nóng đến phát khùng và nói nhảm. Chỉ trong vòng từ ba đến năm ngày thì ác bệnh nhân bị vi trùng đột nhập. Có khi nằm liệt câm luôn rồi chết nhưng cũng có khi nói năng tỉnh táo như người thường. Tình trạng này rất ít xảy ra nhưng hễ xảy ra thì chắc chết. Người bị sốt ác tính ít khi sống sót, nếu có thì cũng trở thành phế nhân. Chứng bịnh ngặt nghèo này vừa mới thấy xuất hiện ở núi rừng, hiện ở Hà Nội người ta đang nghiên cứu cho nên chưa có cách chữa trị hiệu quả. Cách tốt nhất là làm cho bệnh nhân xuống nhiệt độ. Nhưng đó là nói chuyện ở Hà Nội, trong các bệnh viện cơ, còn ở đây lấy gì ?

B12 của Phẩm đem ra cho tụi này có thể giúp Núi khá lên lắm nhưng lại không có kim và ống chích. Chẳng lẽ lại đập ra mà uống ư?

Bên lều của Núi, tiếng ngâm thơ lại lè nhè:

Anh muốn đưa em đến cổng trường
Cho đời em hiểu nghĩa yêu đương
Ngờ đâu sóng gió đời tôi đã
Giam hãm thân trong bốn mảnh tường.

Trời đất, y như người khỏe. Nó còn nhớ thơ Tố Hữu, bài Tặng Nàng Trinh Nữ. Trong đêm tối mịt mùng, giữa rừng sâu câm lặng, tôi tưởng như nghe tiếng tình yêu. Tôi đập võng quát:

– Núi ! Núi !

-…

– Núi, Núi ! Ngủ đi ! Khát nước không?

Biết chăng em hỡi lòng anh hận
Anh đã. . . chẳng đưa em đến cổng trường

Nó lại ngâm tiếp nhưng lần này lại sai một chữ. Có lẽ vỏ não của nó bi vi trùng tấn công nên hư hỏng rồi. Nó chỉ còn như cái máy ghi âm cũ được quay lại được khúc nào hay khúc ấy, cho nên không phản ứng với những câu hỏi của tôi.

Tôi cố trắc nghiệm thêm:

– Mày có muốn uống cao khi không Núi ? Mày có định sáng mai hành quân không Núi?

Lần này nó không ngâm thơ nữa, cũng không ư e. Tôi sợ quá bèn đập võng kêu Hoàng nhạc sĩ.

– Anh Bảy ? Anh Bảy ! Anh có nghe không ?

– Có, tao nghe tự nãy giờ.

– Làm sao anh?

– Còn biết làm sao ! -Một chốc- Để sáng coi chứ bây giờ thì chịu thôi. Không có cách gì !

Cả hai nằm chờ sáng để xem cái chết đến với bệnh nhân chứ chẳng phải để chữa chạy bệnh tật.

Tôi không có trách nhiệm gì với Núi. Tôi cũng chỉ là một kẻ vượt Trường Sơn bi bỏ rơi như nó. Những thằng bi bỏ rơi tự dán ghép lại với nhau bằng một thứ hồ đặc biệt muốn dính bao lâu thì dính, muốn rã lúc nào thì rã như đối với một tên đồng hành tôi đã kể ở trên kia.

Núi vẫn Đôi anh thiếu em !

Câu thơ đó có thể là lời trăn trối của nó ! Tôi đang miên man suy nghĩ thì bỗng đâu trời gầm to làm tôi giật mình suýt bật ra khỏi võng. .

Chớp nhoáng nhì nhằng một chập rồi mưa đổ như trút ở vùng này mưa thường đến nhanh, to và kéo dài. Có lẽ hơi nước từ biển Đông trôi lên đây bi núi chặn lại và rơi xuống thành mưa, không phải châu du đi đâu, nên giọt mưa hơi mặn mặn.

Tôi ngồi bật dậy và bước xuống đất giật ngay mấy sợi dây căng lều rồi ôm ba lô ngồi lên.võng trùm chiếc lều lên. Đó là kinh nghiệm chống mưa đêm trên đường này. Nếu không mở lều thì gió sẽ giật đứt hết các góc buộc dây căng, có thể nó bi xé toạc ra làm nhiều mảnh. (Vài đứa trong đoàn đã bi rồi. Chúng nó phải dùng kim chỉ vá víu bậy bạ xài đỡ). Cái kinh nghiệm này cũng đắt giá như kinh nghiệm chặt của người đi biển khi gặp gió to có thể lật úp thuyền.

Nếu không mở lều cứ nằm võng thì càng bị ướt và lều bị xé nát, còn trùm kiểu này thì cũng ướt nhưng ướt ít hơn và chắc chắn không bi hư hao tài sản. Ngoài ra chiếc ba lô cũng như chủ nó sẽ khỏi dầm mưa. Ba lô mà ướt thì sáng mai hành quân chủ nó sẽ mang nó như "đeo đá" trên lưng vậy.

Tôi ngồi trên võng với chiếc lều phủ kín mà nghe mưa nện trên đầu như những ngón tay gõ loạn trên phím dương cầm. Nhưng sự hưởng lạc đó không kéo dài được bao lâu: Nước mưa từ hai đầu võng trút xuống đáy võng. Vì võng kaki nên nước đọng lại và dâng lên dần, Số nước chảy ra chậm hơn số nước xuống cho nên nửa người tôi bị ngâm trong nước. Lâu lâu tôi phải đè mép võng nghiêng qua để trút nước ra. Đó là một cách chống úng của dân Trường Sơn bắt chước theo kiểu hợp tác xã "nghiêng đồng đổ nước thay trời làm mưa" do báo Đảng phổ biến.

Chống úng như vậy không nhớ được mấy lần thì trời tạnh. Tôi mừng quá tốc tấm ni lông ra, bước xuống đất, vừa mắc chiếc ba lô lên đầu võng vừa hỏi:

– Anh Bảy có ướt không? – Tôi ngó bốn bề thì thấy nhiều chiếc lều bị gió lật, có cái bị tốc hẳn treo trên nhánh cây, có chiếc một đầu thì chụp lên võng một đầu lại còn treo trên cành cây giống như chiếc xuồng chìm còn nghếch mũi lên. Té ra không có mấy người rút kinh nghiệm như tôi. Cũng có thể họ biết nhưng họ lười, cứ năm lỳ ra, tới đâu hay đó. Nhất định là họ bị ngâm trong cái võng nước như con mắm sống. Tiếng "mắm" trong ý nghĩ làm cho tôi nhớ đến cách làm hạ nhiệt độ của ông Tôn Thất Tùng trước khi đưa bệnh nhân lên bàn mổ.

Và tôi nghĩ tới thằng Núi. Tôi vội vàng bước sang với ý nghĩ hãi hùng: Nó đã chết trong cơn mưa đêm qua.

Tấm tư ni lông nâu của nó đứt cả dây căng một bên che bít cả chiếc võng. Tôi buộc căng lại và nhìn nó. Các bạn hãy tưởng tượng cảnh vật nào hiện ra trước mắt tôi. Thằng Núi nhắm tít đôi mắt. Và cả người nó ngâm trong nước. Chiếc võng kaki hữu nghị không biết của nước bạn nào tặng, vải thật tất. Nước mưa không rỉ ra được nhiều, cho nên nó như nằm trong chiếc xuồng nước ngập lé đé đến be.

Tôi sờ đầu nó và kêu thét lên:

– Anh Bảy! Anh Bảy ! Thằng Nú…úi!!

Ngữ tốc lều chạy sang, Hoàng vọt tới. Thằng bé chỉ còn thoi thóp thở. Chúng tôi nhìn nhau. Tót sờ trán sờ ngực nó lần nữa. Như tìm được một phát minh mới, tôi nói:

– Nhiệt độ nó xuống rồi. Sờ coi !

Ba bàn tay chìa vào mình vào đầu Núi:

– À à nó nguội bộn !

– Chắc bình thường rồi !

– Coi chừng nhiệt độ xuống quá thấp lại phải hơ lửa cho coi!

Chúng tôi bàn luận oang oang rồi đi đến kết luận khá rõ rệt là nhờ ơn Trời mưa móc nên thằng nhỏ đã xuống nhiệt độ rất nhiều. Nhưng vẫn còn mê man, gọi không thưa, cũng không mở mắt.

Chúng tôi cứ để cho hắn tắm biển nước mưa như thế.

Cái cục nợ thứ hai là Thu. Thu trông bèo nhèo như cơn gà té mương. Lúc nào cũng rên rẩm xuýt xoa cái chân đau. Bây giờ lại càng thê thảm.Lều của Thu rách toạc một góc. Đây là một vấn đề. Vá thì không có chất liệu để vá, còn buộc túm góc thì cái lều không thành cái lều như trước nữa.

Dù sao ban ngày thì phải cuốn lều và võng. Bữa nay thì phải phơi võng cho khô để tối ngủ. Rồi còn cái ba lô nữa. Tuy được bảo vệ kỹ lưỡng như thế nhưng không còn một vật gì khô. Áo quần, chăn màn phải lôi ra cả tìm nơi kín đáo mà căng ra, trông như những cửa hàng chợ trời trình bày của quí. Tất cả khách đều làm y một kiểu cho nên cái chợ trời kéo dài cả cây số.

Ai có món gì muốn giấu cũng phải xổ hết bầu tâm sự hết ra cho người khác xem. Nếu cái ba-lô là tâm tư của mỗi người thì mỗi lần mưa trời đều bắt những người Trường Sơn này phản tỉnh, phản tỉnh một cách thật thà, muốn che giấu cũng không che giấu được.

Không có món gì khô và không có món gì còn nguyên, cũng như tư tưởng và tình cảm con người. Tất cả đều rã bèng – từ những lưỡi dao cạo râu tới những trang ký sự viết lỡ dở, từ những mớ bông gòn tới những viên ký-nín trong túi thuốc cá nhân được bọc ni lông hai lần. Tội nghiệp chiếc máy ảnh mà tôi đã mang trên lưng lâu nay đã tróc hư, nay càng hư tróc. Các thứ đều phải được phơi khô trước khi tôi dồn chúng trở vào cái "bao tử trâu".

Qua một đêm mưa, con người già hẳn lên. Tôi nghe như có tóc bạc và nhìn Hoàng nhạc sĩ tôi thấy tóc anh ta như bạc hơn nhiều.

Tôi nói:

– Thế này thì mai làm sao hành quân anh Bảy!

Hoàng Việt hiểu tôi muốn nói gì, nên lắc đầu:

– Cứ giữ "nguyên tắc" cũ thôi.

– Bỏ nó lại đây thì nó chết mất !

– Vậy làm sao bây giờ ?

– Nó có mạnh thì cũng hai tuần lễ mới leo núi dược, ấy là nói trường hợp nó được bồi dưỡng, còn như tình trạng hiện giờ thì có hai tháng nó cũng chưa lại sức. Ngược lại càng sụp xuống thêm. Nói tới đó, tôi thấy càng đau khổ.

Những đồ vật bi ướt không đáng kể, cái vật đáng kể nhất là ruột tượng gạo. Gạo còn có một nửa ruột tượng bị ngâm nước suốt đêm, bây giờ lấy tay bóp đã thành bột. Cố phơi nắng để cứu vãn tình thế nhưng không kết quả.

Ngữ là tay hay chế biến thức ăn, nên đề ra một kết hoạch cấp tốc để giải quyết mớ gạo mắc mưa kia. Bọc từng nắm vào ni lông dùng đá đập cho nát ra rồi phơi để dự trữ. Chỉ có cách đó mới giữ được lâu, băng không thì phải ăn cho hết ngay, nếu để tới ngày mai nó sẽ sình và phải bỏ.

Thế là mỗi một người đều biến thành một cái nhà máy xay bột mà số lượng bột được sản xuất chưa được hai cân.

Nhưng trong lúc thi hành ý kiến của Ngữ thì có người gặp khó khăn. Ông nhạc sĩ đổ số một về dương cầm và sáng tác ở Bungai tưởng hòn đá cũng nhẹ nhàng như ngón dương cầm của chàng nên bọc gạo vào mảnh ni-lông dùng làm áo đi mưa rồi phệnh cật lực một nhát. Ni- lông vỡ, gạo tóe ra. Ông nhạc sĩ nổi doá nói mát:

– Ê nè Ngữ, mày đem cái sáng kiến của mày thi đua với các sáng kiến của nhà máy dệt kim 8 tháng 3 được đấy!

– Sao thế hả?

– Ngó đây nè, đổ mẹ nó cả chén gạo lộn với đất, sỏi làm sao lượm lên ?

– Nện khẽ thôi bố!

– Nện khẽ cũng không được đâu. Mày bọc gạo bằng cái giống gì đó?

– Bằng ống quần !

– Cái thằng! Sao không phổ biến cho người ta với .

– Tự động thay đổi kế hoạch lấy chứ ai biết ông cần gì.

– Thủng mẹ nó cái áo mưa của tao rồi !

Thế là mọi người thất kinh, bên bỏ ni lông xoay qua kế hoạch dùng ống quần làm "cối" để giã gạo.

Gạo giã nát xong rồi, tôi và Hoàng vốn vụng về nên chỉ biết đem ra phơi khô, riêng Ngữ thì nhồi thành bánh rồi thái ra như con phở, còn Thu thì tay mềm thân yếu lại khuấy hồ bỏ tí đường cát, cái mớ đường mà mỗi đứa được phát cho hai lạng rưỡi khi xuất phát. Tôi và Hoàng đã gần hết từ lâu, nhưng Thu thì còn đến những nửa hộp. Cũng may Thu đựng nó trong hộp, nếu không thì cũng đã tiêu ra nước… đường rồi.

Thu hơi ngại vì mình còn được cái của quý đó. Chẳng có lẽ tình đồng chí đồng đội đồng hành đồng bệnh ngọt ngào trong các bài học ở trường đi B như vậy mà trong tình hình thiếu chất ngọt này, nó lại đâm ra nhạt phèo. Thấy Thu không được tự nhiên khi giở nắp hộp ra xúc tí đường cho vào nắp gà mèn khuấy khuấy, tôi nói:

– Thu cất cho kỹ để bồi dưỡng cái chân. Tụi anh chân cẳng khỏe cả, không cần đường!

Kỳ thực thì nghe mùi đường phảng phất tí ti trong không khí tôi thèm phát khóc lên được. Mấy hạt đường của mẻ hồ làm ta nhớ đến cái ba lô của tháng họa sĩ trẻ.

Tôi nói với Ngữ:

– Cậu có rỗi phơi đồ đùm cho nó chút !

– Vâng, để em xong việc của em đã!

– Cậu xem nó còn đường khuấy cho nó tí.

– Nó không có đường đâu anh ạ !

– Tại sao vậy?

– Khi lãnh xong nó gởi về cho gia đình vợ chưa cưới của nó !

– Trời đất!

– Nó nghĩ và nó khỏe như vâm, cày hợp tác xã nó kéo còn nổi mà anh. Em cũng vậy, em đâu có ngờ vô đây sức khỏe tiêu tán nhanh đến thế!

Cái hiệu phở của Ngữ làm mọi người tiếc ngẩn tiếc ngơ: Nếu còn tí nước hầm con khỉ gió thì hay quá. Hôm qua lại chê đem đổ hết, chi ăn cái xác. Bây giờ cần để làm nước dùng nấu phở thì không còn chút nào. Thế mới biết cái gì cũng có thời thế của nó, dùng sai chỗ không bật giá trị lên được như cái anh nhạc sĩ tài hoa kia…

Đi vô con đường này anh ta chửi đổng toàn gamme majeure với dấu biến thượng. Nhiều lúc leo mệt quá, anh quát:

– Ê, tụi bây nói với giao liên đằng trước đi chậm chậm nghe. Con người không phải là máy, không phải là thú vật ! Địt mẹ chứng nó, đi đứng gì như thế này !

Nhìn ông nhạc si ngồi bên gốc cây cặm cụi vá tấm tămg bị gió giật rách đêm qua tôi hết biết nói sao. Tôi kiếm chuyện đùa:

– Bây giờ mà rủi gặp chi Bảy ở đây thì làm sao anh Bảy?

Hoàng nhạc sĩ cười giọng Tenor một tràng dài tưởng chừng vô tận. Rồi nói:

– May chứ sao lại rủi, chú e…em!

– Còn thấy đường xỏ chỉ không?

Hoàng nhạc sĩ giơ cây kim lên rồi cười:

– Mới sốt dăm cơn mà nhìn cái gì cũng vàng khè.

– Vấn đề không phải là vàng hay trắng mà là có xe chỉ luồn kim được không?

– Cũng tạm được chớ! Hớ! Hớ hớ ớ!

– Vá rồi đi ăn phở khi nghe ! Thằng Ngữ nấu gần xong rồi .

– Mẹ ! Cái món phở này, hiệu Tư Lùn cá thể ở ga Hàng Cỏ nghe qua cũng chạy tét.

– Nè, rồi cái vụ nấu cao của anh có tính thực hiện không? ?

– Thực hiện chớ! – Hoạng ngó về phía mấy cái gà mèn còn treo đó – Để tao trút ra phơi rồi mang tới trạm tao nấu cho mày coi.

– Ừ để rồi coi.

Bỗng thằng Núi rên lên làm mọi người giật mình. Nó còn nói rõ từng tiếng:

– Khát nước !

Cả thằng Ngữ lẫn tôi đều đứng bật lên và chạy lại. Trời đất ơi ! Thằng nhỏ đã mở mắt. Trời cứu nó rồi. Mi mắt nó chớp chớp. Đôi môi nó mấp máy. Tiếng nó thều thào:

– Uống nước !

Ngữ chụp lấy chiếc bi đông trên đầu võng lắc lắc, nghe còn tí nước, Ngữ mở nút kê miệng bi đông vào mồm Núi khe khẽ rót.

Núi thở khì một tiếng rồi nhắm mắt. Tôi hoảng vía, vì nghĩ là nó hồi dương một chút rồi đi luôn. Ngữ vừa đậy nắp bi đông vừa hỏi:

– Mày uống nữa thôi Núi ?

Mi mắt Núi động đậy rất khẽ.

– Nè, nước nè, nghe không?

Mi mắt Núi lại động đậy như trước. Môi nó hé mở.

Ngữ nghiêng bi đông rót nhẹ và hỏi:

– Nữa thôi ?

Núi ngậm miệng lại. Ngữ lại hỏi:

. Mày có lạnh không?

Núi không đáp.

– Mày biết ai đây không?

Núi cũng không đáp.

Chúng tôi bàn đến việc thay quần áo cho Núi, nhưng câu chuyện không ngã ngũ. Tôi là kẻ đã từng trông thấy tận mắt mấy bệnh nhân được Bác sĩ Tùng hạ nhiệt độ bằng cách cho vô bồn nước đá, tôi cho là nhờ bi ngâm trong võng nước mưa mà Núi tỉnh dậy tí ti và nhiệt độ thì không cao hãi hùng như hôm qua – Nhiệt độ vừa mới xuống, nếu bệnh nhân thay đổi môi trường, nó có thể lên cao trở lại.

Nhưng Ngữ và Hoàng thì cho là nếu để Núi nằm trong sự ướt át, cá võng lẫn quần áo, và dưới nắng như thế sẽ bi cảm dễ dàng nhất là cơ thể của Núi đang kém sức đề kháng.

Cuối cùng phe Ngữ thắng thế. Hai người thay quần áo cho Núi với sự vắng mật có hạn đinh của Thu.

Núi là người đã vẽ Thu nhiều nhất trên đường này. Hai bên tỏ ra rất yêu nghệ thuật hội họa.

(xem tiếp tại đây)
Đánh máy: Lê Thy


Friday, June 30, 2023

BÙI CHÍ VINH - LÒNG NHÂN ÁI CỦA HAI ĐỆ NHẤT PHU NHÂN

BÙI CHÍ VINH
LÒNG NHÂN ÁI CỦA HAI ĐỆ NHẤT PHU NHÂN

Bế một đứa trẻ thơ khó như vậy sao?
Hỡi các công nương, các mệnh phụ đỏ
Bế một món đồ xa hoa thì cực kỳ hớn hở
Ẵm món quà tặng bằng kim cương thì ôm chặt vào lòng
Lên truyền hình khoe đủ loại áo dài thêu phượng thêu rồng
Theo chồng đi bán nước thì diện xường xám Bắc Kinh, Thượng Hải
Còn những trại cô nhi ra đời như thú dại
Bỏ mặc các ma-sơ và ni cô săn sóc linh hồn
Cũng may mà tôi đã từng biết một Đệ Nhất Phu Nhân
Bồng trẻ thơ trong tay như bồng chính con mình sinh đẻ
Nhoẻn miệng cười hồn nhiên như chính mình là bà mẹ
Mà đúng là bà mẹ xây Bệnh Viện Vì Dân chứ không phải vì mình
Người ta gọi bà là Nguyễn Thị Mai Anh
Bà hoàng phúc hậu của một nền văn minh khai phóng
Sau bà hơn 50 năm lại xuất hiện một phu nhân Tổng Thống
Từ Hàn Quốc sang thăm Việt Nam ôm bé khuyết tật ngọt ngào
Một con mắt bé lạc thần như vết chém lưỡi dao
Bỗng lành hẳn lại bằng tình thương mẫu tử
Hỡi các quan chức phu nhân và lũ nhà giàu mệnh phụ
Có bao giờ quý vị thấy con mình bị bỏ rơi bên đống rác ven đường
Có bao giờ quý vị biết đến tình người chan chứa yêu thương ?!?
30-6-2023
BCV


Hình 1: Đệ Nhất Phu Nhân của VNCH


Hình 2: Đệ Nhất Phu Nhân của Hàn Quốc

https://www.facebook.com/100004076751789/posts/bùi-chí-vinh-lòng-nhân-ái-của-hai-đệ-nhất-phu-nhân-bế-một-đứa-trẻ-thơ-khó-như-vậ/3193576560788204/

Quoc Gia Nguyen - Về màu sắc của lá Quốc kỳ

- Về màu sắc của lá Quốc kỳ -
Fb Quoc Gia Nguyen

Đối với những vị tiền bối của miền Nam mà năm nay trên dưới 80 tuổi thì họ đã có vài chục năm nhìn thấy và quá quen thuộc với lá Cờ này.

Những người trẻ hơn, chí ít như tôi chẳng hạn. Tôi từng là một Học sinh đã vinh dự được cử ra kéo lá Quốc kỳ lên đỉnh cột Cờ trong Trường mỗi sáng thứ Hai với tiếng hát đồng thanh trầm hùng của bạn bè: Này Công dân ơi, Quốc gia đến ngày giải phóng... Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống...

Vừa qua tôi xem một chương trình trên đài Discovery, họ nói chỉ riêng màu đen mà Hãng xe hơi Ford đã xác định là có hơn 50 màu đen khác nhau.

Tôi liên tưởng và nghĩ rằng những màu sắc khác thì mỗi màu sắc đều có ít nhất là vài chục biến thể.

Về màu vàng ta có những màu vàng đồng, vàng tươi, vàng chanh, vàng đất, vàng nâu, vàng cam, vàng kem, vàng gold, vàng ánh kim, vàng cát, vàng nghệ...
Ta cũng có những từ ngữ để diễn tả về độ đậm nhạt của màu vàng như vàng chóe, vàng lườm, vàng khè, vàng nhạt, vàng tươi, vàng chấy, vàng vọt...v...v...

Về màu đỏ thì có đỏ gạch, đỏ máu, đỏ mào gà, đỏ cứu hỏa, đỏ gấc, đỏ mận, đỏ lửa, đỏ bầm, đỏ Bordeaux...
Ngoài ra còn có những chữ đỏ lòm, đỏ au, đỏ gay, đỏ chạch, đỏ sậm, đỏ thắm...v..v...

Bây giờ nói về màu sắc của lá Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa.

Lãnh thổ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến 1975 chưa bao giờ có một ngày được bình yên mà từng giờ từng phút đều hứng chịu những tai ương thảm nạn từ bè lũ Cộng Sản.

Tấn công, pháo kích, ám sát, bắt cóc, thủ tiêu, chặt đầu, mổ bụng, cho mò tôm, đắp mô giật mìn, đặt bẫy, quăng lựu đạn, gài chất nổ....có việc gì mà Cộng sản không làm?

Đất nước Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ thật sự vui vẻ hạnh phúc để lá Quốc kỳ có một màu vàng chanh tươi tắn, một màu đỏ rực rỡ biểu hiện sự vui vẻ hạnh phúc như những vị ở hải ngoại hiện nay đang phô diễn.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã đề ra chuẩn mực về màu sắc và kích thước phù hợp cho Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Thuở đó không bao giờ Quốc kỳ có màu vàng chanh vàng tươi mà đó là màu vàng sẫm, màu vàng trầm mặc.

Ba sọc đỏ của lá Cờ cũng không có màu đỏ tươi mà phải là màu đỏ của máu, những dòng máu đỏ thẫm của cha ông, những tiền nhân đã xây dựng hình thành nên đất nước và máu của những vị anh hùng ngày đêm chắc tay súng gìn giữ bảo vệ non sông.

Màu chuẩn của Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa thì phải có màu vàng sẫm tương đồng như màu vàng nghệ.
Màu đỏ của 3 sọc ngang phải là màu đỏ thẫm, không thể là màu đỏ tươi.

Những cựu Quân nhân hiện nay sống trên đất khách nghĩ gì khi lá Cờ mà họ đã từng nghiêm trang đứng im phăng phắc chào kính mà bây giờ nó có màu sắc lạ lẫm thế kia?

Những người đã từng bất chấp hiểm nguy lao vào sóng gió đại dương trên những chiếc tàu ọp ẹp mà trên cabin vẫn có lá Cờ Tổ quốc tung bay phần phật trước gió biển thì ngày hôm nay nghĩ gì khi họ hướng mắt về lá Cờ có màu vàng chóe và màu đỏ rực lạ lùng?

Và như thế, đề nghị mọi người là những công dân Việt Nam Cộng Hòa ở bất cứ đâu trên thế giới hãy hiểu cho rõ ý nghĩa của màu sắc trên lá Quốc kỳ mà làm cho đúng.
Đừng bao giờ dùng màu vàng chanh, màu đỏ tươi để may rồi mang lá Quốc kỳ sai lệch màu sắc ra đường diễn hành trưng bày này nọ.

Tự ý thay đổi màu sắc lá Quốc kỳ là điều xúc phạm đối với tiền nhân, xem thường anh linh của gần 300.000 Tử sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã vì màu Cờ tượng trưng cho Tổ quốc mà không tiếc máu xương, những người đã nằm xuống mà trên nấm đất vẫn còn phủ lá Cờ thiêng cùng những giọt nước mắt của mẹ già, vợ dại, con thơ...

Công dân Việt Nam Cộng Hòa cần nhớ: Nền Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa là màu vàng nghệ có 3 sọc ngang màu đỏ thẫm....

Xin lưu ý: Có rất nhiều hình ảnh trên mạng đã được chỉnh sửa theo công nghệ sau này nên màu sắc của Quốc kỳ trên màn hình đã đổi khác so với nguyên bản.
Quý vị hãy căn cứ theo trí nhớ và tri thức, không phải là hình ảnh thực tại.

https://www.facebook.com/100061961934455/posts/-về-màu-sắc-của-lá-quốc-kỳ-đối-với-những-vị-tiền-bối-của-miền-nam-mà-năm-nay-trê/428616409213753/

Wednesday, February 22, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 4 –

Người Đánh Máy: Lê Thy

– 4 –

Những người nằm rải rác chung quanh tôi im lìm. Vài tiếng khua ga-men, vài tiếng ho húng hắng, không ai nói chuyện vói ai, tôi cũng không muốn tìm hiểu họ. Rồi tôi lại thiếp đi trong cơn mê sảng khác.

Khi tôi bừng mắt ra lần thứ hai thì tôi không còn trông thấy ai chung quanh tôi nữa. Đột nhiên tôi nhớ tới Thu, nhớ một cách ghê gớm mà tôi không ngờ tới. Khi có Thu ở bên cạnh tôi không chú ý gì cả, đôi khi còn cau có và bực mình vì sự rên siết bất mãn của Thu, tưởng chừng như không có Thu bên cạnh tôi thì sung sướng lắm. Chẳng dè vắng Thu thì tôi thấy thiếu thốn quá đổi. Nhưng vì không thể đi đâu để tìm Thu và cũng không còn sức há mồm ra mà gọi một tiếng to.

Bỗng nghe có tiếng xì xào ở ngay đầu võng của tôi. Tôi cố lấy hết sự sáng suốt để xem ai đang nói chuyện.

Một người nói:

– Trạm mình đâu có thuốc gì ngoài kí-nin. Đây là cái ải địa đầu do đại tướng Đòn Xóc và Thương Hàn chống giữ mà lại! Ai qua ải mà không khỏi nộp thuế chứ?

Một người khác chép miệng:

– Chịp! Bỏ thì thương mà vương thì tội .. cho mình. Mình lo cho mình còn không nỗi mà định cõng khiêng ai?

– Cái trạm mình là cái trạm "ó đâm". Cứ lâu lâu lại phải chôn một cái xác vô thừa nhận.

Hình như có một người hút thuốc cho nên tôi nghe vài câu lại ngưng một chốc. Câu chuyện lại tiếp:

– Mới cách vài hôm đây mình khiêng thằng y sĩ ăn vỏ khoai mì chết thì hôm nay lại có thằng này.

– Thằng này là thằng nào? – người kia hỏi.

– Thằng nằm trên võng đây chớ còn thằng nào nữa? Thằng này chắc chết quá! Tôi sờ trán nó lúc nãy thấy nó sốt ít nhất là 40 độ, mê man nói sảng cái gì lung tung.

– Ở đàng kia cũng có một thằng nằm liệt, không ai cơm cháo hết. Đoàn điếc gì mà bỏ đồng đội vậy!

– Thằng này có một con nhỏ ở lại nuôi.

– Nuôi cái con khỉ! Con nhỏ văn công trặc chân ở lại đó. Mầy có nuôi rước về mà nuôi! Mẹ kiếp, ở giữa chốn này mà được một con như vậy mày hỉ? Chịp! Chịp!

Hai đứa nó cười hô hố với nhau một chập rồi lại tiếp tục:

– Thằng này chắc ác tính quá!

– Không hiểu tại sao ở đây hễ sốt là hết phân nửa bị ác tính.

– Chịp! Không biết gia đình nó ở đâu.

Rồi thôi, im bặt. Chúng nó biến mất, bỏ tôi nằm lại một mình với câu chuyện của chúng còn vang lên trong tâm trí tôi.

Tôi bình tĩnh vô cùng, bình tĩnh tới mức độ tôi không còn hiểu tại sao tôi lại bình tĩnh đến thế nữa. Bình tĩnh để mà đối chiếu cái bản thân của mình với sự nhận xét của hai thằng kia. Tôi biết tôi chưa chết, khó chết nhưng tình trạng rất nguy kịch. Tôi cũng không muốn nói điều đó cho Thu biết. Để chứng minh một cách hùng hồn là tôi không thể nào chết được và để cho Thu không cảm thấy tôi đã trở thành gánh nặng cho Thu, tôi đưa tay nắm mép võng và cố cất mình lên. Tôi đã ngồi dậy được.

Một cách nặng nhọc, tôi giăng hai tay ra nắm hai đầu võng, cái võng lắc lư làm cho tôi thấy vùng đất trước mặt tôi cũng nghiêng ngữa. Tôi nhắm mắt lại để định thần và cố giữ thăng bằng trên chiếc võng.

Đấy, tôi có làm sao đâu. Tôi vẫn ngồi võng chơi đây, mắt tôi vẫn nhìn chung quanh mọi người và cảnh vật. Đầu óc tôi còn phản ảnh mọi hoạt động bên ngoài. A ha! như vậy là tôi không có việc gì cả. Đồ láo! Tôi đâm ra ghét cay ghét đắng hai thằng vô loại vừa rồi. Chúng chỉ ném ra mấy câu vô trách nhiệm chơi rồi bỏ đi không hề quan tâm đến một kẻ mà chúng cho rằng chắc chết.

Trên rừng này người ta sống chung với những giống vật bốn chân, có lẽ vì thế người ta cũng mất đi quá nhiều nhân tính.

Tôi muốn chứng minh một mức cao hơn nữa rằng tôi không thể chết. Tôi từ từ thò một cái chân xuống đất đặt bàn chân vào chiếc dép đã bị nhiều lá vàng và bùn đất phủ lên. Tôi nhìn theo bàn chân tôi theo cái cử động đó. Tôi nhìn rõ bàn chân, nó nối liền với ống chân tôi bởi cái cổ chân, trên cái cổ chân là ống chân rồi đầu gối, rồi bắp đùi. Tất cả những bộ phận đó được gắn liền vào người tôi bằng cả một hệ thống máu thịt, đúng là cái chân tôi. Vậy bàn chân vừa đặt trên chiếc dép đây cũng là bàn chân của chính tôi chứ đâu phải là bàn chân nào khác. Vậy mà trời ơi, tôi cứ nghĩ là bàn chân của ai chứ không phải là bàn chân của tôi.

ó không giống bàn chân của tôi hôm qua tí nào. Nó gầy khô, nó vừa xanh vừa vàng. Nó đúng là bàn chân của người chết. Nhất là khi tôi đặt bàn chân xuống chiếc dép thì nó không truyền lấy một tí cảm giác nào lên óc tôi.

Tôi vụt nghĩ: tôi đang chết, bắt đầu từ bàn chân?

Và để chứng minh rằng sự thật không phải như vậy tôi lại thọt nốt bàn chân kia vào dép. Quả thật, tôi không có sự hiểu biết gì qua sự đụng chạm của bàn chân vào dép.

Bực mình, tôi đứng phắt dậy để đi, để đi thật nhanh, để đi lại lều của Thu và để làm mọi việc khác với hai bàn chân, hai bàn tay của tôi. Hai cái bàn chân tôi đâu có nghe theo ý muốn của tôi. Chúng cứ cứng đờ ra như cặp chân gỗ, tôi đã ngã quỵ xuống ngay bên võng nhu một cái áo rũ.

Mồm tôi lẩm nhẩm như lời trối trăn sau cùng:

– Đ.m. chúng nó!

Tất cả mọi hệ thống thần kinh tôi đều tê liệt hoàn toàn, nhưng trí óc của tôi hãy còn một đốm ánh sáng bằng đầu cây kim để tôi ý thức rõ rệt rằng tôi nói câu đó – không một tí gì vì mê sảng và bây giờ đây dù cảnh rừng núi đối với tôi đã lùi về dĩ vãng quá xa vời, nhưng tôi vẫn còn nghe lại câu đó với nét mặt của một kẻ hấp hối của tôi lúc bấy giờ.

Tôi biết rằng tôi đang tha thiết muốn sống, mong ước được sống. Tôi sợ tất cả những gì gợi cho tôi cái chết, nhất là cái gì làm cho tôi nhớ tới những cái chết mà tôi trông thấy trên đường này. Ấy vậy mà có những người lại muốn chết, lại tự hủy hoại thân thể họ một cách hết sức tàn nhẫn và ý thức hẳn hoi.

Tôi đã chứng kiến một việc như vậy ở trạm vừa qua.

Số là hôm đó đường dây bị kẹt, khách không đi được cho nên anh giao liên đưa cả đoàn vào một cái khe suối để cho chúng tôi tạm trú.

hiều người thuộc địa dư bảo rằng đây là vùng Ba Na, Ba Ná gì đó, mà cũng không biết đúng hay không đúng. Chỉ biết rằng hằng trăm con người bị nhét vào trong một cái khe suối mà hai bờ suối dốc đứng lên, cây cối rậm rì, không thể nào cư trú được. Cho nên người ta chỉ treo võng ven bờ suối. Nội cái chuyện đại tiện không thôi cũng gây thành hằng trăm vụ cãi nhau hàng ngày. Rồi thì chuyện tát suối bắt cá, chuyện lấy súng bắn cá, chuyện đàn bà con gái tắm rửa, giặt quần áo trên dòng… Sự phức tạp xà ngầu không kể xiết.

Trong cái bối cảnh như vậy thì tôi lại gặp một anh thanh niên chán đời đến mức độ kinh khủng. Ban đầu tôi cũng không rõ chàng ta đang sống trong tâm trạng đó.

Anh ta nằm trên một phiến đá to bằng mặt bàn, chung quanh cắm những cành cây đã héo. Bên cạnh anh ta là một khẩu AK mà nòng súng đã rỉ sét vàng oách. Người và của trông có vẻ xa lạ như không hề có một sự liên quan mật thiết nào với nhau. Tôi vừa đi qua khỏi anh ta, thì có người gọi tôi tới và nói ngay:

– Đồng chí có tài gì, giác ngộ dùm anh ấy với!

– Giác ngộ gì? – Tôi hỏi.

Anh bạn nói với tôi:

– Đồng chí vừa trông thấy cái anh chàng nằm trên phiến đá đó phải không? Anh ta đang tự tử đấy!

Tôi hỏi:

– Tự tử gì? Nằm ngủ ngon lành như thế mà?

Anh bạn lại giải thích tiếp:

– Không rõ anh ta ở đơn vị nào, mà khi tôi vô đây đã trông thấy anh ta nằm ở đấy rồi. Anh ta đã đổi hết tất cả mùng, chăn, vải bạt, dép.. tất cả cái gì đổi được anh ta đều đem ra đổi lấy thức ăn. Không tin đồng chí lại xem cái ba-lô của anh ta xem. Không còn món gì trong đó. Vừa rồi có người kể lại cho tôi nghe rằng anh ta vô xóm người thiểu số ở chung với họ cả tháng trời. Chỉ có cây súng không đổi được nên mới còn đó thôi. Anh ta tự vận bằng cách cứ ngủ trần như vậy cho muỗi đòn xóc cắn cho sốt rét.

Tôi rùng mình. Trời đất! Tự tử thiếu chi cách mà chơi cái trò đó. Thiệt là anh chàng này quá bất công với cái thể xác của chàng ta.

Cho muỗi đòn xóc cắn thì sẽ sốt rét. Đó là điều không thể khác đi được. Ở trong cái khe suối này, không khí dày đặc thán khí như trong một cái hang hoang chưa ai đến. Đá xám xịt, cũng có vẻ mục ra như gỗ mục. Đây là cái ổ sốt rét và thương hàn. Có người vừa sốt vừa bị thương hàn một lúc. Chỉ cần vài chú đòn xóc chui vào màn là mình đủ rước lấy cơn sốt rồi. Bây giờ nhắc lại chuyện muỗi đòn xóc chích, tôi hãy còn rùng mình.

Anh bạn không quen bảo tôi:

– Đồng chí, tôi coi đồng chí có vẻ chính trị lắm. Đồng chí hãy đến tìm lời khuyên dứt cho anh kia bỏ bớt cái tư tưởng bi quan đi. Đến đây đã được một phần đường rồi, hãy ráng chút nữa. Nếu không chịu đi thì xin dừng lại nghỉ, tội gì lại đày đọa tấm thân cha sanh mẹ đẻ của mình?

Tôi đã từng thấy những bộ xương rủ trong hốc núi, những cái xác nằm nguyên trên võng có mắc màn, kiến bu đen hai con mắt nhưng chưa thấy anh chàng nào tìm cái chết kỳ lạ như vậy. Nghe anh bạn nói xong tôi bèn quay trở lại, đến ngay bên phiến đá, tôi ngồi ngay bên con người kỳ cục kia.

Tôi mở đầu bằng câu nói xã giao:

– Này! Anh bạn người Hà Nội phải không? Xa Hà Nội từ tháng nào? Tôi cũng người Hà Nội đây! Dậy nói chuyện chơi.

ghe có người đến quấy rầy, anh thanh niên mở mắt ra một cách nặng nhọc và nhìn tôi, nhưng chỉ nhìn tôi một thoáng rồi nhắm lại ngay dường như sự có mặt của tôi bên cạnh anh ta là thừa, là vô lý.

Tôi nắm chân anh ta và lắc mạnh:

– Dậy chơi mà! Đi, dậy chơi! Ban ngày mà ngủ, sốt chết!

Anh thanh niên buộc lòng phải ngồi dậy. Đầu tóc ủ rủ, mặt mũi hốc hác. Anh ta khẽ lắc đầu, tỏ vẻ chán nản đến cực độ.

Tôi vào đề ngay:

– Tôi đã nghe anh em chung quanh đây kể về anh rõ ràng. Tôi cũng vô Nam chiến đấu như anh, cho nên tôi xin khuyên anh không nên làm như thế, thiệt thân mà còn ảnh hưởng xấu cho đơn vị.

Anh thanh niên vẫn không nhìn tôi và lại lắc đầu. Tôi lại cố thuyết phục anh ta với niềm tin rằng lời lẽ hay ho của mình sẽ dựng anh thanh niên trở đậy, sống như mọi người. Tôi triết lý cuộc sống, lấy kinh nghiệm bản thân, lấy thực tế trên đường dây và lấy cả lý tưởng cao đẹp của thanh niên ra mà tương vào tai anh thanh niên. Tôi nói rất dài, rất là dài. Có thể mất cả tiếng đồng hồ.

Thấy anh ta ngồi lặng thinh, tôi cho rằng anh thanh niên đã thấm bài. Mà thật, đang ngồi lặng lẽ như tượng đá, bỗng anh ta đứng phắt dậy xốc ba-lô lên vai và cầm lấy súng.

Tôi nói tiếp một cách hăng hái:

– Tôi có quen trong trạm, nếu anh có mất hết đồ đạc thì tôi đưa anh vô đó, người ta sẽ cấp lớp mới cho anh. Rồi thì anh trở về đơn vị với anh em.

ói xong, tôi lôi tay anh thanh niên cùng đi.

Tự nãy giờ anh thanh niên không nói một tiếng nào. Dọc đường tôi vẫn thuyết phục anh ta bằng đủ thứ lý luận. Nom anh cũng có vẻ xiêu lòng.

Khi hai đứa tôi đi qua mặt những người nằm bên bờ suối thì ai nấy đều nhìn tôi với những cặp mắt thán phục. Tôi vô cùng sung sướng vì đã làm được một việc không ai làm nổi. Tôi thấy đau đớn thật sự. Vì sao anh thanh niên này đi tìm cái chết vô lý?

Đến chỗ rẽ, tôi bảo:

– Anh đi theo con đường này độ 30 phút sẽ đến trạm. Anh trình bày hoàn cảnh của anh rồi sẽ được cấp phát. Nhé! Anh nên nghe lời tôi.

Anh thanh niên cũng không nói rằng mà cứ lầm lủi đi theo ngã tôi chỉ. Tôi đứng nhìn theo. Thật là thối cả ruột gan. Cái ba-lô lép kẹp dán sát vào lưng anh ta, cái hộp lon treo ở phía sau bằng một sợi dây kẽm, có lẽ anh dùng để nấu cơm, cứ mỗi bước đi của anh, nó lại đập vào ba-lô đánh cạch một tiếng làm như một thứ nhạc điệu mỉa mai.

Độ nửa giờ sau, khi xong việc tôi trở lại, đi ngang qua đường cũ thì mọi người cười rần lên. Tôi dừng lại và nói một cách tự hào:

– Đó! Các đồng chí có thấy không? Tôi dựng anh ta dậy rồi đó!

– Ừ! Đồng chí công tác chính trị tài thật!

– Từ Hà Nội vô Vĩnh Linh anh ta nhảy tàu 3 lần, đều bị bắt lại hết đó.

Mỗi người nói một câu, nhưng nụ cười của họ có vẻ bí hiểm trêu chọc chứ không tán thưởng việc làm của tôi vừa qua.

Quả thật, khi tôi trở lại phiến đá, thì hỡi ôi, giữa những cành cây khô héo một thân hình héo khô không kém nằm dài đểnh ra đấy với tất cả sự chán chường, bất chấp những cặp mắt của người qua kẻ lại.

Tôi hơi giận, tôi ngồi xuống và nói:

– Tôi đã bảo, sao anh không nghe lời tôi vậy hả anh bạn?

Anh thanh niên lập tức ngồi dậy và nói năng sốt sắn chứ không đến nỗi tệ như lúc nãy. Anh ta nói với tôi những lời tâm sự của một người bạn:

– Tôi thú thật với anh là tôi rất cám ơn anh. Tôi biết anh rất thương tôi. Nhưng tôi đã quyết định rồi, tôi quyết định hy sinh tôi. Tôi biết làm như vậy là bậy bạ, nhưng tôi không muốn cái gì hết, ngoài cái chết. Tôi muốn xem cái chết từ từ đến với tôi, vuốt ve tôi hoặc nhai tôi ngấu nghiến. Tôi bây giờ là một tế bào chết của cuộc cách mạng này. Anh có xem phim "Tiểu Thư Mary" của Liên Xô không? Pê-sô-rin xem cái chết như một sự tất nhiên "như một cổ xe song mã đến rước mình sau buổi dạ hội chán ngán…" Ở đây tôi cũng muốn một sự gì giống giống như vậy…

Anh thanh niên nói tiếp:

– Tôi xin lỗi anh vì lúc nãy tôi đã lừa anh. Tôi nói thật, tất cả những lời anh nói với tôi, lúc đầu tôi đã đều nghĩ tới cả, nhưng tôi ngấy lắm rồi cho nên, để màng tai tôi khỏi bị những lời nói như hòn sỏi rơi vào làm nhức nhối, tôi vờ nghe nghe lời anh, một là cho anh vui lòng, hai là tôi khỏi phải nghe theo.

Tôi không còn nói thêm câu gì nữa. Tôi đành chịu thua trước sự quyết định quá vững chắc của anh thanh niên. Đúng là hết chỗ nói.

Từ đó về sau tôi không gặp lại anh thanh niên đó nữa.

(xem tiếp tại đây)

Đánh máy: Lê Thy

Fw: Đường Đi Không Đến – 3 –

24/10/2009 — Người Đánh Máy: Lê Thy

– 3-

Không hiểu bằng cách nào mà tôi đã theo kịp đoàn tôi trong chiều hôm đó, cố nhiên là tôi đến sau tất cả mọi người. Tôi nghĩ, nếu người ta mà biết được tôi đã cố gắng đến mức độ nào để tới đây thì họ sẽ thưởng cho tôi cái mề-đay bự nhất. Bây giờ viết lại cái ý nghĩ có vẻ mỉa mai này của tôi trên giấy tờ, tôi hãy còn lợm giọng khi nghĩ đến cái vinh quang mà người ta đã dành cho tôi trước khi tôi cất bước lên đường.

Cơn sốt rét đã lắng xuống nhưng sự mệt nhọc thì vọt lên cao độ.

Ai cũng lo công việc của mình, không còn thời giờ để mừng đón tôi, mà cũng lạ thật, tôi đã vất bỏ đi cái thói xấu công thần một cách dễ dàng. Đến nơi, tôi chỉ mong mắc võng và nằm, yên chí rằng trong đêm nay mình không cô độc giữa rừng.

Phần lớn anh chị em đang bận rộn bào chế các món ăn bằng khoai mì, những mẩu khoai mì vụng mà họ đã phải đi trên một tiếng đồng hồ để mót lấy, trên ruộng rẫy mà bộ đội đã nhổ trụi những khẩu phần của họ rồi.

Bây giờ thì thiên hạ bận rộn như ngày có giỗ. Kẻ thì tìm một phiến đá để đập và nghiến mì ra thành bột rồi nặn thành từng bánh đem nướng trên lửa than. Kẻ thì dồn vào trong ống nứa non đem đốt như kiểu người thiểu số nấu cơm nếp giữ nguyên hương nguyên chất. Hoặc kẻ thì vì không đủ sức làm hay vì tính giản dị, cứ đem luộc và ăn ngay.

Lâm đến mắc võng gần bên tôi và hỏi:

– Muốn ăn cái gì tớ làm cho?

Tôi trỏ tay dưới đít võng. Lâm nhìn theo và ngạc nhiên kêu lên khi thấy một củ mì quá ngon lành nằm trườn trườn trên mặt đất.

Tôi nói:

– Cậu muốn làm gì thì làm tùy thích!

Tính Lâm tỉ mỉ và hay vẽ vời. Lâm say sưa nhìn củ mì, cầm nó lên và vuốt ve mà nói:

– Ta nấu chè, chén một bữa đi bạn!

Tôi gắt:

– Làm sao đủ đường mà nấu?

– Mình còn!

– Úy trời đất!

– Ừa, thiệt mà! – Lâm tiếp – Hồi trước khi đi mình có mua thêm 250 gờ-ram. Đó là nhờ thằng bạn cho phiếu mình mua cả tháng của nó. Chớ không thì phải chạy đi mua cái phiếu đó giá cũng em em giá của 250 gờ-ram đường.

Tôi nghe đến chè thì nước miếng nước mồm tuôn ra không kịp nuốt. Thời buổi này giữa Trường Sơn còn 250 gờ-ram đường, không khéo bị "ăn cướp" đánh nhà chớ phải chơi đâu. Nhưng tôi lại lắc đầu:

– Đừng có phí như vậy cậu ạ! Nhỡ có ốm thì lấy gì!

– Thì cậu ốm rồi đấy, còn chờ chừng nào nữa? Hay là mình đâm nhuyễn ra vò viên nấu canh nêm mì chính (tức bột ngọt) rồi ăn cơm cùng với mắm ruốc!

Nói xong Lâm xem như đó là quyết định cuối cùng và sáng suốt nhất. Lâm hăm hở soạn bếp núc của Lâm, vừa hí hoáy vừa hỏi thăm tôi hoặc vừa pha trò để dò xem phản ứng của tôi mà đoán sức khoẻ của tôi.

Còn tôi thì cố gắng ghếch đầu lên mép võng mà trả lời câu được câu chăng với Lâm. Lâm là thằng bạn rất tốt đối với tôi. Chúng tôi quen nhau từ thuở bé, và Ông Trời cứ bắt hai đứa phải gần nhau luôn, không mấy khi xa nhau. Vì thế, gây gỗ, đụng chạm, cự nự nhiều hơn bất cứ đối với ai. Có lần giận nhau hằng năm, nhưng đó là sự hờn giận của những người yêu – tan rồi hợp, hợp rồi tan, và cuối cùng lần này hai đứa lại đi chung trên con đường mà sự vinh quang chúng tôi phải chia nhau gánh đội đến oằn cả vai, còng cả lưng, tối cả mặt mày.

Lâm vừa thổi lửa vừa nói:

– Mình nghĩ thương cô Oanh quá cậu ạ!

Tôi lặng thinh nhưng Lâm không cần sự đáp lại của tôi ở đây. Tôi đã biết thừa cái chuyện của cô Oanh cũng như chuyện của bao nhiêu cô khác. Nhưng Lâm yêu nhất cái tình nghĩa cô Oanh nên vướng bận mãi cho đến ngày ra đi.

– Tao mà còn ở lại năm nay ngoài đó thì nhất định tao lấy con Oanh, không có cách gì khác. Con gái Bắc ngoan, dễ yêu; con gái Nam hồn nhiên, chân thật. Đằng nào cũng hay cả! Ấy chết, con Thu nó có ngồi gần đây thì nó nghe.. nó yêu mình mất.

– À, được rồi. Mai họp đoàn em báo cáo anh phá hoại đoàn kết Nam Bắc nhé! – Thu đang ngồi o bế cái chân đau, vọt miệng đáp ngay.

– Ừ, cứ báo mạnh vào! Cái chân sưng mủ kia kìa không lo mà đắp, mà vặt, mà xoa bóp đi… à mà em có cần anh bóp không nào?

– Cậu bóp thì có mà sưng to thêm! – Một người nhạy miệng đáp, làm tiếng cười nổi lên họa theo.

Một người khác lại nói xen vào to hơn:

– Nào, nhà nữ múa sĩ Ngọc Thu có đồng ý cho võ sĩ Lâm bóp…không?

Anh bạn kéo dài tiếng "bóp" làm cho tiếng cười lúc nãy lại phát lên, chỗ thì rúc rích, chỗ thì sằng sặc. Có người đang ăn phun cả cơm ra ngoài.

– Không bóp thì cũng sưng rồi mà. – Một giọng lè nhè của một ông cụ – Bây giờ coi chừng nó chảy.. nước … trắng nước vàng ra đó!

– Nó sưng lâu quá rồi mà, để nguyên nó cũng chảy!

Câu chuyện pha trò cứ kéo dài mãi, nhưng không làm cho tôi hứng thú chút nào. Tôi loáng thoáng nghe tiếng cười, nhưng đầu óc tôi mơ đến những chuyện khác thiết thực hơn.

Tôi mơ ước có trước mặt tôi có một cái quán bán các thứ dưa chuối, chè đậu, bánh dày, bánh giò rất mất vệ sinh với những đàn ruồi xanh như những đàn phi cơ làm xao động cả buổi trưa.

Làm gì nhiều thế? Tôi chỉ cần một bà lão bán chè xanh dưới một gốc cây bã đậu rợp mát với những cái chén sứt mẽ vằn vện những cốt trà cũ, với những cái tủ kính nhỏ đầy ghét cáu và vỡ nát, bên trong có đựng những chiếc bánh chè lam có rắc một ít đậu phộng và mè rất cứng, mà bình thường ở ngoài đó không bao giờ tôi nghĩ tới việc phải để mắt tới.

Hay tôi lại thèm một ít nước béo cho vào tô phở , chỉ một ít thôi cũng đủ. Tôi như ngửi thấy mùi hương của những bát phở gà với những miếng mỡ mà tôi ưa thích nhất. Những con gà vàng ngậy kinh người treo trong những lồng kính. Tôi thèm tất cả, mơ tất cả những gì có thể cho vào mồm để mà nhai. Đời giản dị chỉ có thế thôi.

Biết bao ý nghĩ trước kia tôi không hề có nhưng một cơn sốt đổ xuống tôi, mang đến cùng với sức nóng và sức rét của nó, bao nhiêu là siêu vi trùng trong tư tưởng. Những ước mơ tôi mang nặng hôm qua bây giờ hoàn toàn phủi sạch.

Nằm ở đây giữa Trường Sơn này với một cơn sốt dài lê thê hàng chục cây sô đường rừng, tôi chỉ còn nghĩ tới một điều cụ thể nhất là cái gì để cho vào mồm và nuốt được.

Tôi chỉ cần một khẩu phần cơm cơ quan ba hào chẳng hạn với cục bột mì sừn sựt với bát ngô sền sệt một thỏi cá tanh rình bằng ngón tay và vài cọng rau muống dai nhách tua tủa những gốc rễ.

Thiên đường ở đâu? Thiên đường của người chiến sĩ vượt Trường Sơn là cái khẩu phần đó đó.

Ba lon gạo tối hậu dành để chống càn buộc thắt ngang trong ruột tượng cũng đã cạn rồi. Có người lượm gạo mục ở dọc đường của ai nứt ruột tượng đổ ra và giũ ruột tượng của mình lấy nốt những hạt gạo còn sót, cho tất cả vào canh cho có mùi gạo tí ti, húp cho cứng gối.

Phiền lòng quá, tủi thân quá!

Đây là chặn đường Kontum có lẽ. Tôi có cái bản đồ con con có hình nước ta nhưng nó bé nhỏ quá, nó chỉ chiếm hết lòng bàn tay tôi thôi, cho nên những địa danh của nó cũng không được ghi đầy đủ. Và không có địa bàn, không có làng, có xứ thổ dân nào, tôi làm sao biết được tôi đang ở cách xa những người tôi vừa chia tay là bao xa và những người tôi sắp được bắt tay là bao xa. Chỉ biết rằng tôi đang đón nhận cái phần thưởng đầu tiên cấp trên gửi tặng tôi là cơn sốt vừa qua cùng với một nồi cháo mì của một thằng bạn khổ – không có cái gì hơn là tấm lòng để giúp tôi.

Bừng mắt ra, tôi thấy rừng vây quanh tôi. Hoàn toàn xa lạ. Cái cảm giác đầu tiên của tôi là tôi đang lọt tõm giữa mênh mông. Và tôi sắp tan ra trong cái mênh mông đó.

Tôi phải mất ít nhất là vài giây để hiểu những sự việc vừa qua kể từ khi Thu chống cái gậy lê chân đi từng bước biến dần trước mắt tôi. Cái hình ảnh đầu tiên tôi nhớ ngay về buổi trưa hôm qua là cái hình ảnh của Thu.

Vì chung quanh tôi không có ai hết cả ngoài Thu.

Nhưng, thế thôi cũng đủ. Hình như Trời còn ngó lại cho tôi. Trời không muốn tôi quá cô đơn giữa cái rừng sâu nầy. Nhưng tôi chỉ hưởng được cái giây phút êm đềm đó trong một thoáng thôi rồi lại rơi vào cái khổ triền miên, cái khổ đeo đẳng, dằng dặc chặt không đứt, bứt không rời của Trường Sơn: đó là cái đi, cái đứng, cái ăn, cái ngủ, cái bệnh, cái tức, cái giận, cái thương, cái ghét … thực là một trăm thứ cái, mà cái nào cũng kỳ cục, khác thường, nó xoi, nó mói, nó cạo, nó gọt tâm tủy con người.

Giữa chúng tôi, hai đứa còn sót lại sau đoàn đây, một đứa Nam, một đứa Bắc, đứa đàn ông, đứa đàn bà, một đứa bệnh, một đứa tật, khác nhau cả, nhưng có điều giống nhau quá là đứa này sầu, đứa nọ cũng rầu.

Thu ngồi quay lưng ra tôi cho nên tôi thức mà Thu không biết. Những đốm nắng vàng vọt rời trên những phiến đá ẩm ướt rêu mốc mà hơi người không làm ấm lại nổi. Tóc Thu hồi còn ở Hà Nội tôi nhớ là đẹp lắm mà. Tóc con gái là đẹp lắm rồi, dù màu vàng hoe hay màu đen huyền, dù kẹp ngang vai hay uốn xoăn cũng đẹp, nhưng hôm nay thì tóc Thu không đẹp nữa rồi. Mắt tôi đâu còn tinh anh để nhìn tóc nàng?

Thu có đôi chân tuyệt đẹp của một diễn viên múa mà tôi chưa từng trông thấy ở bất cứ ai. Tôi thấy Thu là tôi đã nhìn đôi gót chân để mong có thể nhìn lên cao hơn ống chân, cao hơn tí nữa, như có lần tôi đã thấy gần trọn vẹn bộ đùi của Thu khi Thu xăn quần lội qua con suối.

Bây giờ đây đâu phải là tôi quên rằng tôi đã có một dịp hay ho như vậy, đâu phải tôi quên rằng người con gái ngồi trước mặt tôi đó đã có một cặp chân tuyệt mỹ! Nhưng tôi không buồn nghĩ đến cặp chân ấy nữa.

Người ta không còn thì giờ, đúng ra là không còn tâm hồn nào để nhìn cái đẹp nữa. Tôi còn phải dành trí khôn để ước lượng xem phải uống bao nhiêu kí-nin nữa để cắt cơn sốt, xem nếu tôi đi thì có đi nổi không, xem cây gậy của tôi có nặng so với sức lực của tôi bây giờ không, nhất là làm thế nào để cùng với cái cô diễn viên múa kia đuổi kịp theo đoàn v.v.. và v.v…

Và nếu tâm trí tôi có bắt buộc phải nghĩ tới đôi chân đẹp đó chăng đi nữa thì đôi mắt tôi, chúng cũng từ chối.

Chỉ sau vài hôm đi trên đường Trường Sơn thì mắt tôi bắt đầu không thấy núi đẹp như trong thơ nữa. Núi ôm ấp mây, núi quàng khăn tuyết … tất cả những nét đó hình như vô lý. Mắt tôi cứ hau háu như mắt cú vọ để tìm kiếm một cái đọt bứa, một cái mục chuối rừng còn sót lại hay một cái quai dép, một mẩu ni-lông của ai làm rớt dọc đường. Mắt tôi hễ mở ra thì bắt đầu nhìn những hòn đá chơm chởm gập ghềnh chỗ thấp chỗ cao, nhìn những bộ mặt vàng nẫu, những cặp chân cà tong cà teo run run khiêng pháo lên dốc.

Tất cả những gì đẹp đẽ cũng không cần thiết, đúng ra cũng không cần có ở đây.

Và dù là cái đẹp đó là cái riêng của tôi đi nữa, tôi cũng không cần. Tôi không cần nó, tôi không khát nó, tôi không thèm nó. Tôi cần, tôi khát, tôi thèm cái khác: ăn! Ăn cái gì thì ăn, nhưng núi đẹp và cặp chân vũ nữ tuyệt vời kia thì không thay cho món ăn được.

Hình như ánh mặt tôi gọi Thu cho nên Thu quay lại. Tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên về sự ở lại của hai đứa và cũng không có vẻ vui mừng vì chỉ có hai đứa ở lại mà thôi.

Thu cố nhấc cái chân què đi tới ngồi phệt xuống bên võng của tôi và thở dài:

– Đoàn đi cả rồi anh!

Tôi nhìn Thu không đáp.

– Khổ quá đi mất!

Tôi cũng không đáp.

– Không biết rồi phải làm sao?

Sự lặng im vẫn kéo dài.

Tôi ngạc nhiên về sự sắt đá của tôi trước những câu than thở đồng cảnh ngộ của một cô gái. Tôi biết tôi phải nén lòng vì nếu tôi nói ra thì tôi sẽ nói những lời không đúng đắn về lập trường, về tình nghĩa, về sự có lý hay vô lý. Nếu tôi nói ra một câu thì những tiếng đầu tiên phải là những tiếng không có văn hoa, văn hoá.

Nhưng chửi ai, văng tục với ai?

– Anh hết sốt chưa? Thu hỏi.

– Qua cơn rồi em ạ!

– Không biết rồi ngày mai em ra sao, anh nhỉ?

– Thu chưa bao giờ bị sốt nên đâu hiểu sốt là thế nào!

Thu ngồi lặng thinh. Bây giờ thì chỉ còn có hai đứa, hai đứa bé mồ côi, khát sữa bú tay.

Một chốc Thu mới nói lại nguyên văn câu nói lúc nãy:

– Đoàn đã đi hết rồi anh ạ!

– Anh biết rồi.

Rồi hai đứa lặng thinh.

Tôi cố mở hai mí mắt nặng nề dày cộm của thằng sốt rét ra mà liếc nhìn chung quanh. Cảnh tượng thật là áo não, buồn thảm, bi đát, đau thương. Tất cả những chữ na ná như thế trong ngôn ngữ Việt Nam gom lại cũng không đủ tả cái cảnh chung quanh tôi lúc bấy giờ.

Những cái cọc hôm qua kín những võng và những tăng, những màn, những cái giàn nhỏ đầy những ba-lô, khăn túi, những cái bếp thì khói lửa tuy phải che đậy từng tí nhưng vẫn ấm áp tươi vui với ánh lửa và hương củi lửa. Tôi nghĩ rằng chỉ có những người đi rừng biền biệt xóm làng như chúng tôi mới hiểu nổi giá trị của lửa.

Hôm qua là cả một không khí hoạt động bánh trái vui nhộn, nhưng hôm nay đây, họ đã đi, mang theo họ cả khung trời. Chưa một lần nào tôi thấy vừa cô đơn vừa buồn tủi như hôm nay.

Thu đưa cho tôi hai mẩu giấy. Tôi không đọc ngay nhưng tôi biết đó là của anh đoàn phó và của Lâm – của Lâm, mảnh giấy tó hơn…

Chung quanh tôi mấy cái võng mắc tòng teng mà dưới mắt giao liên là những cái của nợ, vì những người này thường hay mò vào trạm của họ để căn nhắn, xin xỏ hoặc ỳ ra không chịu đi, tệ hơn nữa có những người nằm ngủ luôn không dậy, họ phải khiêng đi chôn cho khỏi thối trạm, có lẽ đó cũng là những người bị rơi rớt trên đường mà đoàn họ gửi lại núi rừng thiêng này – cũng như lũ chúng tôi đây.

Tôi nhìn xuống cái ga-men của tôi ngay đầu võng. Tôi không buồn nhặt nó lên. Vì cái kỷ niệm chiều hôm qua còn hơi ấm giữa tôi và Lâm sẽ làm cho tôi khổ hơn. Cái bánh làm bằng khoai mì, canh mì nêm bột ngọt… tất cả mâm cổ mà Lâm làm hôm qua, tôi không có thụ hưởng một tí gì. Cái củ mì to tướng của tôi vẫn còn nguyên đó. Vậy là Lâm chỉ dùng mì lượm mót của mình mà thôi. Đó là một nghĩa cử mà tôi phải ghi nhớ. Trên con đường này người ta chơi xấu với nhau từng chút một, nhất là miếng ăn. Miếng ăn là miếng tồi tàn! Lâm đã để lại cho tôi một tí đường trong số 250 gờ-ram của anh ta đang mang theo từ Hà Nội. Tôi không giỡ nắp ga-men ra, nhưng tôi vẫn trông thấy những hạt đường lấp lánh tình bạn. Lâm tốt đến thế đối với tôi vậy mà Lâm vẫn bỏ tôi mà đi với đoàn.

Bất giác tôi đưa mảnh giấy của Lâm lên mắt.

"Mình đi nhé! Thế nào cũng "nằm" lại ở vài trạm trước. Cậu sẽ bắt kịp. Đừng buồn nhé!"

Tôi buông mảnh giấy trên ngực tôi. Tôi nghe nước mắt ứa ra và từ từ trào ra tràn xuống má! Tôi biết Lâm cũng buồn, nhưng tôi hiểu nó lắm. Nó cũng không muốn bỏ tôi mà đi nhưng nó phải đi, và cơn sốt của nó (mà tôi đã thấy trước) bắt nó phải chờ tôi. Rồi lại tới phiên tôi phải bỏ nó mà đi và phải viết những lời như nó viết cho tôi hôm nay.

Thật tình tôi không thấy đói, không thấy buồn, không thấy cái gì cả. Tôi đã hoàn toàn biến thành một khối xương thịt vô tri. Tôi muốn nằm yên rồi chết… nếu không có tiếng the thé của Thu gọi tôi:

– Anh có ăn cháo không em nấu?

Trời ơi! Cái gương mặt của Thu bây giờ sao xấu đau xấu đớn thế? Bây giờ tôi trông thấy mà giật mình, không hiểu tại sao Thu đã xấu ra, hay tròng mắt tôi bị méo mó vì cơn sốt? Đằng nào thì cũng đáng buồn cả.

Tôi giụi mắt nhìn lại. Thực tình Thu xấu đi nhiều quá. Đôi mắt sâu và đôi môi tái nhợt cũng đủ làm cho vẻ đẹp của Thu mất hết sự lộng lẫy ngày xưa rồi. Mà có xưa gì cho lắm? Mới hơn một tháng đây thôi. Hồi ở nhà trường ai cũng ve vãn tán tỉnh nàng. Còn bây giờ người ta xa lánh vì đàn bà ở đây không dùng được vào việc gì cả, ngay như sắc đẹp là cái món ngon lành nhưng ở đâu chứ ở đây thì cũng vô dụng nốt. Mà cũng may, cái đó không còn có ở đây.

Tôi đáp:

– Anh cũng đang đói, từ trưa hôm qua tới giờ đâu có cái gì vô bụng.

Thu soạn cái ga-men của tôi ra. Quả thật Lâm đã để lại cho tôi một nhúm đường cát. Đây là lần thứ hai tôi nhận của Lâm thức ăn. Lần thứ nhất, lúc đó đi được hơn mươi ngày. Anh chị em còn sức. Một hôm trạm mời đoàn vào múa hát phục vụ cho giao liên, không rõ anh chị em được tặng món gì mà khi tan cuộc, Lâm rỉ tai tôi: "Chốc nữa tớ cho cậu món ăn đặc biệt"… Chiều hôm đó khi tôi sắp ăn cơm, Lâm đến gần bên tôi và thừa lúc không ai chú ý, Lâm xộc tay vào túi quần nắm ra một nắm rồi chúm lại rót xuống bàn tay tôi đang xoè ra để nhận lấy.

Tôi chú ý xem là cái gì. Đó chỉ là những hạt đậu phộng rang với muối. Chỉ có dăm hạt thôi vậy mà Lâm phải rót đến hai lần. Lần thứ nhất ba hạt, rồi chắc Lâm cảm thấy còn ít quá, Lâm lại hở mấy ngón tay ra vừa vặn cho hai hạt nữa rơì xuống. Thế cũng đã nhiều, trên đường này.

Mấy hôm sau đổi được mấy trái chuối rừng (giống như chuối hột trong Nam, nhưng trái chuối đầy hột chát ngầm không nuốt được) tôi cũng tuyên bố với Lâm: "Tớ sẽ cho cậu một món đặc biệt". Đợi cho ai nấy đều ngủ hết tôi mới mò sang võng Lâm và dúi vào ngực Lâm một trái chuối rừng.

Bây giờ Lâm cho tôi mấy muỗng đường cát. Chỉ vậy thôi mà nước mắt tôi ứa ra, tôi không chùi kịp.

Thu nhúm lửa với mấy mụn củi nứa đêm qua Lâm còn bỏ lại và hơ mớ cháo khoai mì đủ âm ấm rồi sớt ra cái nắp ga-men trao cho tôi.

Thu nói:

– Bỏ vào một ít đường cho ngọt để ăn anh nhé, chắc anh đắng miệng lắm.

Tôi nâng chiếc nắp ga-men lên, ngửi mùi khói bốc từ mớ cháo, tôi biết rằng trong đó đã có đường rồi. Tôi kê miệng húp một miếng. Quả thật, cháo ngọt. Tôi muốn nuốt vào nhưng không hiểu vì sao, như bên trong như có một cái gì đang tràn ra, đẩy ngụm cháo phọt ra ngoài, tủa ra đầy đất.

Thu vội vã đỡ lấy nắp ga-men và kêu lên:

– Sao vậy anh? Ơ kìa?

Tôi khoác tay ý bảo không có chuyện gì đâu đừng cuống lên. Tôi biết sức khoẻ của tôi mất đi gần hết sau cơn sốt dồn dập khởi đầu từ ban trưa, ngưng một chập rồi lại sốt suốt đêm. Cho nên lúc sáng, đoàn cuốn tăng võng ra đi tôi hãy còn mê man, anh em từ giã tôi không hay biết gì hết.

Tôi định ngồi hẳn dậy, nhưng cái xương sống của tôi cứng đơ cứng ngắt như một khúc xương liền không có khớp. Nhưng tôi quyết không chịu thua, tôi nghếch đầu lên mép võng và lần này đến phiên cái cổ của tôi không giữ được cái đầu tôi nữa. Tôi gục hẳn xuống, mắt tôi nhìn mặt đất xoay vần. Tôi nôn, nhưng trong bụng tôi không có gì để mà nôn!

Thu vội vã ôm đầu tôi đặt vào võng. Bất giác tôi gào lên:

– Đ.m. chúng nó!

Quả tình tôi không thể im lặng lâu hơn được nữa. Đó là kết quả sự đè nén lâu ngày, kết quả của lòng tin bắt buộc.

Tôi thấy ân hận vì đã bôn ba hơn ba mươi ngày để đến đây, trên quãng đường không có cột số, cũng không có tất cả những gì cần thiết tối thiểu cho người đi đường. Nằm giữa chốn đây không có một tấc sắt trong tay, lấy gì bảo vệ thân sống chống lại cọp hùm rắn rít, chống lại những tên "bê quay" đã trở thành thổ phỉ còn hung ác tàn nhẫn hơn cả bọn phỉ mà người ta thường nguyền rủa. (Chữ "bê quay" này chốc nữa thì tôi sẽ giải thích, dẫn chứng với hằng trăm sự việc ly kỳ.)

Cha mẹ tôi sinh tôi ra cho tôi theo cách mạng chín năm chống Pháp rồi cho tôi đi ra Bắc để xây dựng lực lượng đặng trở về Nam thống nhất đất nước với lòng tin tưởng vô biên, có ngờ đâu tôi được đối xử như thế này? Tôi không còn nghĩ đến cái điều vinh quang mà người ta gắn cho tôi lúc tôi sắp ra đi – cái vinh quang chói lọi tưởng chừng bằng tất cả sự vinh quang của dân tộc ta trong thế kỷ đau thương này góp lại – nhưng lạy Chúa, con lạy Đức Mẹ nhân lành, nếu có thể, con xin quỳ gối mà trả lại tất cả cho người đã ban phát cho con, hoặc con xin lấy nó ra làm hiện vật để đánh đổi một sự nhỏ hơn nó gấp vạn lần, đó là tránh cho con cơn sốt sắp tới đây mà con cảm thấy nó đang lù lù đi tới.

Bây giờ tôi mới biết sốt rét rừng, mới hiểu tại sao người Pháp có đồn điền cao su trên rừng luôn luôn bao lưới tất cả các cửa ra vào, tôi hiểu rồi, hiểu rồi, hiểu bằng chính sự chịu đựng của thân xác tôi.

Trời ơi! sốt gì mà sốt vậy! Chỉ một cơn sốt thôi mà tôi cảm thấy tôi không còn cái gì nguyên vẹn trong người cả, từ lá phổi buồng tim, bộ óc cho đến những khớp xương, làn da và đến từng lỗ chân lông một. Tất cả đều hở ra, ọc ạch, xiêu vẹo.

Trời đất ơi! sốt gì mà sốt thế! Chỉ một cơn sốt thôi tôi đã nhìn trời ra màu xám ngoẹt. Từ vui đến buồn, từ buồn đến bi lụy. Tôi bây giờ đang gục xuống dưới cái lưỡi búa bi lụy của chính mình. Tôi chỉ còn nghĩ một điều: hận.

Tại sao người ta ném một cán bộ hai mươi năm chiến đấu, mười lăm tuổi đảng vào khu rừng này mà không cho một bước rút lui phòng thủ, không cho một thứ vũ khí trong tay? Con người là vốn quí nhất, Lê Nin hay Mác đã nói vậy, và Đảng Lao Động cũng lập lại câu đó bất cứ ở đâu.

Thì vỡ lẽ ra ở trên con đường Trường Sơn này cái vốn đó được đem ra xài với sự trân trọng nhất. Như hiện giờ nầy đây, như cái thằng tôi hiện giờ đang nằm đây này!

Mờ mờ trước mắt tôi, Thu vẫn ngồi ủ rủ, không rõ Thu nghĩ gì. Tội nghiệp! Cô nàng chắc hẳn là nhớ Hà Nội lắm. Gái Hà Nội mà! Xa Hà Hội một ngày đã thấy mất đi một tí gì trong người rồi, một tí duyên dáng, một tí lẳng lơ, một cái ý thơ mộng trữ tình do phong cảnh, do sinh khí, do cái đất ngàn năm văn vật gây nên, hiến dâng và thấm vào mà không người con gái Hà Nội nào không có, và không một người con gái nào có.

Thu như con cá nước ngọt bị ném ra biển.

Tôi không nhìn cũng biết cái chân Thu như thế nào rồi. Cái chân ngọc ngà, xoay bật như lò xo trên sân khấu phẳng như mặt hồ Gươm và mịn như nhung. Thu hãnh diện vì cái đẹp của đôi chân, cái tài ba của chúng nhưng bây giờ đây Thu lại nhìn nó như một tai vạ vô cùng. Đây! Thu cũng chính là cái "vốn quí" được sử dụng vô cùng trân trọng đấy!

(xem tiếp tại đây)

Đánh máy: Lê Thy

Saturday, February 18, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 2

– 2-


Bỗng nhiên tôi có cái mặc cảm: mình cũng nằm lại đây, lấy tấm đế cối này làm mộ bia.


Một người đi ngang qua trước mặt tôi, ném một câu cụt ngủn:


– Sốt à?


Tôi khẽ gật đầu, mà hình như tôi chỉ ngồi im, không đáp lại. Tôi nghe cách phát âm thì tôi biết đó là người Nam Bộ. Tôi thấy hơi đỡ khổ, bớt cô đơn, tôi hơi tỉnh lại. Tôi hỏi vói theo:


– Đồng chí ở tỉnh nào?


– Bến Tre – Anh bạn quay lại đáp.


– Tôi ở Mỹ Tho


Tôi trả lời vào một câu không phải là câu hỏi. Tưởng đó là một hòn đá ném xuống vực thẳm không nghe tiếng đáp lại chẳng ngờ lại có âm vang:


– À, có Mỹ Tho đi tới kia kìa.- nói xong anh chàng bước lùi lại và vẫy tay kêu to: – Ê, ê!… có đồng hương đây mau lên – rồi lại hỏi tôi:


– Anh về Ông Cụ phải không?


Tôi gật. Anh bạn lạ mặt kia – một cán bộ quân đội – vỗ đùi kêu to:


– Sướng quá trời đất ơi!


Anh bộ đội nói tiếp:


– Thằng bạn của tôi kia nó ở Mỹ Tho. Mười mấy năm nay nó chưa gửi được một lá thư về gia đình cũng không nhận được một lá thư nào của gia đình. Vợ con nó không biết ra sao. Nghe nói hình như ả đã lấy chồng rồi. Nó buồn lắm, cố nhiên, vợ đi lấy chồng vui sao được nhưng buồn một nỗi nữa là cái tin không biết có đúng vậy không. Nếu rõ vậy thì nó ở ngoài nầy kiếm vợ chẳng khó khăn gì nhưng nếu không phải vậy thì tội nghiệp cho người đàn bà. Người ta chờ đợi thủy chung té ra mình quất ngựa chuối đi mất, khổ quá!


Anh bạn mới quen nói tía lia, vừa nói, vừa bình luận, vừa cười và sầu não với tôi như với một người quen cũ. Anh khoa tay:


– Anh ngồi đây để tôi chạy đi kêu. Nó đang nướng mì ăn đằng kia kìa.


Rồi anh ta chạy phốc đi, một chốc trở lại với một người bạn mới. Anh ta vừa thở vừa nói:


– Nó là Chính Trị Viên tên Thành, còn tôi Đại Đội Phó cũng xin tự giới thiệu luôn. Tôi tên Cu bí danh Tư Ớt vì lúc nào ăn cơm cũng phải có ớt. Anh em còn cho tôi cái tên nữa là Cu Ớt Hiểm- Anh ta nói tự nhiên không có vẻ gì xấu hổ vì cái tên không văn hoa của anh, rồi anh ta vỗ vai tôi và tiếp – Còn đây là anh bạn sốt người Mỹ Tho đang trên đường "về nước"


Thành hỏi tôi ngay:


– Mỹ Tho mà quận nào anh?


– Cái Bè – Tôi đáp.


– Tôi ở châu thành gần bến bắc Rạch Miễu. Anh biết bến bắc Rạch Miễu không?


– Có chớ! Tôi có qua lại vài lần.


Tôi bỗng nhiên thấy tỉnh hẳn lại. Những cái tên đất, tên làng của quê hương không có gì tất cả. Đó là những cái tên bình thường, quá bình thường đi nữa là đằng khác. Nhưng đó là tất cả.


Nhưng ở đây, những bộ mặt xanh nanh vàng, những cặp môi tím ngắt thốt ra những cái tên ấy, run run như da thịt người chạm phải làn điện nhẹ, nó run lên, những âm thanh ấy, như những tiếng đàn bất tuyệt ngân lên và lay động đến tận những nơi sâu xa nhất trong lòng.


Tư Ớt Hiểm cảm thấy bơ vơ khi thấy tôi và Thành không nhắc đến y. Có lẽ vậy! Cho nên y xen vô, tự giới thiệu:


– Còn tôi ở Bến Tre, quận Giồng Trôm, anh có biết không? Từ Mỹ Tho xuống Bến Tre đâu có mấy cây số. Qua bắc Rạch Miểu thế là tới "Bến Tre quốc" rồi!


Tôi đáp:


– Hồi 9 năm tôi có tới đó. Tôi sống ở Bến Tre cũng lâu lắm. Tôi biết rất nhiều. Có phải Giồng Trôm của anh có những làng Tân Hào, Thạnh Phú Đôn, Cái Mít không?


– Phải! Phải nhưng Cái Mít không phải là làng mà chỉ là tên chợ thôi. Chợ Cái Mít nhưng làng Thạnh Phú Đông! Hồi đó tôi ở bên Tân Hương thường chèo xuồng qua Thạnh Phú Đông. Hai cái vàm Tân Hương và Cái Mít gần ngang nhau. Sông Hàm Luông rộng lắm nhưng nó có rất nhiều cồn. Tôi không nhớ hết. Mà không biết mấy chục năm nay cù lão cũ có bồi ra thêm không . Còn cù lao mới chắc mọc lên bít cả con sông Hàm Luông nối liền chợ Tân Hương và chợ Cái Mít nữa là khác.


Đôi mắt Tư Ớt mơ màng ngó mông lên đầu núi, dường như ở sau rặng núi hiểm trở này là quê hương anh, dòng sông đó, cồn đất đó. Tư Ớt nói liên miên, không để ý đến sự chú ý của những người chung quanh nữa.


– Bây giờ mà cho tôi đi về thì tôi đi một mạch tới ngay. Đây đó có bao xa mà về không được, gần hai chục năm rồi. Ở nhà, cha mẹ chết hết mình cũng không hay!


Tôi nhìn cái khuôn mặt buồn bã và vàng sậm của Tư Ớt mà đau xót. Tôi biết y hoạt động rừng núi đã lâu ngày rồi. Nước da của anh xấu quá. Tôi thương Tư Ớt vô cùng, một tình thương bất ngờ, đột biến, sôi lên.


Tôi hỏi:


– Anh không về à?


– Không được về chớ không phải không về đồng chí ạ!


– Tại sao không được?


– Vì người ta không cho.


– Nhưng tại sao không cho mới được chứ ?


– Tại vì người ta nói Đảng Bác chưa cần, tôi ở đây đã 4 năm rồi.


Tôi ngã ngữa ra. Vậy ra có những người như Tư Ớt, cứ ở đây mãi không được về xứ.


– Mình phải đấu tranh chứ!- tôi gắt.


– Đấu thế chó nào được, không đấu thì còn "lon" còn "gáo" mà mang. Đấu thì đi Hỏa Lò và lon gáo rụng hết. Quân đội mà, anh có hiểu không? Anh không nghe nói vụ Thiếu Tá Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, ở Hà Nội à? Cũng vì hăng hái đấu tranh cho quyền lợi anh em đó mà đi tù. Gần chục năm nay rồi. Vợ ở ngoài đi lấy chồng. Anh em có thương tình cũng chẳng dám đi thăm, sợ liên lụy. Đó, kết quả của sự đấu tranh là thế đó .


Tư Ớt thở dài thườn thượt làm cho tôi có cảm giác là y chán chường mọi sự đời đến mức cùng cực, kể cả cái nhiệm vụ thiêng liêng mà anh được giao cho trên đường dây này.


Thành chờ đợi cái chấm câu của Tư Ớt tự nãy giờ. Thành nói:


– Thôi được rồi cha nội! Để cái cồn lá cồn lạp của anh qua một bên đi, để cho tôi nói chuyện với anh bạn một chút.


Thành ngồi xuống bên tôi xòe bàn tay vàng ngoách như vừa nhúng trong nước kí-nin ra và nói:


– Tôi sẽ viết cấp tốc một bức thư với 10 chữ thôi, không nặng đâu đồng chí ạ. Tôi biết các đồng chí đi đến đây là kiệt sứt rồi, một sợi tóc cũng làm nặng thêm một kí-lô. Đồng chí ạ, đồng chí có về tới Mỹ Tho và có dịp đi ngang qua xã Đạo Thạnh thì hỏi dùm tên ông già tôi.. Ờ..ờ… tôi sẽ ghi trong thư kỹ lưỡng, rồi đưa dùm cái thơ nhé. May ra gia đình tôi nhận được thư mà biết tin tôi còn sống. Còn nếu không tìm được thì thôi chẳng quan trọng gì. Đời tôi coi như bài cào bù trất rồi, may ra còn kiếm được hai ba nút, vậy thôi!


Rồi Thành lấy chiếc võng quấn tròn như đòn bánh tét đeo trên lưng và tháo ra buộc vào hai cái cây bên đường rồi dìu tôi lên nằm:


– Nghỉ khỏe đi, bây giờ mới 12 giờ 5 phút thôi, còn sớm chán! Mà đoàn của đồng chí đâu?


– Đi trước rồi!


Thành hơi ngần ngại:


– Vậy làm sao đồng chí theo kịp?


Tôi nói dối để cho Thành yên tâm mà không nói tía lia nữa. Tôi không muốn nói cũng không muốn nghe. Tôi nằm, cơ thể hoàn toàn ngơi nghỉ. Tay chân buông thỏng. Tôi có cảm giác là tất cả những bộ phận trong người tôi không còn ăn khớp với nhau nữa.


Tư Ớt đưa tay sờ trán tôi:


– Cỡ 39, 40 độ!


Tôi bắt đầu run lên. Sốt xong đến rét. Người ta gọi sốt rét mà lại! Cái rét có hình tượng. Nó như con vật có hằng vạn bàn chân li ti chạy từ trong máu, trong tủy tôi toả ra khắp châu thân. Tôi biết rằng đó là cuộc tấn công của những toán vi trùng vào những khối hồng huyết cầu theo như lời bác sĩ giảng, nhưng tôi không tin như vậy. Tôi cứ tưởng như tôi bị nhúng nước lạnh, mà cũng không phải nữa, bởi vì giữa trưa nắng mà đắp chăn vẫn cứ run. Hai tay ôm ngực, hai chân co lên sát bụng, hai hàm răng nghiến chặt, càng co càng rút thì càng run, răng càng đánh bò cạp.


Hai mắt lại nóng bừng như hai hòn lửa và không trông thấy rõ nét một vật gì. Tôi chúi đầu vào mép võng như chỗ tựa để chống lại cơn sốt đang hoành hành.


Tôi nghe loáng thoáng bên tai:


– Tôi nghiệp! Chắc đồng chí mới sốt lần đầu phải không? Ở đây là như vậy đó. Tụi tôi coi sốt như cơm bữa, "phi sốt rét bất thành giải phóng" mà! Kí-nin uống như trẻ cơm nguội có ăn thua gì. Nhiều khi mình sốt mà giống như là giả bộ vậy, đang ngồi chơi bỗng run lên, đang đi bỗng rã rời tay chân mắc võng không kịp mà nằm. Hì, hì.. trong người tụi tôi bây giờ vi trùng sốt rét hàng tá bắt nấu canh chua không hết.


Tôi còn nghe ngòi bút của Thành chạy sột soạt trên mặt giấy, một chốc lại nghe Thành kêu lên gay gắt:


– Nghẹt ngòi rồi! Bực quá! Có bút đó không Ớt?


– Không! Lâu rồi đâu có viết cái gì mà bút với mực.


– Mẹ!…Hồng Hà làm giống in Parker 91 mà dở ẹc. Ngòi viết có hơn tháng đã toè mẹ nó ra rồi.


– Ai bảo mua rồi la?


– Thấy có đứa bảo tốt lắm, nó mua đem về cho bạn bè Miền Nam.


– Ờ, vậy cũng tốt, nó được cái tinh thần.


– Tinh thần gì?


– Tinh thần tự túc tự cường. Ta làm ra ta xài chẳng hơn mua cây bút "Anh Hùng" của Trung Quốc à?


– Chà, chà! Nổi lập trường lên rồi đó hả?


– Khì..khì! Thôi viết đi, hết cơn sốt ông bạn đồng hương lại chỗi dậy đi mất bây giờ!


Thành đập đập mép võng hỏi tôi:


– Đỡ chưa đồng chí? Tôi viết thư rồi đấy! – Thành vừa nói vừa xếp lá thư nhỏ lại bằng một ngón tay và nói – Chỉ có bây lớn đây thôi, không có nặng gì đâu! Coi như nó là miếng giẻ rách vá cái áo cho đồng chí vậy thôi. Tôi cũng biết các đồng chí nặng lắm rồi, nhưng đây là vấn đề tình cảm của mình, tôi không bao giờ quên ơn đồng chí.


Rồi thao thao bất tuyệt, Thành nói:


– Tôi đi bộ đội hồi năm 1947 lận đấy đồng chí ạ! Đánh trận nào ở Mỹ Tho mà không có tôi, cả cái trận đánh với tụi Lê Dương mặt gạch ở Gò Công cũng có tôi. Trận đó hai bên đều hết đạn, đập nhau bằng súng và ôm vật nhau! Cái bọn Lê Dương mặt gạch cái mặt đen thui mà gạch ngang gạch dọc như mặt thớt vậy, cái đầu thì tóc quăn xoắn lại và cặp môi đen sì như cặp đỉa trâu bằng bắp tay nằm ngang. Gớm, trông thấy mà rợn người. Tụi nó đánh gan lắm! Chết bao nhiêu cũng không sợ, cứ nhào vô ào ào ngay họng đại liên, trung liên. Đồng chí có biết Phan Thanh Nhàn không? Nhàn Râu đó! Ông ta đấu tranh với bộ Tổng bị tù đó, ai cũng biết. Ban đầu tôi ở tiểu đoàn của Nhàn Râu, rồi sau này tôi sang Trung Đoàn Đồng Tháp đi lung tung càng ngày xa không về xứ được. Cuộc cách mạng của mình kỳ cục quá. Mới ban đầu mình tưởng chừng vài tháng thì xong, vài tháng không xong, rồi lại đến vài năm. Mới đầu tưởng ra khỏi làng thôi, ai dè đi lên tỉnh rồi đi lên miền, rồi ra Bắc cho tới bây giờ nghĩ tới ngày về mà vô cùng ngao ngán. – Thành nói chậm hẳn lại – Bây giờ thì bọn tôi không còn có ngày về. Vì thế cho nên tôi mới nóng lòng mà gửi bức thư này vậy. Nếu đồng chí có về ngay xã tôi, đến bến đò An Thạnh thì xin hỏi tên ông Hai Trí, đó là Ông già tôi và đưa thư này dùm tôi, tôi cám ơn lắm.


Cái thằng Nam Bộ ít hay nói tiếng cám ơn lắm. Nó cám ơn tự trong lòng, nó nhớ ơn và đợi lúc trả ơn. Ở đây Thành nói cám ơn là chuyện không thường rồi.


Tôi cầm lấy bức thư, đúng ra là mẩu giấy con không có vẻ trang trọng gì hết, nhưng trong đó gói trọn cả một trái tim, một nỗi niềm.


Anh ta khóc chăng? Tôi trông thấy anh ta quay mặt đi, người chính trịnh viên, thằng Thành con Bác Hai Trí ở Mỹ Tho! Có lẽ anh ta đau lắm khi nói những câu trên với giọng run ngập ngừng. Bỗng nhiên Thành quay lại, cố gắng nói giọng bình thường:


– Thôi, chúc đồng chí đi cho tới nơi. Độ hai tháng nữa là cùng, sẽ gặp lại ông già bà già cho ổng bả mừng. Còn tụi tôi thì… – Thành nghẹn ngào nhưng cố nói cho trọn câu – còn tụi tôi thì kể như bỏ xác nơi rừng Lào này đi!


Gương mặt tròn trịa của Thành trông thương hại quá. Đôi má phính không phải vì béo mà vì sỉn, run run theo những tiếng nghẹn ngào của Thành, hai hàng nước mắt của người chính trị viên quê ở Mỹ Tho chảy xuống chầm chậm và càng lúc càng nhiều. Thành vụt đưa mu bàn tay quệt ngang và tiếp:


– Thôi, tạm biệt nhé!


Tôi ấm ức thay cho Thành, cho Tư Ớt và cho tất cả những người miền Nam không được về quê. Tôi hỏi:


– Nhưng các đồng chí sao không được về chứ?


Tư Ớt rất uất và sự uất ức đó dường đã được khơi dậy. Tư Ớt nói:


– Họ bắt chúng tôi cứ ở lẩn quẩn trên con đường chết tiệt nầy xích ra xích vô, lết tới lết lui, thấy các anh em "về nước" mà tủi thân vô cùng. Trước đây tụi mình đâu có muốn đi mà vẫn phải đi, bây giờ mình muốn về thì lại cũng không được về. Không biết cách mạng Lào trở thành căn đày kiếp đọa gì cho lũ Miền Nam tập kết này, và không biết tới bao giờ mới dứt?


Tôi cố đứng dậy khỏi chiếc võng vì tôi đã biết câu chuyện sắp kết thúc.


Đứng dậy xong tôi phải vịn cái cây ở đầu võng, rồi một cách may rủi, tôi chụp lấy cây gậy của tôi lúc nãy không biết ai đã dựng sẵn đó cho tôi và tôi chống gậy lảo đảo đi lại ngồi phệt lên cái đế cối lúc nãy. Bây giờ thì tới phiên Tư Ớt tâm sự, trong lúc Thành bước lại cuốn cái võng. Tư Ớt nói với cái giọng khàn khàn có lẽ vì khát?


– Tôi nhớ từng gốc cây anh ạ! Ở gần nhà tôi có cái gốc cây gọi là cây Quéo, từ ngã ba đi vô độ hơn hai chục cây số. Đi xa ngó về vẫn trông thấy ngọn của nó vượt hẳn lên những rặng vườn. Tôi đi bộ đội được vài năm thì nghe nói bà con ở nhà đã hạ nó xuống để không còn chuẩn cho máy bay bỏ bom nữa. Nghe nói đốn nó phiền phức lắm vì nó là loại cây to bóng mát mà, có Bà ngự, hạ nó xuống đâu phải là chuyện chơi! Thầy pháp phải cúng, phải cầu, bà con phải đốt nhang khấn vái dữ lắm… Dù tôi đã biết người ta hạ cái cây Quéo xuống hơn hai mươi năm nay nhưng mỗi khi nhớ nhà, nhìn những chân vườn xa trước mắt thì tôi lại cứ thấy nó đứng sừng sững trước mặt tôi, trong tâm tư tôi.


Ở đàng kia có một tốp binh sĩ vừa lố dạng. Thành ngoắc ngoắc:


– Đem lại đây, tôi tặng cho ông bạn đồng hương một củ.


Tôi nhìn đoàn người đang khuân vác lôi thôi lếch thếch đi về phía tôi. Miệng tôi đắng như lúc nãy tôi nuốt còn sót một viên kí-nin trong cổ họng tôi, tôi cứ khạc nhổ mãi mà không hết đắng. Bây giờ tôi nghe cái củ của ông bạn đồng hương sắp cho, tôi không biết là củ gì. Củ khoai, củ mì, củ chụp …củ gì cũng ăn được. Vậy là được lắm rồi. Ở giữa chốn này dễ gì ai nhận mang cho ai cái gì, dễ gì ai cho ai món gì ăn được, vậy mà tôi nhận mang cho Thành cả một lá thư. Có lẽ vì vậy mà Thành cho tôi cả một củ…


Một anh bộ đội mặc áo cổ vuông ướt đẫm mồ hôi ở phía trước ngực lẫn sau lưng, gánh một sọt khoai mì, củ nào củ ấy to bằng bắp đùi người lớn (chưa vượt Trường Sơn!). Tôi hết sức ngạc nhiên. Không hiểu sao ở xứ này lại có thứ mì to của đến thế, một người chỉ vác nổi một củ mà thôi.


Hồi ở Hà Nội, tôi nghe các vị trong ban Thống Nhất Trung Ương kể chuyện về rừng mì giải phóng mà mê như một bài thơ xã hội chủ nghĩa trữ tình. Các vị kể rằng ở dọc Trường Sơn có những rẫy mì đã trở thành rừng không thể nào ăn hết nổi. Vì theo tinh thần xã hội chủ nghĩa thì những kẻ ra Bắc vào Nam ngang qua những rẫy xã hội chủ nghĩa đó cứ tha hồ lấy củ mà ăn, nhưng lấy bao nhiêu phải dọn đất trồng lại bấy nhiêu, lâu ngày chầy tháng ăn không hết, vả lại vì tinh thần xã hội chủ nghĩa quá cao cho nên có những đoàn ăn một trồng lại mười, vì thế rẫy mì thay vì eo hẹp lại giờ mở rộng ra mà … thành rừng.


Nghe thì hay quá, nhưng thực tế đâu phải như vậy.


Thành trỏ vào sọt mì ngao ngán nói:


– Tụi tôi sống bằng toàn cái ngữ này! Thỉnh thoảng mới được cơm trắng. Coi vậy mà ăn nhiều hại lắm! – rồi Thành bảo tôi – Anh ăn bao nhiêu cứ lấy mà ăn.


Nhưng tôi thấy lòng vẫn chua xót khi thấy mình vừa ngồi trên cái đế cối. Càng chua xót khi tôi ngồi trên cái đế cối mà lại trước mặt những nhà chỉ huy quân sự.


– Tại sao anh em mình lại vứt cái đế cối như thế này anh?


– Nó vác không nổi nữa thì nó vứt chứ sao !


– Rồi cái nòng làm sao?


– Kê vô đầu gối mà bắn… khì khì… nói đùa vậy chớ cái nòng nó cũng vứt luôn chớ giữ làm gì?


Thành tiếp:


– Đường dốc đường đèo như thế, sức đâu mà vác? Cái này là đế 82 nặng không dưới 50 kí-lô. Rồi còn ba-lô gạo muối nữa lấy sức đâu mà vác? Anh vào một vài chặng nữa rồi mà xem súng đạn nó vứt đầy hai bên đường. Đi không nổi mà vác sắt khối như thế vác làm sao? Có trượt chân ngã, nòng súng đè gã xương sườn, trật khớp xương sống. Lính Trường Sơn! Chậc! Chết còn sướng hơn!


Tôi đánh Pháp 10 năm chưa lúc nào khổ thế này. Cái khổ nhất là cái mất liên lạc cá nước với đồng bào. Ở ngoài kia quan điểm nhân dân này nọ nói nghe mát bụng lắm …"dễ mười phân không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong." nhưng vào đây, lâu nay đồng chí có gặp người dân nào không? Thế cho nên tụi tôi sửa lại: "dễ 10 phân kêu dần không lại, nặng trăm lần khiêng bại cả lưng!" Ở rừng riết rồi xem thấy khỉ cũng đẹp, và tưởng chừng mình cũng hoá thành khỉ nay mai.


Thành bắt tay tôi mãi không muốn rời. Có lẽ Thành muốn truyền đạt những tình cảm của mình về gia đình qua lời nói và hơi thở của tôi. Thành muốn tôi kể lại cho cha của Thành về Thành với những chi tiết đầy đủ nhất trong buổi gặp gỡ hôm nay.


Rồi chúng tôi chia tay.


(Cho đến hôm nay – 7 năm sau cuộc gặp gỡ đó – tôi mới có dịp viết lại cái ký ức về một chặng đường của Trường Sơn mà nét mặt vàng vọt cùng với giọng nói của Thành không hề phai nhoà trong tôi. Tôi viết những dòng này không phải với mực thường mà với thứ mực khác thường. Tôi mong nếu Thành còn sống và đọc được những dòng này. Tôi đã làm tất cả những gì tôi đã hứa với Thành năm đó, chỉ có một điều tôi không làm được là tôi không tìm thấy Ông Hai Trí và cái bến đò Anh Thạnh của Thành. Hơn mười lăm năm tang thương biến đổi mà lại là một thứ tang thương trong chiến tranh, nó bất ngờ và tàn nhẫn vô cùng, tôi làm sao tìm thấy được một cụ già trong cái biển lửa ngút trời của Miền Nam, tôi làm sao tìm thấy cái bến đò nhỏ bé của Thành với những cái rể cây đã mòn vì những bàn chân bước xuống đò – trong lúc mà đến cả rừng già còn hoá thành bãi trắng.


Có lẽ giờ đây, nếu sau 7 năm chịu đựng ở rừng Lào, Thành còn sống sốt thì Thành cứ nghĩ rằng người bạn đồng hương của Thành đã đi về tới nơi và trao thư của Thành cho gia đình Thành ngày đêm mong đợi Thành về. Riêng tôi thì vô cùng chua xót khi nghĩ về những người lính gốc Miền Nam cứ hằng ngày nhìn thấy người ta nối đuôi nhau đi trên đường về Nam, còn mình thì cứ trấn thủ rừng Lào để "Ủm hộ" cách mạng thế giới đang triển khai trên xứ Vạn Tượng. Hằng vạn thanh niên Miền Nam rũ xương trên đất Lào một cách phí uổng, trong lúc gia đình họ không được một mảnh giấy báo tin.


Thành ơi! không biết giờ nầy anh còn sống hay đã nằm yên trong một cuộc chạm súng vô nghĩa lý nào rồi?


Lá thư của anh tôi vẫn còn giữ đây, tôi đã học thuộc từng chữ, nhớ cả tuồng chữ và chữ ký của anh. Lâu nay gặp ai tôi cũng gợi chuyện để may ra tìm thấy cha anh nhưng tôi không hề thấy có ai, không thấy ai nhắc đến cha anh cả. Gia đình của anh ở đâu làm sao tôi tìm được? Củ khoai mì to tướng của anh đã bồi cho tôi bao nhiêu sinh tố, nhưng còn lá thư của anh thì tôi không biết làm sao gởi đi. Tôi mang nó trong người tôi như một món nợ mà tôi phải trả, như một đau khổ của riêng tôi và của hàng chục vạn người cũng như anh sống trong rừng Lào không phải "đêm Nam ngày Bắc" mà "đêm Nam ngày cũng Nam".)


(xem tiếp tại đây)


Đánh máy: Lê Thy
https://thaithuyvy.wordpress.com/