Monday, July 03, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 6


– 6-

Trời sáng lúc nào tôi cũng không rõ nữa. Tảng nặng bóng đêm đã được bàn tay kỳ diệu của hoá công nhấc đi mà đặt vào chỗ khác không phải trên ngực tôi, để cho trái tim tôi đập thong thả hơn.

Thì tôi biết rằng tôi chưa chết. Cái chết vừa là kẻ thù vừa là bạn thân của tôi, đã đeo đuổi ve vãn rình mò tôi suốt đêm qua. Cuộc sống đối với tôi bây giờ có nghĩa là chịu đựng cái chết dần mòn. Tôi vừa sung sướng lại vừa đau khổ nhận thấy mình còn sống.

Một vật vàng vàng như màu ký-nin pha loãng kia có lẽ là ánh nắng. Tôi còn nhận thấy cả màu xanh của lá cây và những bọt nước dưới chân suối.

Đột nhiên tôi thèm một cái giò gà, không phải là cái giò gà của lão Tào Tháo ban cho Âu Dương Tu mà là cái giò gà thật sự, đã luộc rất mềm trong cháo nấu bằng gạo mới thơm phức.

Chao ôi! Cầm lấy nó mà cạp vừa gặm vừa nhai da nó – vừa dai vừa dòn – nếu có kèm thêm một ít lá rau răm nữa thì ngon tuyệt.

Tôi mới hiểu vì sao anh chàng hồng quân trong truyện "Số Phận Một Con Người" của Cholokhov bị quân Đức bắt làm tù binh đã đưa hai tay nhận lấy một mẩu xương do một tên sĩ quan Đức từ bàn tiệc ném ra và ngoạm lấy, cạp lấy từng mẩu thịt còn sót lại một cách ngấu nghiến.

Tiếng nói chua lòm của cô xướng ngôn viên như một thứ độc dược đã tiếp sức với những ổ vi trùng tàn phá cơ thể và cân não tôi và làm cho chúng cứ mỗi giây nhão ra gấp triệu triệu lần.

Tôi ăn Tết ở Hà Nội cách đây hơn bốn tháng. Tôi ra đi giữa mùa xuân và cho đến bây giờ mùa xuân hãy còn kéo dài. Những ngày qua còn để sót lại trong trí óc tôi một mớ ký ức hỗn độn về những núi đồi rừng rậm, trảng trống, suối sâu, dốc cao, sông rộng, về những chặn đường ghê gớm nhất, kỳ cục nhất, tàn nhẫn nhất, bất ngờ nhất, khó hiểu nhất, đói khát nhất của cả loài người từ tạo thiên lập địa cho tới nay.

Tôi cố ngồi dậy. Cơ thể tôi ruỗng nát như cái bọng của cây bần trong có một con chim cú làm tổ, và thỉnh thoảng báo hung tin cho xóm làng.

Không hiểu bằng cách nào, tôi đã ngồi dậy được. Hai tay tôi nắm hai mép võng run run như con chim đại bàng rả cánh trong bão táp vừa đáp xuống một ngọn cây quá yếu mềm. Nước mưa từ người tôi chảy xuống ròng ròng. Tôi có hay đâu suốt trận mưa đêm qua cái võng kaki của tôi trở thành cái bồn nước ngâm cả người tôi giống như cái bồn chứa nước đá của bác sĩ Tôn Thất Tùng ngâm bệnh nhân cho xuống nhiệt độ trước khi đưa họ lên bàn để giải phẫu tim.

Vâng, trái tim của tôi không cần phải giải phẫu mà cần thay đổi cả trái tim khác.

Chiếc radio không còn kêu nữa. Cô xướng ngôn viên chắc mặc áo hồng vệ binh đi đến nhà Chủ Tịch Lưu Thiếu Kỳ mà tiếp tục tấn công vào nhà ông ta bằng cách mắc hàng trăm chiếc loa phóng thanh chung quanh. (mãi về sau tôi mới đọc thấy chi tiết này trên tờ báo ngoại quốc).

Ở đây là Văn Điển của tôi. Một cái Văn Điển không mộ chí và kéo dài hằng ngàn cây số mà mỗi tấc đất là một lóng xương.

Không hiểu sao tôi không muốn gọi Thu. Có lẽ vì lòng tự ái của một thằng đàn ông, hay vì tôi muốn so gươm với Thần Chết lần cuối cùng. Tôi đã xuống tận bờ suối và ngồi trên một phiến đá. Mặt nước tương đối phẳng lặng. Tôi nhìn xuống thấy đáy nước trong veo, thấy những đàn cá nhỏ lội thảnh thơi, nhưng bất giác tôi đưa tay khuấy nước lia lịa làm nước toé cả vào người tôi.

Tôi ôm mặt kêu lên, kinh hãi. Tôi lặng người ra, hoá đá. Tôi đã nhìn thấy một con ngợm ở dưới đáy nước đang nhìn lại tôi chòng chọc. Con ngợm đó giống hệt như tôi, nó là em tôi hay là anh tôi cũng nên.

Không, nó không là ai khác cả. Nó chính là tôi, chính tôi đã dội chiếu bóng hình xuống đấy.

Chập sau tôi lặng lẽ trở về lều trút nước trong võng ra và không đủ sức để vắt khô võng. Tôi đành nằm vật ra trên chiếc võng ướt với bộ đồ ướt vừa nước mưa vừa nước suối.

Ánh nắng hiện lên một cách hà tiện và dè dặt qua những kẹt cây. Đầu óc tôi tỉnh ra dần.

Tôi căm giận những tên nói dối. Chúng nói dối đã thành nghề. Chúng nói dối đến mức độ không còn phân biệt đâu là thực đâu là giả nữa. Chúng lừa mọi người và sau cùng chúng phỉnh gạt chính bản thân chúng nó.

Nắng lên, làn da tôi âm ấm. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng nhưng ghê ghê rờn rợn. Quả thật cơn sốt dài liên miên trong mấy ngày qua đã làm tôi thay đổi cả sinh lý lẫn tâm lý.

Tôi khẽ đưa tay thọc vào chiếc ba-lô trên đầu võng để lấy ra chiếc gương soi, để xác định lại một lần nữa những gì đã làm tôi kinh hãi lúc tôi nhìn xuống lòng suối lúc nãy.

Tôi khẽ lau chiếc gương tròn vào ngực và nâng nó lên mặt.

Tự nhiên tay tôi rụng rời, tôi đánh rơi chiếc gương con xuống đất. Mắt tôi tối sầm lại. Tai tôi nghe ù ù như có hằng trăm chiếc phi cơ vút qua. Trời đất xoay vần, đất dưới chân tôi như sắp sụp xuống. Gương mặt của tôi mà tôi tưởng không phải là của tôi. Không bao giờ một cái khuôn mặt trước kia như vậy, giờ đây lại hoá ra như thế được. Nhưng đau đớn thay, đó chính là của tôi, cái gương mặt ấy, vì chả lẽ nó là của ai cho được khi mà tôi đưa chiếc gương ngay lên mặt tôi. Nhưng, nếu đó thật là gương mặt của tôi thì làm sao tôi hiểu được?

Điều tôi nghĩ đến trước tiên là sự mong nhớ của cha mẹ tôi. Nếu cha mẹ tôi biết rằng tôi nằm giữa rừng và lâm trọng bệnh như thế này thì cha mẹ tôi sẽ làm gì?

Tôi có thể chết âm thầm, vô danh, vô nghĩa lý, nhưng còn những người sống sẽ nghĩ gì khi biết con cháu mình, chồng cha mình đi giải phóng Miền Nam – sự giải phóng không ai mong đợi – mà lại ra thần hồn đó?

Tôi không có ý định nhặt chiếc gương lên nữa vì nó làm tôi sợ hãi. Nó làm tôi trông thấy rõ gương mặt kỳ dị của tôi, cho tôi thấy rằng chỉ qua một đêm mưa và một cơn sốt, tôi đã bạc hết nửa mái đầu.

Nhưng đây không phải chỉ là một cơn sốt tầm thường, một cơn sốt hơn mọi cơn sốt. Cơn sốt vàng kí-nin; cơn sốt đỏ của những nốt muỗi đốt; cơn sốt của thế kỷ 20; cơn sốt của lòng tin và sự đổ nát; cơn sốt của chủ nghĩa và sự suy đồi trông thấy; cơn sốt của những tượng đá có hồn và cái hồn đó đã vụt bay mấy; cơn sốt của những canh bạc mù quáng; cơn sốt của chủ nghĩa cá nhân và những bài giáo điều; cơn sốt của những con vẹt ăn phải quả dại giờ bỗng nhiên câm mồm; cơn sốt của những bạo chúa khoác áo thánh thần; cơn sốt của những kẻ khố rách áo ôm đang loá mắt vì một cái thiên đường tự vẽ ra trước mắt; cơn sốt của những đứa trẻ con ngây thơ bị lường gạt quá dễ dàng; cơn sốt làm nóng bức cả loài người; cái cơn sốt đã làm nhơ uế không gian bằng một thứ bụi phóng xạ đặc biệt. Một cơn sốt như thế đó đã giáng vào tấm thân còm cõi kiệt sức của tôi.

Tôi bỗng nghe tiếng hớt hãi của Thu:

– Anh ơi! Ghê quá! Eo ơi!

Tôi trông thấy Thu vừa đi vừa bưng kín lấy mặt và lảo đảo bước vào lêu rồi rơi phịch xuống võng.

Tôi hỏi:

– Cái gì mà ghê gớm thế?

– Có một người chết!

Tôi nghe như có một làn gió vút qua gáy tôi. Tôi nghĩ có lẽ một người nào đó chết vì sốt, vì cơn mưa dầm đêm qua, cho nên tôi không hỏi tới nữa vì chết như thế là thường. Thu nằm im một chập rồi lại kêu lên:

– Eo ơi! Em sợ quá!

– Cái gì vậy chớ ?

– Đã bảo là chết mà. Anh thật!

– Chết là hết khổ, thế thôi.

– Nhưng ở đây kỳ cục lắm

Thu lại im một chốc rồi hỏi tôi:

– Đêm qua anh có nghe cây đổ không?

– Anh mê man không nghe gì ráo! – Sự thực thì tôi có nghe nhưng tôi đã quên.

– Em không nghe cây đổ mà sáng ra lại có người chết vì cây đổ. Eo ôi, khiếp quá đi mất!

Tôi nghĩ đến cảnh tượng cái cây đè lên người một anh bạn nào đó. Chết như thế thật là oan, thật là khủng khiếp. Nhưng không phải như vậy.

Thu nói:

– Cái nhánh cây tách ra như một lưỡi kiếm và cắm thẳng đứng xuống… eo ơi! Khiếp!…

Tôi kêu trời và lặng thinh. Còn Thu có lẽ đã vượt qua cơn sợ hãi, cho nên nàng ngồi dậy và kể tiếp một cách tỉ mỉ:

– Cái cây cắm ngay bụng anh ấy như người ta xiên cây lụi qua mình một con nhái và cắm luôn xuống đất. Bây giờ anh ấy bị dính cứng đó không biết làm sao gỡ ra. Kẻ thì bàn phải đào đất rất sâu mới lấy xác anh ta lên mà chôn được, kẻ thì bảo nên đốn ngang nhánh cây đi mà kéo anh ta lên. Cái nào cũng có lý nhưng ở đây không ai có cuốc có dao để có thể làm những việc đó cả.

– Nhánh cây to không? – Tôi hỏi.

– Bằng cây cột!

– Úy trời! Nát làm đôi còn gì?

Thu tiếp:

– Còn một nhánh khác rớt xuống làm đổ tăng của một anh nằm bên cạnh nhưng nó cong như vòng cầu cho nên anh kia không sao cả. Cái phần giữa của nhánh cây vừa chạm anh ta thì hai đầu đã đụng đất, cho nên nó không xuống được nữa. Không chết nhưng hồn vía mất hết.

Khiếp thật!

Sống thì thê thảm mà chết thì khủng khiếp. Sống thì lây lất thiếu thốn, đói khát còn chết thì kỳ cục vậy đó!

Thu bảo:

– Anh đi lại xem một chút đi!

– Làm gì? – Tôi nói – Vấn đề là mình nên rút kinh nghiệm nên mắc võng xa những cây lớn.

Thu nói:

– Em tưởng tượng cái nhánh cây từ trên cao rơi xuống như trời giáng, thế mà rơi trúng mình thì còn gì thân thể. Đi giữa rừng em thấy mình nhỏ bé, bất lực và nhụt hết ý chí nhất là không tự chủ được.

Tôi lặng thinh.

Thu nói đúng và đầy đủ quá về cuộc sống ở rừng.

Nhưng bây giờ tôi phải lo liệu mà đi vì cái thiên chức của tất cả mọi người trên đường này là đi. Với ý thức "chân cứng đá mềm" hẳn hoi chớ đâu có phải chuyện thường.

Cuối cùng tôi nhặt chiếc gương lên rồi cuối cùng tôi cũng bỏ nốt cái ý định không xem mặt tôi nữa – nghĩa là dù sao tôi cũng phải xem lại cho kỹ cái mặt của tôi để biết rõ mình hiện nay ra làm sao. Thật là một điều ghê gớm.

Tôi nghiêng đầu ra mép võng, tóc tôi rũ theo cái cử động ấy, chiếc gương đang nằm dưới đất tròn trịa in hình một lõm trời tròn. Nhưng cái lõm trời ấy bị tôi áng mất ngay.

Khổ cho tôi, tôi phải trông thấy mặt tôi, mình trông thấy mặt mình mà phải khổ. Trên đời nầy có ai từng biết cái nỗi khổ đó như tôi không?

Loáng thoáng tôi trông thấy gương mặt tôi hay gương mặt nào hao hao giống tôi chẳng hạn. Tôi phải thu hết những mẩu can đảm rơi rớt còn lại của tôi để nhặt chiếc gương lên.

Tôi nghi ngờ sự phản ảnh trung thực của chiếc gương. Tôi lau nó vào ngực rồi đưa lên mắt. Tôi lại lau khô nó lại lần nữa, lần này thì lâu hơn, tôi lại đưa chiếc gương lên mắt. Dù tôi đã biết trước mặt mũi của tôi mà tôi vẫn cứ ngạc nhiên như thường.

Than ôi! Tiếng kêu than thầm lặng đau đớn thống thiết từ trong thâm tâm tôi nhưng chẳng ai nghe thấy cho ở giữa chốn rừng sâu hoang dại này. Tôi không muốn kêu to lên, tôi chỉ muốn dìm nó xuống để mà lắng nghe mọi nỗi đắng cay chua chát.

Hồi bắt đầu ra đi, tôi cân đúng 73 kí lô, nay không còn bao nhiêu. Khi xưa, tôi đi nặng phục phịch, anh em bảo "như vịt xiêm", bây giờ thì cũng nặng nề nhưng không phục phịch nữa, mà nhẹ nhỏm như một cái que tre. Tôi không đánh rơi chiếc gương nữa mà tôi muốn nhìn mãi vào gương mặt tôi. Buồn thật!

Giá như cha mẹ tôi ở Miền Nam biết tôi ra thân thể này thì với giá nào ông bà cũng đem tôi về, về nhà hay về đâu cũng được, miễn là rời khỏi con đường danh tiếng này.

Tôi không hiểu vì sao tôi gầy nhanh đến thế. Mặt mũi hốc hác hơn cả mặt người ốm liệt giường. Tóc bù xù, rối nùi như tổ quạ dài xuống phủ kín cả mép tai. Ở đây không có cái gì cả, chỉ có một cái thừa thải: đó là sự vô lý. Tôi thấy có sự vô lý đã đi đến mức cùng cực của nó, không còn ai có thể giải thích được nữa, không có cái gì vô lý hơn nữa.

Tôi thấy thương thân, tủi phận và oán ghét đủ thứ trên đời, nhất là oán ghét những thằng hiện đang phè phỡn ô-tô, nhà lầu, luôn luôn chủ trương đánh nhau (bằng tay người khác) nhưng đến tiếng súng cũng không nghe thấy, đừng nói chi cầm súng. Con cháu họ thì đứa đi Nga, đứa đi Tàu – đi học để sau này về làm cha thiên hạ. Còn lũ con cái bần cố nông thì cứ lùa vào con đường vinh quang này, như người ta ném những que củi vào lò lửa không thương tiếc.

Tôi cũng từng biết hoàn cảnh vui vui của một bà già được mệnh danh là đồng chí cách mạng 30-40 chi đó. Mụ này thấy không có chồng mà lại có 2 con: một con gái hư hỏng nát bét cả Hà Nội ai cũng rõ, dắt trai vào nhà ăn bồ câu hầm với Cao Ly sâm như người ta hầm với củ cải. Còn một thằng con trai thì chán ghét cái cảnh giàu sang bất chính của gia đình, nên đang đi học lại đùng đùng xin về Nam chiến đấu.

Bà mẹ anh ta nghe tin con xung phong cảm tử như vậy, thay vì mừng rỡ hoan hô vì chính bà ta là một cán bộ rất cao cấp và lại là người Miền Nam nữa, nhưng bà ta lại rất đau khổ. Bà không biết nói với ai. Bà ta muốn ngăn đứa co mình lại, nhưng làm sao ngăn nó trong khi bà ta đang hô hào cho ai nấy cùng thi hành chủ trương "giải phóng Miền Nam" của Đảng? Mẹ bảo con chuyện gì cũng có thể được cả nhưng còn việc này thì bảo làm sao? Con nó sẽ phản đối. Mà nó có đầy đủ lý do để phản đối thì mới trả lời với nó làm sao?

Bà ta cũng thông minh. Bà ta chạy lên nhờ một ông lãnh tụ có uy tín hơn bà, gọi con bà tới và đem cái sự du học Đức-Tàu-Nga mà nhử nó. Bà ta lại đem thêm những gian nan chết chóc của chiến trường Miền Nam ra nói cho nó nghe để làm sự tương phản với cuộc sống nhung lụa của một du học sinh. Nhưng tội thay, con bà là một đứa trung thành với chánh sách của Đảng, nhưng đối với bà nó lại là một đứa con ngỗ nghịch. Nó đã bỏ bà, quảy ba lô mà gia nhập Trường Sơn để đi giải phóng Miền Nam. Nhưng than ôi, mặc dù trong ba-lô của cậu con cưng đó có hằng kí lô sâm Cao Ly củ nào của ấy to bằng củ cải, cậu ta vẫn chết bằng cơn sốt ác tính.

Chuyện đó đã xảy ra cách đây vài tháng ở quãng đường tôi đang nằm.

(xem tiếp tại https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/10/28/dường-di-khong-dến-7/)

Đánh máy: Lê Thy

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/10/26/d%c6%b0%e1%bb%9dng-di-khong-d%e1%ba%bfn-6/

Saturday, July 01, 2023

Xuân Vũ- Đường Đi Không Đến – 5

26/10/2009 — Lê Thy
- 5 -
Bây giờ là tháng năm, con én ở vùng rừng núi nầy không thấy đưa thoi dệt mộng cho ai cả bởi vì màu trời thâm thấp chì chì như cái bát xám ngắt úp lên trên đầu chúng tôi, lúc nào cũng cho chúng tôi cái cảm giác là trời sắp tuôn xuống những trận mưa tràn trề ngập lụt.

Cơn sốt vẫn kéo dài. Lỗ chân lông của tôi hở ra hút nước vào làm cho thân thể tôi giống như một cục cơm mắc mưa vậy.  Tôi cũng không còn biết so sánh thân thể tôi với cái gì cho đúng. Tôi chỉ cảm thấy nó sắp rả ra từng mảng một.

 Như vậy là tôi ngã sốt vào những ngày cuối xuân 1966, một cái năm còn đầy những dư âm của các trận Bình Giả, Đồng Xoài, Pleime… , cái năm đầy sự kiện lịch sử của nước ta, vào những ngày tôi hy vọng sẽ được  nhìn thấy lại quê hương và gia đình tôi trên mặt đất.

Cơn sốt đang hoành hoành tôi vô kể. Trong tôi mùa xuân đang chống lại cơn sốt, còn cơn sốt thì muốn vươn tới tràn ngập mùa xuân.  Cuộc vật lộn của những "kẻ ngoại lai" đó làm cho tôi rã rời tứ chi.

Đêm qua tôi  nằm giữa mưa.  Các bạn ơi, ai đã đi rừng đi núi, hãy cùng tôi nhớ lại những đêm mưa rừng.  Chao ơi! Mưa gì mưa thế, mưa nặng hạt, mưa mau, mưa dai dẳng, mưa mịt mùng. Giữa một cái trời mưa như vậy mà con người nằm im chịu dưới một cái tăng bốn bề gió táp. Mưa tạt hết hướng nầy đến hướng khác. Có bao giờ giọt mưa rơi thẳng góc xuống nóc tăng cho mình nhờ. Bao giờ nó cũng rơi xiên, rơi xéo lọt vào màn, vào võng mình.  Cho nên tấm tăng căng trên đầu mình cũng chỉ là một mái nhà tượng trưng, một thứ vinh quang cụ thể của cấp trên ban cho mình mà dù muốn dù không mình cũng phải hưởng (!).

May sao tôi còn một người bạn, ngoài Thu.  Người  nầy cũng nằm một võng với tôi, không  nói những  lời tâm sự mà những  câu lập trường, những câu hứa hẹn chiến thắng ngày mai.

Thật khó mà tưởng tượng được rằng tôi đã trải qua những cơn mưa như vậy. Mưa vây kín cả người tôi rớt vào ngực và mặt tôi những giọt băng giá và vào tâm tư tôi những đau buồn vô hạn. Cây trên rừng bắt đầu gãy đổ rắc rắc ầm ầm quanh tôi không ngớt.  Tôi lại bị cái tai nạn trời giáng đó đe dọa. Tôi phải dựng cả cái thính giác tôi dậy để lắng nghe để đối phó hoặc để trốn thoát nếu tôi cảm thấy trời giáng xuống cái con người bất hạnh của tôi.

Tôi nhìn ra trời.  Thấy gì đâu, một màu đen dày đặc như một bức tường sơn hắc ín dựng ngay trước mũi tôi.  Suối bắt đầu tràn nước đổ ầm ầm dưới chân tôi. Tôi không trông thấy nhưng tôi biết ở trên tảng đá mà anh em thường tới đó múc nước hoặc giặt giũ, nước đang cuộn lên trắng xoá.

Tôi thấy tôi bé lại như một hạt mưa rơi xuống từ vô tận, vỡ ra và trôi theo cái dòng nước sôi ấy. Và đời tôi đâu còn biết bám tựa vào đâu nữa.

Người bạn của tôi như muốn uốn nắn lập trường tư tưởng của tôi đã không ngớt nói với tôi: "Các đồng chí là những người yêu quí của Miền Nam, đi giải phóng Miền Nam khỏi sự áp bức bốc lột của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng là chính quyền Saigon. Các đồng chí mang trên vai sứ mạng vĩ đại của dân tộc.  Chiến thắng đã ló dạng kia rồi!" 

Từ lâu tôi không  còn thích nghe những lời na ná như vậy nữa.  Tôi cũng không còn suy nghĩ theo cái Kim Chỉ Nam đó nữa.  Tôi đã nghĩ theo cái sự thông minh mà cha mẹ tôi đã cho tôi, chớ không phải là kẻ nào khác, dù kẻ đó nó là ai đi nữa.

Người bạn này, tôi mang theo cũng là một sự bất đắc dĩ, bởi vì không ai muốn đeo trên lưng, vác y trên vai, hoặc đèo y bên hông mình nữa.  Tất cả đều chán chê y cho nên y mới còn ở lại đây mà làm bạn với thằng bất đắc chí này.

Nói vậy nhưng cũng có nhiều lúc y cho tôi những lời an ủi, những tiếng tơ lòng khá êm dịu.  Chính vì thế, chính vì có những khi y nói khác hẳn tiếng nói của Đảng mà tôi còn giữ y lại bên người tôi cho đến ngày hôm nay.

Hay tôi cứ nói quách ra rằng đó là cái ra-đi-ô  "ết-tăng-đa" mà nhà trường đã phát cho chúng tôi trước khi lên đường.  Một cái ra-đi-ô trăng-si-to như vậy ở Hà Nội đâu có phải dễ kiếm. Ít ra anh phải đi ngoại quốc và với mọi sự khéo léo luồn lọt thì anh mới mang nó nhập nội miền Bắc được.

Ấy vậy mà nằm trong tay tôi giờ đây, chưa chắc tôi sẽ giữ nó đến ngày mai.  Cái bộ pin Văn Điển trong ruột nó hầu như đã hết điện, cũng như những con người đi tới đây thì hết sinh lực vậy.

Hai tiếng Văn Điển đến với tôi trong lúc này thật là điều không hay ho chút nào.  Bởi nó gợi lên cho tôi cái tên của  một bãi tha ma: nghĩa trang Văn Điển.

Cái khí lạnh của Trường Sơn cùng với cái khí âm của nghĩa trang Văn Điển đè nặng, vây riết lấy tôi.

Hiện lên trước mặt tôi hàng ngàn ngôi mộ với những tấm  mộ bia cái thấp cái cao, cái mới cái cũ, cái xanh cái vàng.  Đó là nơi gửi xương thịt của một số cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc.

Ngoài đó những người bệnh tật hoặc có tuổi hết mong ngày về xứ thường than thở với bạn bè :-"Chắc tao phải ở lại Văn Điển rồi!"

Tôi thì tôi không phải ở lại Văn Điển nhưng tránh khỏi cái Văn Điển của Hà Nội, tôi lại phải nhìn thấy cái Văn Điển của Trường Sơn, cái thứ Văn Điển không có mộ bia và không có khói hương trống kèn . Hay nói đúng ra Trường Sơn giờ đây đã trở thành một Văn Điển kéo lê thê hằng ngàn cây số.

Chao ôi! Trong một cơn mưa mả nảy lên trong tôi bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu dằn vặt.  Bất giác tôi nghĩ đến chiếc xe tang với những nét sầu tủi của Huy Cận : "… thì ngựa ơi đi nhịp đầm chó nhảy, kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời.  Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi…" Chập chờn trước mắt tôi một cái đám ma …

Nghĩa là người chết được nhiều người đưa đi tới phần mộ, cũng có những người đi nửa chừng rồi trở lại.

Còn tôi, nếu tôi nhắm mắt lịm luôn giữa cơn mưa này thì ai hay? Ai đưa? Ai quay lại và đưa tôi về đâu ? Cái nơi tôi muốn đến thì ngoài tôi ra không ai đưa tôi đến được, còn cái nơi tôi đến được lại là cái nơi tôi không muốn đến.  Chết đi giữa lúc trong lòng còn mang nặng bao nhiêu hoài bảo về quê hương, về sự nghiệp thì xót xa quá.

– Chắc thằng này chết !

Câu đó lại văng vẳng bên tai tôi như một sự đánh giá xác thực vô cùng về bệnh trạng của tôi.  Trời mưa ghê quá, đang khi tôi thèm nắng ấm, thèm nhìn thấy mấy con gà mổ lúa trên sân, những chú gà con liu chiu lít chit bên mẹ, thì tôi lại phải chịu đựng một cơn mưa dai dẳng nhất vào một đêm dài nhất của đời tôi.

Không biết tôi vặn đài hồi nào mà tiếng nói từ trong loa cứ rì rì, tiếng của người con gái cố hò hét, nhưng đã mõn hơi, giống như một tiếng nói thoát ra từ một nấm mộ hoang đâu đây.  Tiếng nói là dấu hiệu của sự sống nhưng ở đây nó lại làm cho tôi nghe cái chết đến càng gần hơn.

Tôi nằm trên chiếc võng kaki dày cộp như da trâu này ngày đêm không lúc nào khô ráo vì trời cứ mưa lê thê, mưa rất to.  Sốt mà nằm trên chiếc võng như vậy có lẽ không nên thuốc gì, nhưng nếu tôi không nằm ở đó thì tôi nằm ở đâu? Không thể có nơi nào khác cho tôi nằm cả. Cho nên tôi phải nằm trên cái võng ướt đó mà thôi.

Thu đã dời võng nàng lại gần tôi, hai cái võng song song nhau.  Khi tôi tỉnh ra nàng kể lại rằng có lần tôi mê sảng bò xuống  bờ suối mà uống nước rồi nằm gục trên bờ suối đó.  Nếu nàng không trông thấy thì không hiểu tôi sẽ ra sao? Chính ra cũng không phải nàng trông thấy mà một gã nào đó trông thấy và gọi nàng ra.  Không biết làm sao mà Thu dìu tôi lên được với cặp chân bất đồng của nàng? Gã nào đó trông thấy tôi nằm đó cũng không buồn ngó tới.  Cuộc đời ở đây đã đi đến sự vô lý cùng tột.

Tại sao sốt mãi mà không cắt được cữ sốt ?

Tại sao phải ăn lạt hằng tháng trời, không có tí muối ? Anh phấn đấu muốn đi, anh không thể đi nổi.  Đó là chưa nói tới chứng bệnh phù thũng mù loà đến với anh.  Nhiều người đã trở thành quáng manh, chỉ cần có vài viên dầu cá thì mắt sáng lại, nhiều người thũng chỉ cần vài chục viên sinh tố là khỏi ngay.  Thế mà không có.  Không có thật tình.

Sự hy sinh là một điều cao quý.  Đến một mức độ mà con người còn chấp nhận thì nó còn là một sự cao quý nhưng một khi bắt buộc người ta  phải chịu đựng quá sức thì nó trở thành một sự dã man.

Nằm giữa mưa, giữa đêm dày đặc như vậy mà nghe một bài xã  luận của đài Bắc Kinh như tôi vừa nói trên kia thì cả một sự đại bất hạnh cho một anh cán bộ giải phóng.  Tôi đâu có muốn nghe, nhưng từng tiếng nói của cô xướng ngôn viên cứ rơi vào màng tai tôi như những hạt sỏi rơi trên mặt trống căng thẳng.  Những tiếng dội của nó bốc lên tận não cân của tôi vốn đã vàng úa vì kí-nin làm cho nó phải suy nghĩ-  những sự suy nghĩ bắt nguồn từ bài chửi trên đây, những sự suy nghĩ vơ vẩn lẩn quẩn, cùng quẫn, miên man không dứt mạch , không có câu giải đáp.

Mưa vẫn rơi.  Những hạt mưa nặng tâm tư rơi trên nóc tăng lộp độp rào rào không át nổi tiếng nói ri rỉ từ đài phát thanh Bắc Kinh do cái ra-đi-ô này truyền lại cho tôi.

Con suối từ chân tôi cứ tràn trề. Nước đổ ầm ầm.  Những thân cây từ trên nguồn cuốn phăng phăng theo nước chảy xuống tìm lối thoát va vào những gộp đá làm nên những tiếng động kinh hồn.  Nước như bị chặn lại ở quảng hẹp nên nó gào lên như sôi, như giận.

Giận ai hỡi suối ngàn? Từ nguồn, mi lao xuống như một thằng điên, thằng dại. Lao đầu vào tất cả nhưng không vỡ sọ nát đầu, mi vẫn còn sống nhăn ra với những nụ cười trắng xoá, kiêu ngạo khinh đời.  Mi giận nỗi gì, mi ức nỗi gì? Chẳng những người ta xua mi đi trên con đường thiên lý này mà chính mi cũng tự nguyện tự hào vì đi theo tiếng gọi thiêng liêng.  Sinh lực của mi bồi đắp da thịt cho cỏ cây, cho cả người và vật, làm vinh thân phì gia hàng nghìn kẻ cao sang quyền quý. 

Khi mình còn tràn trề sinh lực hữu ích cho đời thì thiên hạ đến với mi, quỳ gối bên mi mà uống lấy, mà múc lấy nguồn sống của mi ban phát cho họ với lòng quảng đại vô biên. Và chính  họ cũng không cần biết ơn kẻ đã làm lợi cho họ vì họ luôn luôn nghĩ rằng Trời sinh mi ra để làm lợi cho họ mà thôi. Nhưng đến khi sức mi đã cùng, lực mi đã kiệt thì chẳng ai còn nói tới mi nữa. Họ dẫm trên người mi, không hề biết đây chính là kẻ làm giàu cho họ, vun bồi cho cái ghế của họ lên cao chót vót.  Mà đúng vậy, họ đến với mi làm gì khi mà họ không còn hút của mi một chút sinh lực nào nữa? Vì vậy suối ơi! Khi mi còn thanh xuân, còn tràn trề sinh lực thì đừng phung phí nó, đừng có bốc tếu, đừng có dễ nghe lời.  Người đời lợi dụng vô cùng.  Maxime Gorki đã từng nói: "Vinh quang thay con người! Hai tiếng nghe vang vang kiêu hãnh…." Nhưng cũng chính ông ta đã viết rách toạc cả mặt giấy trắng: "… Chó đểu là con người!" Người ta biết tính vui bộc lộ sôi nổi của mi.  Người ta chỉ dí một phát điện vào cái lòng "tự hào" của mi thì mi ào ào tuôn ra tất cả lưu lượng của mi không chừa lấy một giọt để nuôi thân.  Rồi một ngày kia khi đã dốc cạn cả sức trai ra rồi thì mi chỉ còn là bộ xương rắn chết khô ngoằn ngoèo ở giữa sườn dốc chân núi trước những con mắt lạnh nhạt ngó nhìn.

Tôi nghĩ miên man vô bổ và phản động quá nữa là đằng khác nhưng tôi không thể bắt tôi dừng – nhất là trong một đêm mưa cô đơn mà hai lỗ tai phải hứng đầy những tiếng chửi.  Chửi nhau, điều đó đâu có gì hấp dẫn, nhưng những lời qua tiếng lại động đến trái tim tôi,  một trái tim đã tím bầm vì bị nhồi nặn, dằn vặt, ê chề chỉ còn lại một tí mảnh tươi hồng để nuôi sống cái cơ thể tàn rụi của tôi.

Nhưng giờ đây cái mảnh hồng huyết cầu ấy cũng đã bị đám siêu vi trùng nuốt phăng đi vào cái dạ dày trăm túi của chúng.  Những hạt mưa to rơi lộp độp trên nóc tăng làm cho tôi có cảm giác đó là những tràng bom B52, mà tới đây may phước cho tôi chưa được nếm lần nào.

Nhưng  Lạy Chúa tôi, không có tràng bom nào ác liệt hơn những lời chửi rủa hằn học của cô xướng ngôn viên đài Bắc Kinh.  Cô ta đang thay mặt cho hàng chục triệu đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Hoa nói tiếng nói Mao Chủ Tịch, kết tội Chủ Tịch Lưu Thế Kỳ – một người có 50 tuổi đảng giờ đây trở thành tên phản đảng.  Thật khó hiểu hơn cả những chuyện Tào Mạnh Đức thích khách Đổng Trác, chuyện Bàng Quyên chặt chân Tôn Tẩn và chuyện Ravaillac ám sát Heri IV.

Ở thế giới Tư Bản, và ở thế giới Cộng Sản cũng vậy thôi: chuyện gì  mà không có thể xảy ra?

Và  rồi dần dần người ta cũng hiểu.  Cũng như 10 năm trước đây Mao Trạch Đông và Krouchev choảng nhau, tốn hao đến hằng tấn nước bọt, rồi tốn hằng suối lệ và máu.  Chuyện đó làm kinh ngạc năm châu một thời nhưng bây giờ thì nó có còn làm ai chú ý nữa đâu.  Sự đời hễ thiêng liêng hoá quá rồi ra sẽ trở thành hèn kém quá.  Nên giữ con người ở vị trí của loài vật hai chân mà thôi.  Thật là một điều mong muốn Voltaire nói, được đi bằng bốn chân.
(xem tiếp tại đây)
Đánh máy: Lê Thy 

https://web.archive.org/web/20230701023425/https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/10/26/d%C6%B0%E1%BB%9Dng-di-khong-d%E1%BA%BFn-5/

XUÂN VŨ - MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG – 6


Bận rộn chuyện gì chẳng ra chuyện gì, nhưng cuối cùng rồi cũng hết một ngày. Lúc gần tối, thì từ ngoài giao liên dẫn tới một đoàn rất đông, gồm đủ các hạng quân dân chánh.

Bây giờ chúng tôi mới nôn nao nghĩ tới việc đi. Chậm mất một ngày rồi. Trừ Núi ra, tất cả đều có thể đi. Phải đi dù thế nào thì cũng gần với quê hương hơn.

Ngữ nói với tôi bằng một giọng đầy nước mắt:

– Các anh và Thu cứ đi đi, để em ở
Lại với Núi, nếu nó cố mệnh hệ nào thì cũng có em bên cạnh, như vậy nó đỡ tủi thân. Còn Trời Phật mà phù hộ nó khỏe lên được thì em sẽ dìu nó đi dần tới đâu hay tới đó. Luật lệ của đường dây là chỉ đưa người vào không cho người ra, mình không thể cưỡng lại được.

Tôi nói :

– Đã đành là các anh phải đi rồi, nhưng trong lòng thấy nó kỳ cục thế nào ấy cậu ạ !

– Thì cũng như lần trước, anh ốm nằm lại chúng em cũng cứ đi đó thì sao? Đó là ý định của ở trên mà. Ai bịnh cứ nằm lại, ai khỏe cứ việc đi. Cách mạng Miền Nam đang chờ mình như chờ nước uống !

Thế là chúng tôi dứt khoát chia tay. Tôi và Hoàng, Thu sửa soạn để mai lên đường. Thu lúc nào cũng nhăn nhó với cái chân đau. Nàng tìm một cây gậy thật chắc, Hoàng thì lo băng đầu gối như cầu thủ bóng tròn trước khi ra sân cỏ. Riêng tôi thì không cần gậy, còn cái bao tử loét thì không thể băng bó gì được cứ để thế mà đi, được khúc nào hay khúc ấy. Chừng nào mửa ra máu cục thì cách mạng cho nghỉ ngơi.

Trong đoàn mới vào tôi nhận thấy có một tốp rất phân biệt với mọi người. Tốp này độ chừng một tiểu đội, nhưng những chiến sĩ thì mang rất nhiều máy móc khác hẳn với bộ đội thường. Khi đi xuống suối lấy nước, tôi nghe toán chiến sĩ xầm xì với nhau thì tôi biết đây là đội bảo vệ cho một ông kẹ. Nhưng không biết ông kẹ đó tên gì. Lượt trở lên, khi đi ngang chỗ họ đóng, tôi giả vờ đánh rơi gà mèn nước và ngồi xuống, tay nhặt gà mèn mắt ngó vào cái võng mà tôi ngờ là ông kẹ đang nằm. Quả nhiên tiếng gà men rơi lầm ông ta giật mình ngóc đầu dậy nhìn ra. Tôi nhận ra ngay ông ta.

Tưởng ai lạ. Một bộ mặt sắt có dấu bấm như vết móp trên chiếc hộp lon chứ không phải cái sẹo. Ông ta nhìn người bằng cặp mắt lúc nào cũng trợn lên trắng dã như muốn nuốt sống đối tượng. Nếu trên sân khấu cần một vai tướng cướp thì cứ đưa y phục cho ông ta, còn mặt mũi thì khỏi cần vẽ nanh hoặc đeo râu thêm. Một số cán bộ rất sợ ông ta, nhưng ngược lại một số khác thì lại coi ông ta là một tên chăn bò đắc thời được một bàn tay quyền lực bốc lên ngồi ghế cao và trao cho cây gậy chỉ huy ba quân với cái ga-lông bốn sao và nhành dương liễu rũ.

Tôi đã từng nghe ông ta nói chuyện nhiều lần. Lần sau cùng tại Viện Văn học -cũng còn được nghệ sĩ gọi là Sở Mạ Kền- của bà già trầu móm Hoài Thanh. Hoài Thanh cũng có một bộ mặt móp một bên như ông kẹ này. Lần đó ông kẹ đập thêm vài búa vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm vốn đã bẹp dí dưới sức đè của đảng rồi – như những "nhát ân huệ."

Ông ta nói rổn rảng, múa tay tít thò lò, nhưng nghệ sĩ che tay cười nhếch mép khi ông ta tuyên bố.

– Dù phải chống Mỹ năm năm, mười năm, hai mươi năm hay một triệu năm chúng ta cũng chống tới cùng.

Một triệu năm ? Sau khi tan buổi họp, Nguyễn Tuân và tôi đạp xe song song trên đường Phan Thanh Giản, ông hỏi tôi:

– Anh có nghe gì không?

– Dạ nghe gì ạ?

– Chống Mỹ một triệu năm ! Anh không nghe à?

– Dạ, tôi có nghe.

– Anh nghĩ thế nào về "cái một triệu năm đó?

– Dạ tôi không nghĩ thế nào cả.

– Rõ một khái niệm kỳ quặc về con số! Tôi chưa nghe ai nói như vậy bao giờ.

– Tôi cũng thế. Đây là lần đầu tiên.

Cái ông mặt sắt kia coi nghệ sĩ như rác. Và nghệ sĩ cũng coi ông ta không như gì cả. Ông ta hò hét thì to nhưng sau khi ông dứt lời thì người ta chẳng biết ông muốn nói gì. Bây giờ ông lại vô đây chắc hẳn là đi giải phóng Miền Nam rồi. Bỏ mẹ Miền Nam rồi. Bỏ mẹ Miền Nam rồi. Hợp tác xã là cái chắc!

Tôi chợt nghĩ ngay như thế khi tôi nhác thấy bộ mặt sắt kia. Tôi nhặt chiếc gà mèn trở xuống suốì múc nước rồi trở về chỗ cũ. Tôi đến rỉ tai Hoàng, Hoàng cười:

– Dân Nam kỳ mình chuyên môn gậm cùi bắp mà cứ tưởng nhân sâm.

– Thằng cha Tài Lé (tức Sơn Nam) nói Nam kỳ là thuộc địa của Bắc kỳ, đúng vô cùng. Đúng từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam.

– Ông ta mà vô trỏng thì hợp tác xã, chỉnh huấn, lập trường giai cấp là gốc rồi. Hồi tao ở Bưngari mới về, tao có đọc bài "Cây đa bến cũ con đò khác đưa" của ông.

– Ừ, lúc đó ổng đang phụ trách Trưởng ban Nông thôn của Trung ương đảng. Do đó ông cỡi ngựa xem hoa các hợp tác xã hàng mã một vòng rồi về nói cho thư ký viết phứa ra bài đó.

– Văn chương hay ra phết đấy chứ nhi ?

– Văn chương mà nói làm chi. Lập trường kia mới đáng kể. Bọn nhà văn chúng tôi phải lấy bài đó ra làm phương hướng sáng tác đấy. Bên Hội Nhạc sĩ của ông gặm không vô phải không?

– Ai thì tao không biết, chứ tao rặn không ra nốt nào cho hợp tác xã cả !

– Nói đùa cho vui, chứ thực tình là tôi nghĩ đến số phận của Miền Nam qua câu nói bất hủ của Tài "lé". Anh chàng này chỉ có một khuyết điểm là cặp mắt lé. Nhưng dù "lé," Tài vẫn nhìn sự vật rất chính xác.

Ông kẹ mặt sắt này làm cho tôi nhớ câu nói của Tài. Nó đã được chứng minh từ hồi kháng chiến. Nam Bộ là miếng thịt bít tết tươi roi rói mà đám Bắc kỳ từ Trung ương vào là một lũ kên kên, chúng chia nhau không dành cho dân địa phương một thẻo nhỏ.

Ra Bắc cũng thế. Thằng Bí thư tỉnh ủy ngoài Bắc trong kháng chiến thì hòa bình được vô Trung ương, ngược lại thằng Bí thư của Thành Đồng Tổ Quốc nghe lời cụ Hồ dụ dỗ đi tập kết hai năm về, thì nay đã mười năm mới trốn chui trốn nhũi như ăn trộm trở lại quê hương. Mười năm trên đất Bắc thằng Tỉnh ủy đi cạo muối, nhà cửa thì ga-ra tư sản. Ông Chủ tịch tỉnh tôi ở một cái ga ra tệ hơn cả chuồng heo. Bây giờ Nam kỳ lại bị "Bắc kỳ thuộc" lần thứ hai. Người cầm cán cho hai lần Bắc thuộc này chính là cụ Hồ. Dân Nam kỳ hận tràn lòng, đau như hoạn, nhưng lỡ tin nên mắc, gái Nam ngồi phải cọc Bắc, không dám kêu.

Sáng hôm sau hành quân. Giao liên Phẩm ra địa điểm đóng quân sớm lắm. Cậu ta cũng "đả thông" cho khách những điều cần thiết rồi bắt đầu dắt đoàn người đi.

Tôi đến sờ trán thằng Núi, thấy nó bớt sốt, nhưng vẫn mê man. Không biết ở trên đưa một anh chàng học vẽ chưa ra họa sĩ như thế này vô Nam để làm cái giống gì? Nhìn qua nét vẽ của anh ta, tôi thấy anh ta cần phải học ít nhất là ba năm nữa mới vẽ đúng hình khối và anatomy. Rủi nó chết ở đây, ai khổ ai đau chứ Trung ương đâu có đau khổ chút nào. Hơn nữa Trung ương đâu có biết tới.

Chúng tôi được đi sát với giao liên nghĩa là đi đầu đoàn. Nhưng vì Thu đi chậm nên bị lính kêu, Phẩm lại đẩy chúng tôi xuống khúc giữa. Đến lúc nghỉ trưa, cũng do yêu cầu cửa lính, đám dân chánh chúng tôi lại bị cho xách đèn đỏ bọc hậu, nhưng rồi vẫn cứ rơi dần lại phía sau. Con nhà lính còn cực khỏe đi vượt lên phía trước hết cả.

Người dẫn đầu của toán sau cùng là tôi. Người đi sau cùng của toán sau cùng là Thu. Người đi giữa cố nhiên là nhạc sĩ họ Hoàng. Thỉnh thoảng nhà nhạc sĩ dừng lại gục trên đầu gậy (tôi phải dừng lại chờ) quắc mắt về phía trước càu nhàu:

– Mày hỏi chuyền dùm thằng Phẩm xem nó dẫn có lạc đường không mậy ?

– Đường gì mà lạc. Nó đi hàng ngày mà!

– Đường gì kỳ cục thế này chứ. Không bước được một bước trên mặt đất bằng !

– Đường giải phóng miền Nam chớ đường gì mà ky cục! Đây Trường Sơn vinh quang mà!

– Đường gì đi hoài không đến. Vinh gì mà vinh?

– Vì nó là đường đi không đến ! Vinh thì có vinh nhưng nó không đến vẫn không đến.

Nói pha trò vần lân một chút vậy rồi đi tới nữa. Cái điệp khúc này nhà nhạc sĩ cứ lặp đi lặp lại với giọng tenor.

Bỗng được lệnh của giao liên truyền lại: "Nghỉ mười phút."

Hoàng ném cái gậy ngồi phệch xuống đất ngay tựa lưng vào chiếc ba lô soải hai chân ra thở phào:

– Tưởng mày quên cho nghỉ chớ!

– Uống nước uống non đi cha nội, ở đó mà càu nhàu. Nó lại bắt đi nữa bây giờ!

Tôi quay lại Thu:

– Thu này, em có thấy cái ông mặt sắt đi ở giữa đoàn không ?

– Không, ủa mà có, cái ông môi thâm sịt đầu vuông như tảng đá kê cột nhà phải không?

– Ừ chính là ông kẹ đấy !

– Để làm gì?

– Em có muốn xin về Hà Nội thì xin ông ấy ngay bây giờ đi!

– Thôi đi anh đừng có đùa ! – Thu hơi cáu.

– Anh nói thật mà. Ông mà đồng ý là giao liên phải kiệu em ra Hà Nội đấy.

Từ ngày thằng Hồng trốn mất, Thu không còn tí hy vọng gì quay lại nữa, nên đành phải "đi giải phóng Miền Nam… cùng quyết tiến bước" vậy.

Hoàng tợp ngụm nước rồi nói:

– Vô tới trạm trong anh Bảy sẽ nấu mẻ cao khỉ cho lem gái tẩm chân là trèo núi như thần thôi.

– Anh có mang theo đó à ?

– Tao nhất định thắng lợi mà !

Lệnh giao liên truyền xuống:

– Tiếp tục đi. Còn một chặng ngắn tới trạm. (Đây chỉ là lối động viên của giao liên thôi. Một chặng của họ là vô tận. Có khi lội hộc máu cũng chưa tới

– Lệnh nghỉ vừa truyền xong thì lại có lệnh đi !- Hoàng nhạc sĩ quát với cặp mắt nảy lửa- Nghỉ chưa hết thúi cái đít thì bắt đi ! Thằng phải gió mày có khùng không hả?

Tuy giận dữ như vậy nhưng họ Hoàng vẫn gượng chỏi gậy đứng đậy lụm cụm di theo. Được một quãng tôi bị "đút đuôi," đoàn đã bỏ tôi xa lắc, tôi quay lại thì họ Hoàng cách tôi một quãng khá xa và không thấy Thu đâu nữa. Tôi đứng chờ Hoàng tới và hỏi:

– Thu đâu ?

– Còn múa Hồ Thiên Nga ở đằng sau. Mày là Hoàng tử trở lại rước.

– Hồi mới xuất phát giao liên bảo cố nhiều đường mòn "ngánh" coi chừng lạc, mình lớ quớ bị lạc cho coi.

– Mày trở lại rước nó đi !

– Khổ quá! – Tôi ngóng phía trước: Đoàn đi mất hút, không chờ. Nhìn phía sau: Không thấy Thu. Tôi bèn tụt ba lô ném xuống đất bảo:

– Anh ngồi đây chờ.

– Ừ, đi cho lâu lâu nghe !

– Đứt đuôi thế này còn bảo lâu lâu.

– Kệ mẹ nó. Tao cần nghỉ cái đã. Mà nè ! Tao bảo nè!

Tôi vừa đi được ít bước thì quay lại gắt:

– Gì?

– Mày tới đó nếu nó bi cọp ăn thì quơ ít xương đem về cho tao nấu cao nghe chưa?

Tôi phát quạu, làm thinh, đi thẳng. Được một quãng xa chừng nửa cây số thấy Thu ngồi ở ven đường. Tôi quát:

– Sao ngồi đó? Có đi mau lên không?

Thu không nói không rằng. Tôi vẫn chưa hết giận:

– Người ta đi mất đất rồi, mau lên.

Thu vẫn không nhúc nhích. Trời ơi, trông mặt nàng mới thảm hại làm sao. Tôi đỡ nàng đứng dậy bảo:

– Đưa ba lô đây anh mang cho.

Nàng chỏi gậy đứng lên và bước từng bước một như xẩm bó chân. Tôi cũng chẳng oai phong gì. Chỉ được cái may là bao tử chưa đồng khởi.

Tôi đi chậm chậm bên nàng, cố tìm cách đưa nàng đi tới, chậm như rùa cũng được, miễn là đừng ngồi lại, vì Mác có dạy: "Mọi vật đều tiến triển;, cái giống đếch gì đứng lại thì có nghĩa là thụt lùi !"

Đứng lại mà đã là thụt lùi rồi, thì ngồi như Thu còn thụt lùi bao nhiêu nữa?

Tôi nhìn xuống gót chân Thu, định hỏi: "Cái cổ chân củaa em có đỡ không?" (Đỡ gì mà đỡ! Biết vậy nhưng vẫn cứ hỏi). Nhưng tôi chợt nhận ra mấy lớp băng nhuộm máu đỏ lòm.

Tôi kêu lên:

– Chân em bị thương à?

– ….

– Bị thương hồi nào, sao không kêu?

– ….

– Vấp đá hả ?

Thu không nói một tiếng. Mắt nàng bật ra nước mắt. Nàng úp mặt vào đầu gậy mà oà lên.

– Cái gì vậy? Tôi quát om lên. Tiếng quát vang lên dội lại từ sườn núi.- cái gì thì nói, khóc khóc cái gì ? Cứ khóc rồi tới nơi hay sa…o? – Tôi dậm chân đồm độp.

Thu vẫn gục đầu vào cây gậy mà nức nở, đôi vai gầy gò run lên. Tôi chợt hiểu ra rồi. Nàng có kinh.

Từ cái lần lấy đường thủy làm đường bộ ngâm mình dưới suối cả ngày, nàng thường hay khó ở. Đàn bà con gái, cái gì cũng rắc rối cả. Biết thân như vậy thì làm B quay phứt đi hồi ở mấy trạm ngoài, lại còn lê vô tới đây làm gì kia chứ! Tôi hậm hực nghĩ. Nhưng khi trông thấy gương mặt nàng đầm đìa nước mắt tôi hối hận. Tôi đến bên nàng khẽ hôn vào vệt nước mắt và nói:

– Anh cho chân em một lá bùa sẽ hết đau ngay.

Thu đưa tay ra vẫy vẫy:

– Đưa ba lô đây cho em !

– Đi đã không nổi, còn mang ba lô !

– Không, em đi nổi. Em hết đau rồi !

– Thì đi đi xem nào !

– Anh cứ đưa ba lô cho em. Em khỏe lại rồi ! Em không muốn ai giúp em hết.

Nàng bi chạm tự ái vì những câu không dịu ngọt của tôi . Tôi thấy có chút hối hận nên dỗ dành. Tôi nói như viết tùy bút:

– Em cố đi lên chút nữa đi. Sắp tới nơi rồi. Mình sẽ nghỉ hai ba ngày. Nghỉ chừng nào chân em hết đau ta lại đi, đi được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Anh chẳng cần tới nơi nữa. Không có em tới, một mình anh chẳng thú vị gì. Anh sẽ tới trong giấc mơ hồi hương, trong thực tế và chỉ trong mộng, anh phải có em. Đi, di em!

Tôi tưởng văn chương mồm của tôi đã vuốt nhẹ được trái tim đau, lau khô được dòng nước mắt của nàng chẳng ngờ lại ngược lại.

Nàng càng khóc to lên và đứng lại. Quờ lấy quai ba lô giật ra khỏi vai tôi buông xuống đất và nói đứt quãng:

– Anh đi đi, đi… cho tới quê nhà… Còn em… em chết ở đây! Nói xong nàng ngồi khuỵu xuống.

Tôi nắm tay lôi nàng đứng lên. Mặt nàng trắng bợt ra, đầm đìa nước mắt. Tôi nói cũng hết ra tiếng:

– Đi em ! Cố lên. Tới chỗ anh Hoàng sẽ nghỉ. Kia kìa cách đây có vài… chục thước! – Tôi lại cũng cái lối động viên của giao liên. Đứng ra đó là cái lối cổ điển cửa đảng, cái lối treo bó cỏ trước đầu ngựa muôn năm.

Tôi lại mang ba lô lên vai và dìu Thu đi, vừa đi vừa "viết" thêm mấy chục đoạn tùy bút. Có lẽ đó là những đoạn văn chương hay nhất của tôi, những đoạn được viết ra từ sự rung động cực kỳ mãnh liệt, từ một khung cảnh bi thương nhất mà tôi chưa từng sống cho đến cái buổi chiều hôm ấy. Tôi nói như thằng điên, tôi nói như một thi sĩ ngâm thơ trước dân chúng yêu mến mình, tôi nói như diễn thuyết, như một thằng láo toét, tôi nói những điều phản lại chính lòng tôi: "Cố gắng đi em rồi ta sẽ tới ! Cách mạng Miền Nam đang mong chờ… ! ! "

Nàng bước theo tôi, mỗi bước một giọt nước mắt, không phải "Lệ" (1) của Xuân Diệu, "rách đau thương đi giữa cuộc đời," cũng không phải Lệ của kịch sĩ bôi cù-là trong vở Lu ba (2), mà là lệ của một nữ nghệ sĩ đẹp tuyệt trần rơi thấm đá Trường Sơn không phải để nở thành một đóa thơ, mà là để ghi dấu một tội ác.

Tôi cố hết sức dìu nàng đi tới, lưng nặng như núi đè, tay đẩy lưng nàng như đẩy một chiếc xuồng mắc cạn. Tôi đã lê cái thân tàn của tôi không nổi mà còn phải đèo cái của quí này, trời hỡi, còn có sự bất công nào bằng?

Nhưng trời cũng thương người. Cuối cùng rồi tôi cũng đưa nàng tới chỗ Hoàng ngồi đợi. Hoàng đang sửa lại cái "giơ- nui-de" cầu thủ trên đầu gối.

Tôi cố gượng pha trò:

– Sút có vô quả nào không??

– Có vớ hai quả !

– Nào, "đứng lên đi, người của núi sông, nặng lòng chi ngày xưa vương vấn. " (3) "'

– Nứng thế đéo nào nổi.

– Xuỵt! – Tôi trợn mắt vào Hoàng.

– Đứng lên hay nằm xuống cho khỏe thân ?

– Người ta đi xa ba ngàn dặm rồi. – Tôi giục, và khoác luôn chiếc ba lô của tôi lên vai, như một anh hùng giết giặc sắp được Bác bắt tay và gắn huân chương chiến công và một tay đẩy Thu, một tay lôi Hoàng. Vì biết chắc nếu để Thu ngồi xuống thì cả hai người đều sẽ đồng tình mà đóng chốt luôn tại đây.

Cũng may, hai người giác ngộ khá cao nên "thề quyết tiến bước." Đi được một quãng thì đụng ngã ba. Cái ngã ba này to lớn thênh thang hơn bất cứ ngã ba nào trên đường từ Làng Ho vô đây.

– Đi ngả nào anh ? -Tôi hỏi Hoàng- Không khéo mình đi xuống Bác Kế thì hỏng.

– Ừ nhỉ ! Đi ngõ nào bây giờ, tớ không biết mô tê!

Tôi hoang mang không biết đi đường nào. Nếu đi sai sẽ chẳng đến trạm, việc đó đã hẳn rồi ! Nhưng còn thêm cái nguy hiểm là có thể đụng vào chướng ngại hoặc lọt vào khu tử địa thì nguy. Tôi đã bi lạc vô trại tù binh một lần và bi các ông cai ngục xét giấy, gằm ghè dữ quá, làm như mình là do thám không bằng.

Hoàng và Thu chộp lấy cơ hội ngồi xuống nghỉ. Ngồi xuống thì đứng lên, có khó gì ! Nhưng đó là đối với những người bình thường kìa, còn ở đây lại khác. Ở đây ngồi xuống được là đít dính với đất, mọc rễ ngay tức khắc chẳng đứng lên nổi.

Phải đấu tranh tư tưởng, phải hát thầm bài Giải Phóng Miền Nam của trại cưa Kim Hữu mới đứng lên được !

– Đi ngả nào? – Hoàng hỏi.

– Có thể ngả này -Tôi trỏ – Ngả phía bên trái.

– Ngả nào thì tùy mày đấy' Tao không biết ngả nào là ngả đéo nào!

– Hình như có dấu chân.

– Dấu chân gì in trên sỏi đá được.

– Thì tôi tưởng tượng ra thôi! -Tôi thở phào- Mệt quá! Đủ thứ rắc rối. Thôi đi mẹ nó ngả đó đi.

– Không được! Nguyên tắc của giao liên đề ra là nếu rủi bi lạc thì cứ ngồi tại chỗ họ sẽ trở lại tìm. Đi bậy bạ họ không tìm được.

Tôi nói :

– Đó là nguyên tắc xưa rồi. Bây giờ mình đi lạc họ bỏ 1uôrl, họ không có trở lại tìm đâu.

– Thằng Phẩm nó tình cảm với bọn mình mà !

– Tình thì tình, cảm thì cảm nhưng nó mệt nó không đi tìm đâu.

– Vậy thì làm gì bây giờ?

Thu buột miệng nói:

– Mình cứ ngồi ở tại đây, chốc nữa anh ấy trở ra thế nào cũng gặp mình.

– Biết đâu nó lại đi đường khác.

– Đường khác là đường nào ?

Cãi với nhau một lúc, cả ba thấy cái biện pháp ngồi ỳ lại đây là phúc lợi hơn cả và hợp lý cho bộ giò nên ai nấy đều tìm chỗ mắc võng nằm chờ và tự giải lao bằng số nước còn lại trong bi đông, mỗi người bận rộn một kiểu.

Thu mở băng ra xem lại cái cổ chân, Hoàng thì củng cố cái bánh chè còn tôi thì ngủ. Nắng chiều nóng như thiêu, quần áo đã đẫm mồ hôi như tắm. Khi thức dậy thấy mình nằm giữa nắng vàng… chẳng có thơ mộng một chút nào, ngược lại tưởng đang bi cảm… nắng và có ý nghĩ mình sẽ phải đi nhà thương Biên Hòa.

Tôi nhảy xuống đất chạy vào một mép núi có bóng mát, tuột cả áo ra dùng làm quạt và quạt bất đếm bằng cái áo đẫm mồ hôi kia. .

Quả thật một chập sau thì Phẩm trở lại. Cả hai bên đều mừng rỡ như những tình nhân tái ngộ.

– Tôi tưởng các anh đi lạc rồi.

– Đứt đuôi thôi .

– Vâng, hễ đứt thì cứ ở tại chỗ chờ, đi bậy nguy hiểm lắm.

– Từ đây tới trạm còn xa không?

– Hơn tiếng đồng hồ.

– Vậy thì không sao. Bây giờ còn sớm. Tôi nói.

– Còn sớm gì nữa, mặt trời sắp lặn rồi ! -Thu cãi lại.- Em làm sao lết cho kịp

– Em cứ coi như múa một lớp Hồ Thiên Nga là tới chứ gì .

Hoàng pha trò nhưng Thu không cười nổi. Phẩm đến bên tôi, giọng cảm động

– Thôi các anh đi, mạnh giỏi nhé! Anh có gặp anhnhà văn gì, nói em nhắn lời thăm anh ấy. Tiếc quá anh có đi ngang đây mà em không… gặp để hàn huyên.

Cậu bé rưng rưng nước mắt bắt tay tôi. Tồi bỗng thấy thương tôi thì ít, thương cậu bé thì nhiều. Nó ở lọt tỏm giữa hoang dại đầy đe dọa, một loại "Bạch Mao Nam" do đảng tạo ra.

Cũng như ngày trước, lúc tôi còn ở Hà Nội, tôi đã đi công tác ra tận các hải đảo trong chòm đảo Hạ Long. Ở đấy có những hòn đảo không tên. Ở đấy có những thanh niên "tình nguyện" công tác. Mỗi đợt là sáu tháng. Công tác của họ chỉ là đốt một ngọn đèn cho tàu ngoài biển vào bến Hòn Gai ăn than và trở ra. Họ ở trong những cái nhà đá chung quanh không có cây cối gì hết, cũng không trồng trọt được ngọn rau dây bí nào hết. Đặc biệt là không có liên lạc bằng điện đài. Những ngày bão to họ vào nhà đóng cửa khóa chặt và ngồi bên trong nghe sóng tràn qua nóc nhà hoặc nhìn qua cửa kính biển động sôi lên trùm phủ nhận chìm tất cả những cụm đảo lớn nhỏ.

Những cậu thanh niên thất tình muốn trốn đời, những cậu khác thì hăng máu vịt đinh tỏ lòng yêu tuyệt đối với chủ nghĩa xã hội, hoặc vì lý do này nọ khác mà xung phong ra đây, đều vái cả mũ những hòn đảo cô đơn giết người này. Tôi đã hết sức ngạc nhiên khi bước lên những hòn đảo đó, tôi tự hỏi không hiểu các chàng trai đầy nhựa sống và mộng mị đó, đã sống làm sao một trăm tám mươi ngày và một trăm tám mươi đêm không thấy một mái tóc mềm, không nghe một tiếng thân yêu bên tai. Vậy mà báo và đài luôn luôn ca ngợi và nói rằng có nhiều cậu đoàn viên "xung phong ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa ! "

Thì cũng như thằng Phẩm "xưng phong" vô làm giao liên Trường Sơn này. Nhưng so với cái thâm sơn cùng cốc này, ở hải đảo hãy còn là hạnh phúc chán. Ở hài đảo, cuộc sống chỉ cô đơn nhưng không bệnh tật, không bom đạn, không trộm cắp, không giật giọc, không thổ phỉ, không thú dữ rắn độc. Còn ở đây thì có đủ, có nhiều các thứ này.

Tôi như thấy rõ nỗi u uất trong lòng cậu thanh niên xung phong trong một thoáng nhìn gương mặt cậu ta. Tôi vỗ vai Phẩm và nói, giống y như cụ Hồ huấn thị các cháu:

– Em ở lại cố gắng công tác cho tốt nhé. Giải phóng Miền Nam xong ta về xây dựng lại đất nước tươi đẹp hơn mười lần xưa ! Chừng đó anh sẽ ghé lại ăn mận của em!

Phẩm đi khuất, tôi còn đứng nhìn theo. Đêm nay nó ngủ một mình chắc nhớ bọn tôi lắm, nhớ con bé ở Nghi Tầm nhớ cả Hà Nội. Tất cả đều thấy đó mà lại xa vời. Cây mận của nó thì chừng nào mới trổ trái?

(1)Thơ Xuân Diệu, diễn tả nỗi mừng của nghệ sĩ được cách mạng cứu)

(2) Kịch nói Liên Xô

(3) Bài ca Thanh Niên Với Mùa Xuân của Dzoãn Hối

(xem tiếp tại đây)
Đánh máy: Lê Thy
https://thaithuyvy.wordpress.com/2010/03/13/mạng-người-la-rụng-6/


XUÂN VŨ - MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG - 5


Đêm xuống nặng nề ảm đạm đến chết người. Chúng tôi đã xa Hà Nội ngót bốn mươi ngày. Cứ hễ đêm đến là sự sợ hãi tăng lên. Bởi vì đêm thường có chuyện bất ngờ mà chẳng làm sao đối phó được.

Và đêm nay chúng tôi đụng phải sự bất ngờ đó. Vào lúc gần nửa đêm, Họa sĩ Núi bỗng nhiên ngâm thơ:

Đường đá chập chồng đồi cao thấp
Núi vẫn đôi mà anh thiếu… em!

Tôi đang thức trăn trở vì cái dạ dày đồng khởi. Có lẽ vì mấy cục thịt khỉ ngoan cố chăng. Đau thì cắn răng chịu chứ không kêu ai mà cúng không có thuốc. Còn mấy chục viên át-pi-rìn nhưng không dám uống, sợ hết, khi cần chính nó thì lại không có. Tham thực cực thân, quả có đúng !

Tôi đâm ra hối hận vì đã nuốt càn ba cái thịt con khỉ chết oan. Nhưng ai lại có thể tự chế mình trong một tình huống như vậy ? ..

Tôi nằm nhìn dãy gà mèn mập mờ ngoài lều, trong đó nằm yên giấc ngàn thu những cái xương khi đã được cụ Hoàng ta gọt rửa sạch những gân và thịt còn sót ở những đầu xương. Cụ ta hăng hái tuyên bố nấu cao vậy thôi chứ thực cự thì chắc không ai có đủ kiên nhẫn và có sức nấu. Phải hai ba ngày đêm liền chi đó thì mới có thể biến mớ xương này tan ra nước chứ đâu phải như nấu cơm nấu cháo. Rồi còn phải pha chế nó mới thành cao… khỉ!

Đang nằm suy tính tìm sáng kiến giúp cụ Hoàng thì nghe ông họa sĩ trẻ ngâm thơ. Giọng ngâm khá hay, nó uốn éo ngắt quang rất đúng điệu và lại đúng chữ nữa. Đặc biệt lại có một sự chơi chữ đầy ý nghĩa trong câu cuối "Núi" vẫn "Đôi." Đôi là người yêu của Núi. Có lẽ hai câu thơ này chàng ta đã làm để tặng người yêu, nhưng sao lại "thiếu em?"

Như vậy chắc Núi ứng khẩu ngâm lên.

Nghĩ đến đây, tôi rùng mình. Thằng bé này sắp theo ông theo bà đây! Tôi nghĩ vậy vì lúc còn đi chung với Năm Cà Dom, anh ta có nói cho tôi biết đại khái về sốt ác tính. Đặc tính của nó là bệnh nhân nóng đến phát khùng và nói nhảm. Chỉ trong vòng từ ba đến năm ngày thì ác bệnh nhân bị vi trùng đột nhập. Có khi nằm liệt câm luôn rồi chết nhưng cũng có khi nói năng tỉnh táo như người thường. Tình trạng này rất ít xảy ra nhưng hễ xảy ra thì chắc chết. Người bị sốt ác tính ít khi sống sót, nếu có thì cũng trở thành phế nhân. Chứng bịnh ngặt nghèo này vừa mới thấy xuất hiện ở núi rừng, hiện ở Hà Nội người ta đang nghiên cứu cho nên chưa có cách chữa trị hiệu quả. Cách tốt nhất là làm cho bệnh nhân xuống nhiệt độ. Nhưng đó là nói chuyện ở Hà Nội, trong các bệnh viện cơ, còn ở đây lấy gì ?

B12 của Phẩm đem ra cho tụi này có thể giúp Núi khá lên lắm nhưng lại không có kim và ống chích. Chẳng lẽ lại đập ra mà uống ư?

Bên lều của Núi, tiếng ngâm thơ lại lè nhè:

Anh muốn đưa em đến cổng trường
Cho đời em hiểu nghĩa yêu đương
Ngờ đâu sóng gió đời tôi đã
Giam hãm thân trong bốn mảnh tường.

Trời đất, y như người khỏe. Nó còn nhớ thơ Tố Hữu, bài Tặng Nàng Trinh Nữ. Trong đêm tối mịt mùng, giữa rừng sâu câm lặng, tôi tưởng như nghe tiếng tình yêu. Tôi đập võng quát:

– Núi ! Núi !

-…

– Núi, Núi ! Ngủ đi ! Khát nước không?

Biết chăng em hỡi lòng anh hận
Anh đã. . . chẳng đưa em đến cổng trường

Nó lại ngâm tiếp nhưng lần này lại sai một chữ. Có lẽ vỏ não của nó bi vi trùng tấn công nên hư hỏng rồi. Nó chỉ còn như cái máy ghi âm cũ được quay lại được khúc nào hay khúc ấy, cho nên không phản ứng với những câu hỏi của tôi.

Tôi cố trắc nghiệm thêm:

– Mày có muốn uống cao khi không Núi ? Mày có định sáng mai hành quân không Núi?

Lần này nó không ngâm thơ nữa, cũng không ư e. Tôi sợ quá bèn đập võng kêu Hoàng nhạc sĩ.

– Anh Bảy ? Anh Bảy ! Anh có nghe không ?

– Có, tao nghe tự nãy giờ.

– Làm sao anh?

– Còn biết làm sao ! -Một chốc- Để sáng coi chứ bây giờ thì chịu thôi. Không có cách gì !

Cả hai nằm chờ sáng để xem cái chết đến với bệnh nhân chứ chẳng phải để chữa chạy bệnh tật.

Tôi không có trách nhiệm gì với Núi. Tôi cũng chỉ là một kẻ vượt Trường Sơn bi bỏ rơi như nó. Những thằng bi bỏ rơi tự dán ghép lại với nhau bằng một thứ hồ đặc biệt muốn dính bao lâu thì dính, muốn rã lúc nào thì rã như đối với một tên đồng hành tôi đã kể ở trên kia.

Núi vẫn Đôi anh thiếu em !

Câu thơ đó có thể là lời trăn trối của nó ! Tôi đang miên man suy nghĩ thì bỗng đâu trời gầm to làm tôi giật mình suýt bật ra khỏi võng. .

Chớp nhoáng nhì nhằng một chập rồi mưa đổ như trút ở vùng này mưa thường đến nhanh, to và kéo dài. Có lẽ hơi nước từ biển Đông trôi lên đây bi núi chặn lại và rơi xuống thành mưa, không phải châu du đi đâu, nên giọt mưa hơi mặn mặn.

Tôi ngồi bật dậy và bước xuống đất giật ngay mấy sợi dây căng lều rồi ôm ba lô ngồi lên.võng trùm chiếc lều lên. Đó là kinh nghiệm chống mưa đêm trên đường này. Nếu không mở lều thì gió sẽ giật đứt hết các góc buộc dây căng, có thể nó bi xé toạc ra làm nhiều mảnh. (Vài đứa trong đoàn đã bi rồi. Chúng nó phải dùng kim chỉ vá víu bậy bạ xài đỡ). Cái kinh nghiệm này cũng đắt giá như kinh nghiệm chặt của người đi biển khi gặp gió to có thể lật úp thuyền.

Nếu không mở lều cứ nằm võng thì càng bị ướt và lều bị xé nát, còn trùm kiểu này thì cũng ướt nhưng ướt ít hơn và chắc chắn không bi hư hao tài sản. Ngoài ra chiếc ba lô cũng như chủ nó sẽ khỏi dầm mưa. Ba lô mà ướt thì sáng mai hành quân chủ nó sẽ mang nó như "đeo đá" trên lưng vậy.

Tôi ngồi trên võng với chiếc lều phủ kín mà nghe mưa nện trên đầu như những ngón tay gõ loạn trên phím dương cầm. Nhưng sự hưởng lạc đó không kéo dài được bao lâu: Nước mưa từ hai đầu võng trút xuống đáy võng. Vì võng kaki nên nước đọng lại và dâng lên dần, Số nước chảy ra chậm hơn số nước xuống cho nên nửa người tôi bị ngâm trong nước. Lâu lâu tôi phải đè mép võng nghiêng qua để trút nước ra. Đó là một cách chống úng của dân Trường Sơn bắt chước theo kiểu hợp tác xã "nghiêng đồng đổ nước thay trời làm mưa" do báo Đảng phổ biến.

Chống úng như vậy không nhớ được mấy lần thì trời tạnh. Tôi mừng quá tốc tấm ni lông ra, bước xuống đất, vừa mắc chiếc ba lô lên đầu võng vừa hỏi:

– Anh Bảy có ướt không? – Tôi ngó bốn bề thì thấy nhiều chiếc lều bị gió lật, có cái bị tốc hẳn treo trên nhánh cây, có chiếc một đầu thì chụp lên võng một đầu lại còn treo trên cành cây giống như chiếc xuồng chìm còn nghếch mũi lên. Té ra không có mấy người rút kinh nghiệm như tôi. Cũng có thể họ biết nhưng họ lười, cứ năm lỳ ra, tới đâu hay đó. Nhất định là họ bị ngâm trong cái võng nước như con mắm sống. Tiếng "mắm" trong ý nghĩ làm cho tôi nhớ đến cách làm hạ nhiệt độ của ông Tôn Thất Tùng trước khi đưa bệnh nhân lên bàn mổ.

Và tôi nghĩ tới thằng Núi. Tôi vội vàng bước sang với ý nghĩ hãi hùng: Nó đã chết trong cơn mưa đêm qua.

Tấm tư ni lông nâu của nó đứt cả dây căng một bên che bít cả chiếc võng. Tôi buộc căng lại và nhìn nó. Các bạn hãy tưởng tượng cảnh vật nào hiện ra trước mắt tôi. Thằng Núi nhắm tít đôi mắt. Và cả người nó ngâm trong nước. Chiếc võng kaki hữu nghị không biết của nước bạn nào tặng, vải thật tất. Nước mưa không rỉ ra được nhiều, cho nên nó như nằm trong chiếc xuồng nước ngập lé đé đến be.

Tôi sờ đầu nó và kêu thét lên:

– Anh Bảy! Anh Bảy ! Thằng Nú…úi!!

Ngữ tốc lều chạy sang, Hoàng vọt tới. Thằng bé chỉ còn thoi thóp thở. Chúng tôi nhìn nhau. Tót sờ trán sờ ngực nó lần nữa. Như tìm được một phát minh mới, tôi nói:

– Nhiệt độ nó xuống rồi. Sờ coi !

Ba bàn tay chìa vào mình vào đầu Núi:

– À à nó nguội bộn !

– Chắc bình thường rồi !

– Coi chừng nhiệt độ xuống quá thấp lại phải hơ lửa cho coi!

Chúng tôi bàn luận oang oang rồi đi đến kết luận khá rõ rệt là nhờ ơn Trời mưa móc nên thằng nhỏ đã xuống nhiệt độ rất nhiều. Nhưng vẫn còn mê man, gọi không thưa, cũng không mở mắt.

Chúng tôi cứ để cho hắn tắm biển nước mưa như thế.

Cái cục nợ thứ hai là Thu. Thu trông bèo nhèo như cơn gà té mương. Lúc nào cũng rên rẩm xuýt xoa cái chân đau. Bây giờ lại càng thê thảm.Lều của Thu rách toạc một góc. Đây là một vấn đề. Vá thì không có chất liệu để vá, còn buộc túm góc thì cái lều không thành cái lều như trước nữa.

Dù sao ban ngày thì phải cuốn lều và võng. Bữa nay thì phải phơi võng cho khô để tối ngủ. Rồi còn cái ba lô nữa. Tuy được bảo vệ kỹ lưỡng như thế nhưng không còn một vật gì khô. Áo quần, chăn màn phải lôi ra cả tìm nơi kín đáo mà căng ra, trông như những cửa hàng chợ trời trình bày của quí. Tất cả khách đều làm y một kiểu cho nên cái chợ trời kéo dài cả cây số.

Ai có món gì muốn giấu cũng phải xổ hết bầu tâm sự hết ra cho người khác xem. Nếu cái ba-lô là tâm tư của mỗi người thì mỗi lần mưa trời đều bắt những người Trường Sơn này phản tỉnh, phản tỉnh một cách thật thà, muốn che giấu cũng không che giấu được.

Không có món gì khô và không có món gì còn nguyên, cũng như tư tưởng và tình cảm con người. Tất cả đều rã bèng – từ những lưỡi dao cạo râu tới những trang ký sự viết lỡ dở, từ những mớ bông gòn tới những viên ký-nín trong túi thuốc cá nhân được bọc ni lông hai lần. Tội nghiệp chiếc máy ảnh mà tôi đã mang trên lưng lâu nay đã tróc hư, nay càng hư tróc. Các thứ đều phải được phơi khô trước khi tôi dồn chúng trở vào cái "bao tử trâu".

Qua một đêm mưa, con người già hẳn lên. Tôi nghe như có tóc bạc và nhìn Hoàng nhạc sĩ tôi thấy tóc anh ta như bạc hơn nhiều.

Tôi nói:

– Thế này thì mai làm sao hành quân anh Bảy!

Hoàng Việt hiểu tôi muốn nói gì, nên lắc đầu:

– Cứ giữ "nguyên tắc" cũ thôi.

– Bỏ nó lại đây thì nó chết mất !

– Vậy làm sao bây giờ ?

– Nó có mạnh thì cũng hai tuần lễ mới leo núi dược, ấy là nói trường hợp nó được bồi dưỡng, còn như tình trạng hiện giờ thì có hai tháng nó cũng chưa lại sức. Ngược lại càng sụp xuống thêm. Nói tới đó, tôi thấy càng đau khổ.

Những đồ vật bi ướt không đáng kể, cái vật đáng kể nhất là ruột tượng gạo. Gạo còn có một nửa ruột tượng bị ngâm nước suốt đêm, bây giờ lấy tay bóp đã thành bột. Cố phơi nắng để cứu vãn tình thế nhưng không kết quả.

Ngữ là tay hay chế biến thức ăn, nên đề ra một kết hoạch cấp tốc để giải quyết mớ gạo mắc mưa kia. Bọc từng nắm vào ni lông dùng đá đập cho nát ra rồi phơi để dự trữ. Chỉ có cách đó mới giữ được lâu, băng không thì phải ăn cho hết ngay, nếu để tới ngày mai nó sẽ sình và phải bỏ.

Thế là mỗi một người đều biến thành một cái nhà máy xay bột mà số lượng bột được sản xuất chưa được hai cân.

Nhưng trong lúc thi hành ý kiến của Ngữ thì có người gặp khó khăn. Ông nhạc sĩ đổ số một về dương cầm và sáng tác ở Bungai tưởng hòn đá cũng nhẹ nhàng như ngón dương cầm của chàng nên bọc gạo vào mảnh ni-lông dùng làm áo đi mưa rồi phệnh cật lực một nhát. Ni- lông vỡ, gạo tóe ra. Ông nhạc sĩ nổi doá nói mát:

– Ê nè Ngữ, mày đem cái sáng kiến của mày thi đua với các sáng kiến của nhà máy dệt kim 8 tháng 3 được đấy!

– Sao thế hả?

– Ngó đây nè, đổ mẹ nó cả chén gạo lộn với đất, sỏi làm sao lượm lên ?

– Nện khẽ thôi bố!

– Nện khẽ cũng không được đâu. Mày bọc gạo bằng cái giống gì đó?

– Bằng ống quần !

– Cái thằng! Sao không phổ biến cho người ta với .

– Tự động thay đổi kế hoạch lấy chứ ai biết ông cần gì.

– Thủng mẹ nó cái áo mưa của tao rồi !

Thế là mọi người thất kinh, bên bỏ ni lông xoay qua kế hoạch dùng ống quần làm "cối" để giã gạo.

Gạo giã nát xong rồi, tôi và Hoàng vốn vụng về nên chỉ biết đem ra phơi khô, riêng Ngữ thì nhồi thành bánh rồi thái ra như con phở, còn Thu thì tay mềm thân yếu lại khuấy hồ bỏ tí đường cát, cái mớ đường mà mỗi đứa được phát cho hai lạng rưỡi khi xuất phát. Tôi và Hoàng đã gần hết từ lâu, nhưng Thu thì còn đến những nửa hộp. Cũng may Thu đựng nó trong hộp, nếu không thì cũng đã tiêu ra nước… đường rồi.

Thu hơi ngại vì mình còn được cái của quý đó. Chẳng có lẽ tình đồng chí đồng đội đồng hành đồng bệnh ngọt ngào trong các bài học ở trường đi B như vậy mà trong tình hình thiếu chất ngọt này, nó lại đâm ra nhạt phèo. Thấy Thu không được tự nhiên khi giở nắp hộp ra xúc tí đường cho vào nắp gà mèn khuấy khuấy, tôi nói:

– Thu cất cho kỹ để bồi dưỡng cái chân. Tụi anh chân cẳng khỏe cả, không cần đường!

Kỳ thực thì nghe mùi đường phảng phất tí ti trong không khí tôi thèm phát khóc lên được. Mấy hạt đường của mẻ hồ làm ta nhớ đến cái ba lô của tháng họa sĩ trẻ.

Tôi nói với Ngữ:

– Cậu có rỗi phơi đồ đùm cho nó chút !

– Vâng, để em xong việc của em đã!

– Cậu xem nó còn đường khuấy cho nó tí.

– Nó không có đường đâu anh ạ !

– Tại sao vậy?

– Khi lãnh xong nó gởi về cho gia đình vợ chưa cưới của nó !

– Trời đất!

– Nó nghĩ và nó khỏe như vâm, cày hợp tác xã nó kéo còn nổi mà anh. Em cũng vậy, em đâu có ngờ vô đây sức khỏe tiêu tán nhanh đến thế!

Cái hiệu phở của Ngữ làm mọi người tiếc ngẩn tiếc ngơ: Nếu còn tí nước hầm con khỉ gió thì hay quá. Hôm qua lại chê đem đổ hết, chi ăn cái xác. Bây giờ cần để làm nước dùng nấu phở thì không còn chút nào. Thế mới biết cái gì cũng có thời thế của nó, dùng sai chỗ không bật giá trị lên được như cái anh nhạc sĩ tài hoa kia…

Đi vô con đường này anh ta chửi đổng toàn gamme majeure với dấu biến thượng. Nhiều lúc leo mệt quá, anh quát:

– Ê, tụi bây nói với giao liên đằng trước đi chậm chậm nghe. Con người không phải là máy, không phải là thú vật ! Địt mẹ chứng nó, đi đứng gì như thế này !

Nhìn ông nhạc si ngồi bên gốc cây cặm cụi vá tấm tămg bị gió giật rách đêm qua tôi hết biết nói sao. Tôi kiếm chuyện đùa:

– Bây giờ mà rủi gặp chi Bảy ở đây thì làm sao anh Bảy?

Hoàng nhạc sĩ cười giọng Tenor một tràng dài tưởng chừng vô tận. Rồi nói:

– May chứ sao lại rủi, chú e…em!

– Còn thấy đường xỏ chỉ không?

Hoàng nhạc sĩ giơ cây kim lên rồi cười:

– Mới sốt dăm cơn mà nhìn cái gì cũng vàng khè.

– Vấn đề không phải là vàng hay trắng mà là có xe chỉ luồn kim được không?

– Cũng tạm được chớ! Hớ! Hớ hớ ớ!

– Vá rồi đi ăn phở khi nghe ! Thằng Ngữ nấu gần xong rồi .

– Mẹ ! Cái món phở này, hiệu Tư Lùn cá thể ở ga Hàng Cỏ nghe qua cũng chạy tét.

– Nè, rồi cái vụ nấu cao của anh có tính thực hiện không? ?

– Thực hiện chớ! – Hoạng ngó về phía mấy cái gà mèn còn treo đó – Để tao trút ra phơi rồi mang tới trạm tao nấu cho mày coi.

– Ừ để rồi coi.

Bỗng thằng Núi rên lên làm mọi người giật mình. Nó còn nói rõ từng tiếng:

– Khát nước !

Cả thằng Ngữ lẫn tôi đều đứng bật lên và chạy lại. Trời đất ơi ! Thằng nhỏ đã mở mắt. Trời cứu nó rồi. Mi mắt nó chớp chớp. Đôi môi nó mấp máy. Tiếng nó thều thào:

– Uống nước !

Ngữ chụp lấy chiếc bi đông trên đầu võng lắc lắc, nghe còn tí nước, Ngữ mở nút kê miệng bi đông vào mồm Núi khe khẽ rót.

Núi thở khì một tiếng rồi nhắm mắt. Tôi hoảng vía, vì nghĩ là nó hồi dương một chút rồi đi luôn. Ngữ vừa đậy nắp bi đông vừa hỏi:

– Mày uống nữa thôi Núi ?

Mi mắt Núi động đậy rất khẽ.

– Nè, nước nè, nghe không?

Mi mắt Núi lại động đậy như trước. Môi nó hé mở.

Ngữ nghiêng bi đông rót nhẹ và hỏi:

– Nữa thôi ?

Núi ngậm miệng lại. Ngữ lại hỏi:

. Mày có lạnh không?

Núi không đáp.

– Mày biết ai đây không?

Núi cũng không đáp.

Chúng tôi bàn đến việc thay quần áo cho Núi, nhưng câu chuyện không ngã ngũ. Tôi là kẻ đã từng trông thấy tận mắt mấy bệnh nhân được Bác sĩ Tùng hạ nhiệt độ bằng cách cho vô bồn nước đá, tôi cho là nhờ bi ngâm trong võng nước mưa mà Núi tỉnh dậy tí ti và nhiệt độ thì không cao hãi hùng như hôm qua – Nhiệt độ vừa mới xuống, nếu bệnh nhân thay đổi môi trường, nó có thể lên cao trở lại.

Nhưng Ngữ và Hoàng thì cho là nếu để Núi nằm trong sự ướt át, cá võng lẫn quần áo, và dưới nắng như thế sẽ bi cảm dễ dàng nhất là cơ thể của Núi đang kém sức đề kháng.

Cuối cùng phe Ngữ thắng thế. Hai người thay quần áo cho Núi với sự vắng mật có hạn đinh của Thu.

Núi là người đã vẽ Thu nhiều nhất trên đường này. Hai bên tỏ ra rất yêu nghệ thuật hội họa.

(xem tiếp tại đây)
Đánh máy: Lê Thy


Friday, June 30, 2023

BÙI CHÍ VINH - LÒNG NHÂN ÁI CỦA HAI ĐỆ NHẤT PHU NHÂN

BÙI CHÍ VINH
LÒNG NHÂN ÁI CỦA HAI ĐỆ NHẤT PHU NHÂN

Bế một đứa trẻ thơ khó như vậy sao?
Hỡi các công nương, các mệnh phụ đỏ
Bế một món đồ xa hoa thì cực kỳ hớn hở
Ẵm món quà tặng bằng kim cương thì ôm chặt vào lòng
Lên truyền hình khoe đủ loại áo dài thêu phượng thêu rồng
Theo chồng đi bán nước thì diện xường xám Bắc Kinh, Thượng Hải
Còn những trại cô nhi ra đời như thú dại
Bỏ mặc các ma-sơ và ni cô săn sóc linh hồn
Cũng may mà tôi đã từng biết một Đệ Nhất Phu Nhân
Bồng trẻ thơ trong tay như bồng chính con mình sinh đẻ
Nhoẻn miệng cười hồn nhiên như chính mình là bà mẹ
Mà đúng là bà mẹ xây Bệnh Viện Vì Dân chứ không phải vì mình
Người ta gọi bà là Nguyễn Thị Mai Anh
Bà hoàng phúc hậu của một nền văn minh khai phóng
Sau bà hơn 50 năm lại xuất hiện một phu nhân Tổng Thống
Từ Hàn Quốc sang thăm Việt Nam ôm bé khuyết tật ngọt ngào
Một con mắt bé lạc thần như vết chém lưỡi dao
Bỗng lành hẳn lại bằng tình thương mẫu tử
Hỡi các quan chức phu nhân và lũ nhà giàu mệnh phụ
Có bao giờ quý vị thấy con mình bị bỏ rơi bên đống rác ven đường
Có bao giờ quý vị biết đến tình người chan chứa yêu thương ?!?
30-6-2023
BCV


Hình 1: Đệ Nhất Phu Nhân của VNCH


Hình 2: Đệ Nhất Phu Nhân của Hàn Quốc

https://www.facebook.com/100004076751789/posts/bùi-chí-vinh-lòng-nhân-ái-của-hai-đệ-nhất-phu-nhân-bế-một-đứa-trẻ-thơ-khó-như-vậ/3193576560788204/

Quoc Gia Nguyen - Về màu sắc của lá Quốc kỳ

- Về màu sắc của lá Quốc kỳ -
Fb Quoc Gia Nguyen

Đối với những vị tiền bối của miền Nam mà năm nay trên dưới 80 tuổi thì họ đã có vài chục năm nhìn thấy và quá quen thuộc với lá Cờ này.

Những người trẻ hơn, chí ít như tôi chẳng hạn. Tôi từng là một Học sinh đã vinh dự được cử ra kéo lá Quốc kỳ lên đỉnh cột Cờ trong Trường mỗi sáng thứ Hai với tiếng hát đồng thanh trầm hùng của bạn bè: Này Công dân ơi, Quốc gia đến ngày giải phóng... Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống...

Vừa qua tôi xem một chương trình trên đài Discovery, họ nói chỉ riêng màu đen mà Hãng xe hơi Ford đã xác định là có hơn 50 màu đen khác nhau.

Tôi liên tưởng và nghĩ rằng những màu sắc khác thì mỗi màu sắc đều có ít nhất là vài chục biến thể.

Về màu vàng ta có những màu vàng đồng, vàng tươi, vàng chanh, vàng đất, vàng nâu, vàng cam, vàng kem, vàng gold, vàng ánh kim, vàng cát, vàng nghệ...
Ta cũng có những từ ngữ để diễn tả về độ đậm nhạt của màu vàng như vàng chóe, vàng lườm, vàng khè, vàng nhạt, vàng tươi, vàng chấy, vàng vọt...v...v...

Về màu đỏ thì có đỏ gạch, đỏ máu, đỏ mào gà, đỏ cứu hỏa, đỏ gấc, đỏ mận, đỏ lửa, đỏ bầm, đỏ Bordeaux...
Ngoài ra còn có những chữ đỏ lòm, đỏ au, đỏ gay, đỏ chạch, đỏ sậm, đỏ thắm...v..v...

Bây giờ nói về màu sắc của lá Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa.

Lãnh thổ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến 1975 chưa bao giờ có một ngày được bình yên mà từng giờ từng phút đều hứng chịu những tai ương thảm nạn từ bè lũ Cộng Sản.

Tấn công, pháo kích, ám sát, bắt cóc, thủ tiêu, chặt đầu, mổ bụng, cho mò tôm, đắp mô giật mìn, đặt bẫy, quăng lựu đạn, gài chất nổ....có việc gì mà Cộng sản không làm?

Đất nước Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ thật sự vui vẻ hạnh phúc để lá Quốc kỳ có một màu vàng chanh tươi tắn, một màu đỏ rực rỡ biểu hiện sự vui vẻ hạnh phúc như những vị ở hải ngoại hiện nay đang phô diễn.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã đề ra chuẩn mực về màu sắc và kích thước phù hợp cho Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Thuở đó không bao giờ Quốc kỳ có màu vàng chanh vàng tươi mà đó là màu vàng sẫm, màu vàng trầm mặc.

Ba sọc đỏ của lá Cờ cũng không có màu đỏ tươi mà phải là màu đỏ của máu, những dòng máu đỏ thẫm của cha ông, những tiền nhân đã xây dựng hình thành nên đất nước và máu của những vị anh hùng ngày đêm chắc tay súng gìn giữ bảo vệ non sông.

Màu chuẩn của Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa thì phải có màu vàng sẫm tương đồng như màu vàng nghệ.
Màu đỏ của 3 sọc ngang phải là màu đỏ thẫm, không thể là màu đỏ tươi.

Những cựu Quân nhân hiện nay sống trên đất khách nghĩ gì khi lá Cờ mà họ đã từng nghiêm trang đứng im phăng phắc chào kính mà bây giờ nó có màu sắc lạ lẫm thế kia?

Những người đã từng bất chấp hiểm nguy lao vào sóng gió đại dương trên những chiếc tàu ọp ẹp mà trên cabin vẫn có lá Cờ Tổ quốc tung bay phần phật trước gió biển thì ngày hôm nay nghĩ gì khi họ hướng mắt về lá Cờ có màu vàng chóe và màu đỏ rực lạ lùng?

Và như thế, đề nghị mọi người là những công dân Việt Nam Cộng Hòa ở bất cứ đâu trên thế giới hãy hiểu cho rõ ý nghĩa của màu sắc trên lá Quốc kỳ mà làm cho đúng.
Đừng bao giờ dùng màu vàng chanh, màu đỏ tươi để may rồi mang lá Quốc kỳ sai lệch màu sắc ra đường diễn hành trưng bày này nọ.

Tự ý thay đổi màu sắc lá Quốc kỳ là điều xúc phạm đối với tiền nhân, xem thường anh linh của gần 300.000 Tử sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã vì màu Cờ tượng trưng cho Tổ quốc mà không tiếc máu xương, những người đã nằm xuống mà trên nấm đất vẫn còn phủ lá Cờ thiêng cùng những giọt nước mắt của mẹ già, vợ dại, con thơ...

Công dân Việt Nam Cộng Hòa cần nhớ: Nền Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa là màu vàng nghệ có 3 sọc ngang màu đỏ thẫm....

Xin lưu ý: Có rất nhiều hình ảnh trên mạng đã được chỉnh sửa theo công nghệ sau này nên màu sắc của Quốc kỳ trên màn hình đã đổi khác so với nguyên bản.
Quý vị hãy căn cứ theo trí nhớ và tri thức, không phải là hình ảnh thực tại.

https://www.facebook.com/100061961934455/posts/-về-màu-sắc-của-lá-quốc-kỳ-đối-với-những-vị-tiền-bối-của-miền-nam-mà-năm-nay-trê/428616409213753/