Monday, July 03, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 7

– 7-
Người đánh máy: Lê Thy

Nghĩ quanh nghĩ quẩn mãi rồi cũng không thoát khỏi cái cực hình kéo dài không biết bao giờ chấm dứt: đó là ĐI. Phải đi! Và đi tới nghĩa là không thể lùi lại.

Dù sao thì cũng phải đi. Mà đi bằng cặp chân và cây gậy sau những cơn sốt và nằm ngoài mưa, kể ra cũng không phải là chuyện vui.

Nằm mà nhìn cảnh vật thì trông thấy cái cây, sườn núi cái gì cũng nghiêng như sắp đổ. Còn ngồi mà nhìn thì thấy nó xoay vần. Cây cối và sườn núi như cứ chạy quanh như vây chặt lấy mình.

Mắt tôi quen nhìn cái đầu võng của Thu. Ở trên đó có cái chân đau của Thu gác lên với những băng bó trắng xoá. Màu trắng gây thêm cảm giác buồn của thương tật.

Đôi khi Thu nằm nghiêng qua một bên, tóc xoả xuống chấm đất, như một hình ảnh trữ tình gợi ý thơ. Nhưng thú thật là tóc của Thu, hay gì gì đi nữa cũng không có thể kích động trong tôi một thứ tình cảm gì. Cũng như tôi, cái thân xác hiện tại của tôi chán chường ra trước mặt mọi người, nhưng đâu có gợi lên cho ai một thứ xúc động nào, kể cả sự thương hại. Bằng chứng là hôm nọ hai người nào đó đã cho rằng tôi chết, nhưng cuối cùng họ không thèm đến nhìn mặt tôi và bỏ ra đi như rời một tảng đá, một gốc cây mục.

Mấy hôm rày Thu buồn lắm. Thu đặt vấn đề xin trở về Hà Nội hẳn hoi. Tôi biết vậy nhưng tôi không an ủi nàng bởi vì cái gì to lớn nhất đã vỡ tan rồi.. Nỗi buồn lan ra từ đó.

Có lẽ Thu buồn nhất vì thấy sắc đẹp của mình tan biến đi một cách quá chóng vánh.

Tôi càng sợ soi gương bao nhiêu thì Thu lại soi gương thường bấy nhiêu. Tôi để ý lúc nào Thu cũng nâng chiếc gương lên trước mặt hoặc vuốt sửa tóc hoặc nặn một nốt mụn, hoặc xoa xoa những vết thâm vừa xuất hiện trên gương mặt. Tôi biết Thu thở dài luôn. Có một hôm Thu tưởng tôi ngủ cho nên cô xăn quần lên quá hai đầu gối rồi đưa tay vuốt ve đôi đùi của cô. Đôi chân của Thu cũng như đôi chân của Phương, tôi từng nhìn ngắm, là đôi cánh thiên thần của người diễn viên ca múa. Họ bay bổng lên là nhờ đôi chân.

Nhưng giờ đây chân của họ như đôi cánh cụt, lông lá xơ xác không thể cất lên nổi nữa. Huống chi chân Thu bị sưng và mưng mủ ra thế kia. Thu hết mong ngày vinh quang đến với Thu rồi. Một lần Thu đã tỏ sự đau khổ đó ra cho tôi nghe. Thu bảo rằng: vũ nhờ có cái cổ chân để xoay như cái trục vậy, nhưng giờ đây cái máy xoay đã hỏng rồi, có chửa cũng không như cũ được.

Tôi với Thu bây giờ như hai cây sậy đứng giữa mưa gió, không bên nào có thể tựa vào bên nào và chỉ chờ ngày ngã xuống – tệ hơn cả anh mù và anh què trong bài học thuộc lòng lớp đồng ấu. Họ còn có thể "hợp tác" công sức của họ với nhau, người nầy dùng mắt người kia, người kia nhờ chân người nầy. Còn chúng tôi hoàn toàn không nương tựa vào nhau được.

Thấy Thu nằm im lìm, tôi cất tiếng gọi. Cứ như thói quen, Thu nghe tôi gọi thì in như là chỉ để cho Thu hay rằng tôi sắp sửa sốt và sắp sửa nhờ Thu làm một việc gì, cho nên Thu hỏi lại ngay:

– Anh lại sắp sốt phải không?

– Không, chắc qua giờ đó rồi.

– Cha chả! Anh dứt cơn sốt được hôm nay nữa là hai hôm rồi. Như vậy là mai lên đường…

– Chân em như thế nào mà đòi đi?

– Ở mà chờ cho lành có mà hết cuối năm.

– Chân như thế mà đi thế nào? Đường có tráng nhựa như đường Trần Hưng Đạo đâu.

– Đừng có nhắc cái gì của Hà Nội cả, đừng có nhắc. Em van anh nếu anh muốn em đi tiếp đường này thì anh đừng có nhắc cái gì của Hà Nội cả, ngay cả hai tiếng Hà Nội cũng không nhắc. Em không muốn gợi lại những kỷ niệm của Hà Nội, em muốn như Hà Nội là một thành phố không có quan hệ gì với em cả, như Hà Nội không có trong đời sống của em.

– Tại sao vậy?

– Vì nếu nhắc đến Hà Nội, em sẽ quay lại tức khắc! Tức khắc, ngay bây giờ! Em không cần gì tất cả, ngoài Hà Nội.

Rồi Thu ôm mặt khóc nức nở, càng não lòng. Những ý nghĩa và tình cảm của Thu tuy không giống của tôi, nhưng những tình cảm ấy vẫn làm cho tôi suy đồi thêm. Hà Nội đối với tôi không phải là không gắn bó, không kỷ niệm, nhưng có lẽ nó ở lại sau lưng tôi rồi. Trước mặt tôi là Saigon, là Mỹ Tho, là bờ dừa, thửa ruộng thân yêu của tôi.

Dù quê hương tôi có nghèo nàn, hay không có những kỷ niệm tốt đẹp đối với tôi chăng nữa, và tôi ra đi vì những lý do gì đi chăng nữa, thì tôi cũng mong mỏi ngày về. Tôi phải về, tôi không thể nào trở lại. Dù trong lòng tôi có não nề, dù thân xác tôi có rã rời, tôi cũng phải về. Dù có chết tôi phải chết ở nơi gần Saigon nhất.

Tôi gượng gạo nói với Thu, một cách giả dối lộ hẳn ra:

– Em càng yêu Hà Nội thì em càng phải đi Miền Nam. Con đường vinh quang dắt em về Hà Nội là con đường em đang đi đây. Nó sẽ vạch qua Miền Nam Giải Phóng và đưa em về Hà Nội.

Thu phá lên cười quái đản. Giọng cười vừa chế nhạo vừa chán ngán làm cho tôi như bị một cơn gió độc lướt qua. Tôi biết mình nói không thật, không lừa nổi người khác, mong chi lừa được chính mình.

Thu nói:

– Anh có dám lập lại những lời anh vừa nói đó không?

– Để làm gì vậy? Em không nghe rõ sao?

– Em nghe rõ lắm chứ!

– Thế thì anh đâu phải uổng công.

– Anh lập lại để anh nghe.

Tôi lặng thinh, tôi thấy hơi xấu hổ. Tôi nói:

– Đối với anh thì anh phải về Nam em ạ. Anh nghĩ em cũng thế thôi!

– Không! – Thu ngồi bật hẳn dậy – đối với anh khác, đối với em khác chứ! – Thu nhìn quanh quất xem có ai không. Thấy chiếc võng mắc chung quanh đều im lìm, Thu tiếp – Tôi đối với Hà Nội khác anh đối với Hà Nội. Anh với Saigon khác tôi với Saigon. Đành là tổ quốc quê hương, nhưng mỗi con người đều mang trong tim mình một cái gì riêng tư và độc nhất. Tôi ví dụ như ở quê anh có bờ sông, ở quê tôi cũng có, bờ sông Hồng chẳng hạn, nhưng nó không bao giờ giống sông Cửu Long trong anh. Đứng về mặt địa dư, nếu có giống chăng đi nữa, thì dưới mắt anh, dưới mắt tôi, con sông Hồng tuy là một nhưng vẫn cứ là hai vì mắt anh nhìn nó, anh xúc động khác tôi, còn tôi trông thấy nó hằng ngày với phù sa trôi theo sông, với mùa nước lên nước xuống với những kỷ niệm vui buồn của riêng tôi, không giống với ai. Có người nói: "người ta không đi xa quê hương được vì tiếng chim kêu ở đầu rào".

Chính vì thế, anh ạ, mà anh bôn ba về Nam, còn em thì đến chặng đường này, em có những ý nghĩ kỳ lạ…

Thu ngưng lại một giây rồi tiếp ngay:

– Anh nghĩ lại xem, em xin lỗi anh nhé, có phải vì lý tưởng cao siêu mà anh đi về Nam, hay chỉ vì tiếng chim kêu ở đầu rào? Em không phải là đảng viên, cho nên có thể em suy nghĩ lệch lạc…

Tôi ngồi lặng người ra, càng ngạc nhiên về những tình cảm sâu đậm đối với quê hương và sự thông minh của cô gái.

Tôi hỏi Thu:

– Nhưng bây giờ em định thế nào?

– Định thế nào?

– Nghĩa là…

– Em biết anh muốn hỏi em gì rồi – Thu tiếp – Nghĩa là anh muốn hỏi em có đi Miền Nam không chứ gì? Em thú thật với anh rằng em thấy khổ tâm . Vào đó để làm gì? Để ca múa. Em thì chỉ làm được có mỗi việc múa thôi! Không múa được thì em vào đó để nấu cơm à? Miền Nam có cả chị Ba Định tài giỏi như thế, chẳng lẽ lại thiếu người nấu cơm?

Tôi cười không nói được gì.

Thu tiếp:

– Anh xem cái chân của em đây. Bây giờ nó đã thế này vào đến đó thì nó sẽ ra sao? Em đã thành con chim chỉ còn có một cánh thôi anh ạ!

Mặc dù ngồi hơi xa, nhưng vẫn trông thấy những hạt nước mắt long lanh trên khoé mắt Thu. Thu khóc là phải, bởi sự nghiệp của Thu xem như bắt đầu mỏng manh, xám xịt.

Tôi nói:

– Nhưng em trở về sao được? Em thấy từ hôm mình đi đến nay chỉ thấy người ta toàn vào, chứ có ai trở ra đâu? Thời buổi này ai lại đi ra?

– Người nào cũng có lý do. Em cũng có lý do của em.

– Nhưng không ổn đâu em ạ!

– Sao? Anh nói thế nào?

– Giao liên họ đâu có dẫn em đi trở ra.

– Anh đã thấy vấn đề chân cẳng của Phương và của các em từ khi đi được vài hôm. Hồi còn đi chung, đêm nào anh cũng lén đoàn đi ra suối tìm chỗ vắng và nấu nước đổ xuống một cái trũng đã lót sẵn vải ni-lông để cho Phương ngâm chân, có khi phải ngâm cả giờ đồng hồ. Chân dày chân dép đã quen từ bé đến lớn, giờ bỗng nhiên mang dép râu, leo vách đá, làm sao sống được. Ngâm nước nóng cho máu mau tan ra, chứ không nó sưng vù lên như hai cái bánh bò. Nhờ vậy mà Phương ráng đi tới chỗ rẽ xuống Khu 5.

Đêm nào Phương cũng khóc. Anh cố lờ đi, hoặc đôi khi anh phát cáu la ầm lên. Anh bảo đi làm cách mạng thì phải chịu cực khổ chớ phải ở nhà với má hay sao mà sướng được?

Phương đã trả lời ngay: "Em cũng biết làm cách mạng là khổ thật, nhưng cái khổ nầy là cái khổ vô lý, thà bắt em đi tù, em còn sướng hơn vì ở tù là mất tự do nhưng mình biết trước như thế cho nên khi mình mất tự do thì mình không lấy gì làm khổ. Còn cái này mình đi giải phóng Miền Nam mà rốt cuộc mình không làm gì được hết, thậm chí chỉ thêm gánh nặng cho người ta, thử hỏi cái việc đi vô Nam của mình có ích gì?

Đem cặp chân diễn viên múa mà trèo núi thì em nghĩ không có gì vô lý hơn!

Đêm nào anh nấu nước cho Phương ngâm chân, Phương cũng phàn nàn, càng ngày càng nặng lời và day dứt hơn.

Một hôm Phương nói thẳng ra rằng, nếu dè như thế này thì Phương đã không đi. Phương đã nói rất thực lòng. Và đó chính là nỗi lòng của hằng vạn người trên đường này. Nếu biết thế này thì chắc chắn không ai đi. Thà ở lại miền Bắc làm tên cán bộ mất tinh thần, làm tên lính đào ngũ còn hơn.

Tôi hỏi Thu:

– Nếu người ta không đưa Thu trở lại thì sao?

– Ai biết đâu được!

– Phải dự phòng chứ!

– Ở cái xứ này không thể dự phòng cái gì hết. Đang khi tưởng nắng to, mình đi giặt quần ao, thì ùn ùn trời đổ mưa. Đang khi mình tưởng mình sắp sửa ăn một bữa cơm ngon thì lại đổ kềnh ra sốt rét, cũng như biết đâu chốc nữa máy bay chẳng đến rải chất độc xuống vùng nầy?

– Thôi bây giờ đề nghị thế này nhé.

– Anh cứ nói xem.

– Mình cứ vô trạm.

– Vô thế nào được? Trước nhất mình phải biết đường.

– Cái đó thì không lo. Hai hôm nay anh đã chú ý lối ra vào của nó rồi. Ở phía bờ suối có một tảng đá, bước lên tảng đá thì đụng nhằm một nhánh cây ngã ngang rào đường. Giở nhánh cây đó chui qua sẽ thấy một con đường mòn, cứ theo đường đó thì đến trạm.

Thu hỏi vặn:

– Nhưng vào để làm gì?

– Để kiếm một tí thức ăn, thịt rừng chẳng hạn và một mái nhà để núp mưa!

– Anh không biết là họ rất kỵ khách vô trạm họ sao?

Tôi cười:

– Khách cũng tùy. Có loại khách họ rất kỵ, nhưng cũng có loại chúng nó cầu cạnh rước vào nhà mà nuôi như cu cu!

– Anh giỏi có suy luận thôi!

– Anh thực tế lắm em chớ em! – Tôi nói tiếp – Bây giờ như thế này nhé, vào trạm lúc này thân tàn thì dù có cái giấy "A" cũng bị trạm nó tống ra ngoài như thường. Vậy bây giờ chỉ có em vào được.

– Eo ơi! Em sợ đi một mình lắm! Em sợ những cái gì mới lạ huống chi là giữa rừng núi hoang vu này mà em phải đi một mình.

– Ấy! Em sao hay lo xa quá! Anh không bảo em đi một mình đâu. Em đi trước chừng vài ba bước thôi, rồi anh đi theo liền. Nếu anh đi trước thò cái mặt vàng ẽo của anh ra thì nó xua đi ngay. Cho nên em phải đi trước…Hì hì em rõ chưa?

– Nhưng em đâu có giấy tờ mà trình?

– Cần gì! Em sao ngây ghơ qua vậy? Nó trông thấy em thì nó quên tất cả giấy tờ rồi.

– Em chịu thôi! – Thu phụng phịu – Ai làm kỳ cục vậy.

– Có gì mà kỳ cục? Em cứ vào, nó thấy chân em đau, tự nhiên nó xúc động, nó thương hại cô văn công chân yếu tay mềm mà cũng đi giải phóng Miền Nam, tự nhiên nó thương, nó sẽ cho vào trạm ngay.

Thu nói:

– Thôi, anh muốn làm gì thì làm miễn sao cho chân em mau lành và anh hết sốt rét thì thôi!

– Anh không làm mất cái giá trị của em đâu mà sợ! Gặp nguy hiểm thì phải tùng quyền em hiểu không?

Không biết đang trưa hay đã chiều rồi. Nó cứ âm âm lạnh. Ở bờ suối, đá cũng có vẻ mục, chỉ cần động tới là nó rã ra ngay. Còn người thì cứ gây gây sốt. Cứ mỗi lần gió mạnh thì làn da sởn lên rờn rợn. Con người có vẻ mong manh quá. Lúc nào cũng như sắp sốt tới nơi. Tôi nằm yên trên võng có khi hàng mấy giờ liền chỉ để lắng nghe xem cơn sốt có đến với mình không và lúc nào cũng có cảm giác là nó đang đến.

Chung quanh đây, những bệnh nhân rơi rớt lại từ những đoàn khác nhau, vẫn còn nằm nguyên đó. Có người hôm trước thấy còn ngóc dậy nấu nướng, hôm nay thì nằm bẹp. Có người hôm trước nằm liệt trên võng, nay đã thấy ngóc dậy đi đi lại lại. Không ai nói gì với ai. Dường như họ không cảm thấy sự có mặt của những người đồng loại, đồng bệnh bên cạnh họ có lợi ích gì.

Một chặp sau thì quả nhiên có hai cậu giao liên tới. Một cậu băm sáu băm bảy, còn một cậu chừng mười chín hai mươi. Cả hai đều sốt rét da vàng oách nhưng hơi ngả màu xám. Có lẽ họ chịu đựng sốt rét đã quen và cái chướng khí của rừng núi làm cho nước da họ xạm lại.

Hai người vừa đi ngang qua võng tôi vừa càu nhàu:

– Để cho nó chết!

Người kia gắt:

– Để cho nó chết thì chúng mình tù mọt gông bố à!

Cả hai đều xăm xăm đi lại phía võng của Thu.

Tôi bèn gọi giật hai anh chàng lại. Cả đều do dự nhưng tôi ngoắc thật nhanh, có vẻ quan trọng, cho nên hai anh chàng đều trở lại và đến bên tôi.

Tôi bảo ngay:

– Các anh đưa cô kia vào trạm. Nếu không thì có việc gì Trung Ương sẽ khiển trách đường dây này nhé!

Cả hai cậu cùng có vẻ thú vị, mắt sáng rực lên, chờ đợi tôi nói tiếp. Tôi bảo:

– Cô ta là diễn viên múa của Văn Công Trung Ương đó, đã từng đi Liên Xô, Trung Quốc danh tiếng như cồn. Miền Bắc chỉ có vài cô như vậy. Trung Ương gởi vào Nam để biểu diễn ở Saigon đấy. Saigon giải phóng mà không có cô ta biểu diễn thì nguy to.

Trông cách nai nịt của hai anh chàng tôi quả quyết đúng là giao liên: lựu đạn giắt quanh lưng, vải cao su gói ghém rất gọn, khẩu cạc-bin lấp báng đôi buộc bằng dây thun và nhất là hai ống quần quấn "xà-cạp" trông như lính tẩy. Tôi đưa nốt hai anh chàng vào vòng trách nhiệm:

– Cô ta đau chân, nên đoàn đã gởi cô ta lại đây. Mặt khác đã điện về Trung Ương báo cáo. Nếu Hà Nội hay thì sẽ chỉ thị cho trạm xá nào gần đây nhất đến đem cô ta về điều trị!

Cậu trẻ đáp:

– Gần nhất cũng phải hai ngày đường, đồng chí ạ!

– Vậy thì làm sao?

– Dạ trong trạm em y tá xoàng thôi cũng không có!

Tôi đã mừng thầm rồi nhưng hãy còn kỳ kèo:

– Cậu có thể đi rước bác sĩ ờ cái trạm xá gần đây không? Đi hai ngày mà có được bác sĩ chữa chân cho cô thì cũng đáng cái công. Chân của diễn viên múa – mà là diễn viên ưu tú – là chân ngọc chân ngà các cậu có biết không? Ở Liên Xô mỗi diễn viên múa như vậy có một bác sĩ theo để săn sóc đôi chân.

Cái gì chứ cái nghề bịa đặt tán khoét thì tôi học rất nhiều trên đường Trường Sơn này.

Tôi biết rõ rang sở dĩ hai cậu ta nghe lời tôi một cách ngoan ngoãn và kiên nhẫn như vậy là vì bệnh nhân mà trạm của các cậu sẽ rước về là một người con gái đẹp, chứ nếu ngược lại, thì dù cho tôi có là đại tướng đi nữa cũng không khiển nổi hai gã lính núi này.

Phép vua thua lệ làng. Luật lệ đường dây ở đây còn hơn thế nữa. Giao liên hoạt động độc lập, mỗi trạm tự do hùng cứ một giang sơn, muốn làm gì cũng ai hiểu nổi. Có trạm lấy gạo tiêu chuẩn – mà mỗi hạt là một giọt mồ hôi pha máu – đem bán hoặc nuôi heo v.v….

Cho nên trên đường đây , khách sợ nhất là giao liên, Họ bảo: "nhất trạm, nhì trời".

Khách đi đường đừng có dại dột mà động tới các ông trời đó. Các ổng mà ghét anh rồi thì các ổng làm đủ thứ trò để trả thù. Mà các ổng trả thù thì chết. Ví dụ đến một khúc đường tốt, đáng lẽ để cho anh đi thong thả lấy sức thì các ổng lại hô là bãi pháo và hét anh chạy vắt giò lên cổ. Các ổng cho anh chạy hộc máu mồm ra và đồ đạc rơi rớt hết. Hoặc đường mòn không cho đi mà các ổng cho anh lội toàn gai góc, đá tai mèo và thay vì đi 20 phút, các ổng cho anh trèo dốc vài tiếng đồng hồ. Cho nên gọi họ là trời cũng không có gì quá đáng.

Tôi quay sang Thu, nói to với giọng cấp chỉ huy:

– Trong lúc chờ đợi bác sĩ và mưa gió lê thê thế này, hai đồng chí giao liên có ý muốn đưa cô về trạm để cho y tá săn sóc cái chân đau của cô. Cô thấy thế nào?

Thu từ từ ngồi dậy, tóc Thu hơi rối. Thu cau mặt và sẻ thòng cái chân đau xuống đất, nhưng hai cậu giao liên đâu có nhìn cái nơi không đẹp đẽ ấy làm chi. Hai cậu sửng sốt trước gương mặt của cô Văn Công Trung Ương, mặc dù đang ốm đau nhưng vẫn cứ đáng nhìn như thường.

Thu biết tôi đã khơi mào nên nàng tiếp thêm:

-Điện gì mà lâu thế? Mọi lần em ở Mạc Tư Khoa, thưa thủ trưởng, em nói thẳng về Hà Nội được cơ mà. Em nói chuyện 4, 5 phút cũng không ai cắt.

– Đó là chuyện thời bình, còn ở đây là chiến tranh. Nhưng đối với em, Trung Ương cho cái đặc ân đó là quá xá rồi. Chứ ở đây có ai mà được như vậy, em cũng phải thông cảm Trung Ương một chút.

Thu lại nhăn nhó:

– Vậy em đề nghị thủ trưởng cứ cho em nằm lại đây chờ người tới rước, bây giờ em không tài nào đi nổi, thủ trưởng cứ trông đây cho rõ.

Thu đưa chân lên.

Tôi cứ xuýt xoa mãi. Tôi nói:

– Đành rằng Trung Ương sẽ có người tới rước, nhưng bây giờ hai đồng chí trạm có nhiệt tình, em cũng không nên từ chối, phải không hai đồng chí?

Tôi đưa hai cậu đến lều của Thu và nói ngay:

– Điện về tới Trung Ương ít nhất là hai ba hôm rồi. Chắc chắn như vậy. Nhưng còn từ Trung Ương điện vào đây phải vòng qua Khu 5 rồi Khu mới cho người tới. Và theo hai đồng chí này nói thì trạm xá gần đây nhất cũng mất hai ngày đường.

Thu lại cau mặt nhẹ nhàng:

– Khổ quá!

– Khổ thật! Nhưng biết làm sao bây giờ. Cũng may là có hai đồng chí đây… Bây giờ một mặt cứ vào trạm nằm, một mặt mình chờ Trung Ương.

Hai cậu giao liên thấy Thu quan trọng đến nỗi chân đau mà phải điện về Trung Ương, mà Thu lại gọi tôi là thủ trưởng thì tôi quan trọng đến chừng nào nữa? Cho nên hai anh chàng nài nỉ xin mời chúng tôi về trạm. Tôi cũng thừa biết rằng sở dĩ tôi quan trọng là vì tôi chỉ huy một cô gái đẹp. Thế thôi!

Cuối cùng Thu "nhận lời" vào trạm.

Những người nằm chung quanh đều nghễnh cổ lên nghe câu chuyện của chúng tôi. Có lẽ họ lấy làm ngạc nhiên về sự quan trọng của cô diễn viên múa, hay lấy làm lạ sự đãi ngộ đặc biệt đối với Thu, một bệnh nhân xoàng trong khi cả bọn họ đã nằm liệt mà có ai thèm để mắt tới cho đâu!

Nhưng ở đây không thể đối xử nhân đạo với ai hết, không thể bỏ qua một cơ hội để chụp lấy những quyền lợi bất ngờ, nhất là quyền lợi về vật chất: một mẩu cơm, một chỗ ngủ hay một viên thuốc. Ở đây người ta quen tàn nhẫn với nhau, quen lấn lướt nhau, quen hơn thua tranh chấp với nhau từng tí một có khi chỉ để được một mẩu cơm cháy. Chao ôi, thế thì tôi và Thu đâu có gì phải nghĩ suy cho mệt đối với những người bệnh đang nằm ngoài mưa kia khi chúng tôi được trân trọng rước vào trạm.

Tôi thú thật rằng tôi cũng chẳng xấu hổ chút nào. Họ có hiểu đâu là múa, đâu là Trung Ương, đâu là Liên Xô gì gì…Tôi thấy cần phải nói dối nhiều hơn nữa, hay hơn nữa để họ tin, để cuối cùng tôi được ngủ yên không ướt, được ăn no, hết sốt rét. Tóm lại trong một chữ: "sống". Thế thôi! Ai muốn lý tưởng hoá cuộc trường kỳ lội bộ trên con đường kỳ cục này thì hãy cứ nhảy vào, ngay cả người đã lấy xương máu người khác để vạch ra đường này nữa, hãy vào, nhảy vào đi, rồi sẽ thấy.

Rồi sẽ thấy cái lý tưởng mà họ đặt ra cho những người khác tôn thờ sẽ chẳng bằng nắm cơm thiu hay những ngụm nước trong bi-đông trên con đường này.

Chớ ai trách tôi nói dối, tôi lừa gạt. Từ ngày tôi đi lên đường Trường Sơn tôi nói dối tất cả. Bạn tôi hỏi: còn muối không, tôi nói đã hết. Ai hỏi tôi: mệt không, mệt ít tôi nói mệt nhiều. Ai hỏi tôi gì gì tôi cũng tìm cách nói dối, trừ khi nói thật có lợi hơn nói dối thì tôi mới nói thật. Tôi thấy mọi người đều nói dối rất hồn nhiên, ngay cả những người lớn nói những chuyện tày trời, nói lừa nói đảo, thì việc gì mình thẳng ruột ngựa cho thiệt thân.

Một người quảy ba-lô và đồ phụ tùng cho Thu. Họ tỏ ý miễn cưỡng giúp đỡ tôi nhưng tôi lập tức chối từ vì sợ lạm dụng lòng tốt của họ.

Đi được một quãng thì phải qua suối. Chao ôi đó là một vấn đề khó khăn gian khổ (nhưng nhất định thắng lợi!). Tôi gài vấn đề ngay:

– Chân của cô Thu bị ướt có thể bị nhiễm trùng đấy!

Thu chống gậy đứng dừng lại bên bờ suối. Bóng Thu in dưới nước lăng tăng theo những gợn sóng bỗng nhiên làm tôi bồi hồi.

Tôi chợt nghĩ: Nếu không có tôi đề ra chủ trương khiêng Thu đi mấy ngày đầu và nếu bây giờ không có tôi ở đây thì Thu sẽ ra sao. Đêm khuya thân gái dậm trường.

Cậu giao liên trẻ bảo:

– Để tôi chặt cây bắt cầu cho chị qua.

Tôi gạt ngay:

– Đi đất còn không vững nữa là đi cầu!

– Thế thì chặt đòn khiêng.

– Gì mà phải khiêng, có mấy bước thôi, nhảy phốc cái là qua bên kia ngay. Chậc!

Tôi ngắm nghía một lúc rồi hăm hở lột ba-lô cùng thắt lưng ra trao cho cậu trẻ và bảo:

– Cậu mang hộ tôi.

– Chi vậy?

– Để tôi cõng cô ấy sang cho mau.

Cả hai đều nhìn tôi. Tuy không nói ra, nhưng họ đều cho tôi định làm một chuyện không thể làm được.

Tôi giục:

– Lại đây Thu. Anh cõng em qua. Chần chờ ở đây mưa trút xuống ướt như chuột bây giờ.

Thu chần chờ, không nói không rằng, vẻ mặt buồn hiu. Có lẽ Thu ngao ngán đến cực độ con đường vinh quang này. Đường gì mà đường vậy. Đi không được, đứng không có bóng mát. Còn mưa thì nhánh đổ đâm lòi ruột. Đêm ngủ thấp thỏm sợ kẻ gian phi ăn cắp dép và bi-đông.

Thu lắc đầu cương quyết:

– Nhiễm trùng thi nhiễm, em lội qua thôi!

Tôi quát to:

– Tôi ra lệnh cho đồng chí phải để tôi cõng!

Thu rơm rớm nước mắt.

Cậu giao liên trẻ đau khổ ra mặt. Còn anh kia thì nhìn tôi, chắc anh ta biết tôi cái thân còn không muốn nổi, tôi mà cõng Thu thì sẽ dìm Thu ngay xuống nước.

Anh này bảo cậu trẻ:

– Thôi em cõng chị ấy đi!

Cậu trẻ ửng vành tai, ngó xuống.

Thu hất mái tóc ra phía sau như để lấy lại bình tĩnh. Còn tôi thì tôi đã thấy kết quả nắm chắc trong tay rồi. Tôi nói tiếp giọng nhỏ nhẹ:

– Thu không nên e ngại. Thu coi cậu ấy như em của Thu vậy. Vả lại có gì đâu, chân Thu đau, còn cậu ấy thì tự nguyện giúp Thu như giúp một người yếu đuối hoạn nạn.

Thật là khóc hổ người, cười ra nước mắt.

Cậu giao liên trẻ khom lưng xuống và Thu chậm chạp bước tới với chiếc gậy, đôi mắt Thu không rời bàn chân đau đang chọn những chỗ phẳng để đặt xuống một cách vô cùng thận trọng.

Thật là não lòng, chua cay, tủi hận. Đó, phương tiện di chuyển thương binh của bọn tôi như vậy đó, có hơn gì thời Bà Trưng Bà Triệu hay không? Vậy mà phình bụng chơi với phản lực trực thăng. Đánh với thằng giặc nó đi hành quân máy bay, chở cả gà quay và giấy vệ sinh theo. Nó toàn bay trên đầu; còn mình thì cứ ngóng cổ cò lên mà dòm và phản đối bằng mồm, chuyên môn chui rút lén lút, một đóm lửa cũng không dám nhóm, một làn khói cũng phải quạt cho tan. Hỏi chiến thắng lấy đâu mà có?

Thu đang đi bỗng dừng lại. Thu lắc đầu nguầy nguậy:

– Thôi anh à! Để em lội tốt hơn. Chả sao đâu, có ướt thì lát nữa khô!

Cậu giao liên trẻ nhìn Thu. Có lẽ từ lâu nay cậu ta chưa thấy người con gái nào đẹp như vậy. Cậu ta đã tự nguyện cõng Thu qua suối, nhưng dù sao cậu cũng hơi ngượng.

Còn anh kia thì không giục thêm tiếng nào nữa, có lẽ y thấy cũng hơi kỳ kỳ cho Thu.

Tôi không biết làm sao nữa. Đã lỡ đến đây rồi không lẽ lại bảo thôi, nhưng nếu không giục thì chưa chắc Thu đã nhận lời. Chính tôi cũng thấy nó làm sao ấy.

Thu đứng nhìn dòng nước ra dáng suy nghĩ lung lắm. Bỗng Thu kêu lên:

– Em đã có cách rồi anh ạ!

– Làm sao?

Thu làm thinh đi lại chỗ cậu giao liên trẻ đứng, lấy cái ba-lô và mở ra lấy một tấm vải mủ. Xong Thu ngồi xuống xăn quần lên rồi không nói không rằng Thu quấn chặt tấm vải mủ chung quanh bàn chân sưng của Thu.

Vậy là Thu có lối thoát. Hai anh giao liên đều hoan nghênh cái sáng kiến của Thu, nhưng có lẽ cả hai cùng tiếc rẻ … cơ hội để giúp đỡ người ngọc qua suối, để lấy đó làm các nhịp cầu giao cảm về sau.

Cái sáng kiến đó thực hiện xong một cách chậm chạp, nhưng chắc chắn. Thu hỏi tôi, sau khi đã nai nịt kỹ lưỡng bàn chân đau:

– Như thế này nước vô được không anh?

Tôi nói:

– Nếu lội qua nhanh thì nước vô không kịp còn lội chậm thì nhất định nước vô ngay.

Thu không nói gì, nàng chống gậy chậm chạp đi xuống mí nước rồi bước xuống nước.

Tôi cảm thấy tê buốt đến tận tủy. Nhưng Thu cứ từ từ đi ra dòng suối.

Thu từ từ xăn quần cao lên cho khỏi ướt. Làn da trắng nuốt làm cho tôi thấy mà phải chạnh lòng. Trắng quá đi mất từ gót chân trở lên vẫn cứ một màu trắng như tuyết, như bông bưởi.

Có lẽ Thu hơi ngượng nên thu không xăn nhanh mà chờ cho nước đến đâu Thu xăn lên đến đó. Có khi Thu phải dừng lại mà xăn để khỏi trượt ngã . Tôi cũng chờ nàng một cách tự nhiên. Thu không hề biết tôi đã dừng lại để nhìn đôi chân của nàng. Hai cậu giao liên cũng đưa mắt xoáy vào mục tiêu ấy.

Bỗng đùng !… Thu đang lội vụt trợt chân ngã xuống nước. Rõ tai hoạ thật! Hai người giao liên bương bả chạy tới. Tôi cũng cuống lên nhưng không thể đi nhanh được, vì tôi vừa dứt cơn sốt. Người sốt tối kỵ là trầm mình dưới nước. Tôi đã cố gắng hết sức để lội xuống nước. Những lỗ chân lông của tôi hở ra, hút nước vào tận tủy, cả người tôi tê dại, buốt lên, mất hết cảm giác.

Một chàng sốt rét lại muốn nâng đỡ một người bệnh thì làm sao? Cho nên tôi đã trượt chân và ngã xuống nước trước khi tới với Thu. Một cậu giao liên đã tới nơi và đỡ Thu dậy. Thu ướt loi ngoi. Thu nhìn tôi có vẻ buồn nản, trách móc hờn tủi. Tất cả tình cảm của một con người hay một con vật bị hy sinh đổ ra cái nhìn đó.

Cậu giao liên trẻ quàng tay qua lưng Thu, còn một tay thì nắm tay Thu một cách tự nhiên để đưa Thu đi tới. Hình như Thu cũng vui lòng về cái cử chỉ ấy

Thu ướt đẫm. Quần áo dán sát vào người. Bây giờ tôi mới biết rằng trong máu tôi còn nhiều hồng huyết cầu. Bởi vì tôi nhìn Thu, tôi thấy Thu đẹp và dường như tôi thấy hơi tiếc sao tôi không đến kịp để đỡ Thu.

Rồi cuối cùng Thu cũng qua được con suối. Sang đến bờ kia, Thu ngồi phệt xuống đất mà thở dốc. Mặt Thu tái lại trông tội nghiệp hết sức. Tôi vội vã đến mở những lớp ni-lông trên chân Thu ra. Thiệt là khốn nạn. Cái bàn chân thon nhỏ bây giờ tôi mới nhìn tận mắt. Nước lọt qua những kẽ hở ni-lông ướt cả vết thương. Những ngón chân đã quen những mặt phẳng và nhung lụa giờ đã tòe ra, móng xước lên và trầy trụa, tím ngắt.

Thu nhìn tôi săn sóc bàn chân cho Thu với vẻ hài lòng dễ chịu. Hơn tháng nay trên đường đá tai mèo này đâu có ai ngó ngàng tới Thu. Ai lo thân nấy! Còn lũ đàn ông vốn nịnh đầm, nhất là đối với các nữ văn công thì cũng quên bẵng đi cái đức tính thiên phú đó . Lâu nay đi chung với họ (các cô nữ văn công ấy) tôi nhiều lúc hay bực mình về sự yếu đuối, sự chậm chạp, sự nhỏng nhẽo của họ hơn là cảm thấy thơ thới vì sự tươi mát của họ mà ai cũng thích khi còn ở ngoài kia trong cuộc sống bình thường.


Đánh máy: Lê Thy

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 6


– 6-

Trời sáng lúc nào tôi cũng không rõ nữa. Tảng nặng bóng đêm đã được bàn tay kỳ diệu của hoá công nhấc đi mà đặt vào chỗ khác không phải trên ngực tôi, để cho trái tim tôi đập thong thả hơn.

Thì tôi biết rằng tôi chưa chết. Cái chết vừa là kẻ thù vừa là bạn thân của tôi, đã đeo đuổi ve vãn rình mò tôi suốt đêm qua. Cuộc sống đối với tôi bây giờ có nghĩa là chịu đựng cái chết dần mòn. Tôi vừa sung sướng lại vừa đau khổ nhận thấy mình còn sống.

Một vật vàng vàng như màu ký-nin pha loãng kia có lẽ là ánh nắng. Tôi còn nhận thấy cả màu xanh của lá cây và những bọt nước dưới chân suối.

Đột nhiên tôi thèm một cái giò gà, không phải là cái giò gà của lão Tào Tháo ban cho Âu Dương Tu mà là cái giò gà thật sự, đã luộc rất mềm trong cháo nấu bằng gạo mới thơm phức.

Chao ôi! Cầm lấy nó mà cạp vừa gặm vừa nhai da nó – vừa dai vừa dòn – nếu có kèm thêm một ít lá rau răm nữa thì ngon tuyệt.

Tôi mới hiểu vì sao anh chàng hồng quân trong truyện "Số Phận Một Con Người" của Cholokhov bị quân Đức bắt làm tù binh đã đưa hai tay nhận lấy một mẩu xương do một tên sĩ quan Đức từ bàn tiệc ném ra và ngoạm lấy, cạp lấy từng mẩu thịt còn sót lại một cách ngấu nghiến.

Tiếng nói chua lòm của cô xướng ngôn viên như một thứ độc dược đã tiếp sức với những ổ vi trùng tàn phá cơ thể và cân não tôi và làm cho chúng cứ mỗi giây nhão ra gấp triệu triệu lần.

Tôi ăn Tết ở Hà Nội cách đây hơn bốn tháng. Tôi ra đi giữa mùa xuân và cho đến bây giờ mùa xuân hãy còn kéo dài. Những ngày qua còn để sót lại trong trí óc tôi một mớ ký ức hỗn độn về những núi đồi rừng rậm, trảng trống, suối sâu, dốc cao, sông rộng, về những chặn đường ghê gớm nhất, kỳ cục nhất, tàn nhẫn nhất, bất ngờ nhất, khó hiểu nhất, đói khát nhất của cả loài người từ tạo thiên lập địa cho tới nay.

Tôi cố ngồi dậy. Cơ thể tôi ruỗng nát như cái bọng của cây bần trong có một con chim cú làm tổ, và thỉnh thoảng báo hung tin cho xóm làng.

Không hiểu bằng cách nào, tôi đã ngồi dậy được. Hai tay tôi nắm hai mép võng run run như con chim đại bàng rả cánh trong bão táp vừa đáp xuống một ngọn cây quá yếu mềm. Nước mưa từ người tôi chảy xuống ròng ròng. Tôi có hay đâu suốt trận mưa đêm qua cái võng kaki của tôi trở thành cái bồn nước ngâm cả người tôi giống như cái bồn chứa nước đá của bác sĩ Tôn Thất Tùng ngâm bệnh nhân cho xuống nhiệt độ trước khi đưa họ lên bàn để giải phẫu tim.

Vâng, trái tim của tôi không cần phải giải phẫu mà cần thay đổi cả trái tim khác.

Chiếc radio không còn kêu nữa. Cô xướng ngôn viên chắc mặc áo hồng vệ binh đi đến nhà Chủ Tịch Lưu Thiếu Kỳ mà tiếp tục tấn công vào nhà ông ta bằng cách mắc hàng trăm chiếc loa phóng thanh chung quanh. (mãi về sau tôi mới đọc thấy chi tiết này trên tờ báo ngoại quốc).

Ở đây là Văn Điển của tôi. Một cái Văn Điển không mộ chí và kéo dài hằng ngàn cây số mà mỗi tấc đất là một lóng xương.

Không hiểu sao tôi không muốn gọi Thu. Có lẽ vì lòng tự ái của một thằng đàn ông, hay vì tôi muốn so gươm với Thần Chết lần cuối cùng. Tôi đã xuống tận bờ suối và ngồi trên một phiến đá. Mặt nước tương đối phẳng lặng. Tôi nhìn xuống thấy đáy nước trong veo, thấy những đàn cá nhỏ lội thảnh thơi, nhưng bất giác tôi đưa tay khuấy nước lia lịa làm nước toé cả vào người tôi.

Tôi ôm mặt kêu lên, kinh hãi. Tôi lặng người ra, hoá đá. Tôi đã nhìn thấy một con ngợm ở dưới đáy nước đang nhìn lại tôi chòng chọc. Con ngợm đó giống hệt như tôi, nó là em tôi hay là anh tôi cũng nên.

Không, nó không là ai khác cả. Nó chính là tôi, chính tôi đã dội chiếu bóng hình xuống đấy.

Chập sau tôi lặng lẽ trở về lều trút nước trong võng ra và không đủ sức để vắt khô võng. Tôi đành nằm vật ra trên chiếc võng ướt với bộ đồ ướt vừa nước mưa vừa nước suối.

Ánh nắng hiện lên một cách hà tiện và dè dặt qua những kẹt cây. Đầu óc tôi tỉnh ra dần.

Tôi căm giận những tên nói dối. Chúng nói dối đã thành nghề. Chúng nói dối đến mức độ không còn phân biệt đâu là thực đâu là giả nữa. Chúng lừa mọi người và sau cùng chúng phỉnh gạt chính bản thân chúng nó.

Nắng lên, làn da tôi âm ấm. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng nhưng ghê ghê rờn rợn. Quả thật cơn sốt dài liên miên trong mấy ngày qua đã làm tôi thay đổi cả sinh lý lẫn tâm lý.

Tôi khẽ đưa tay thọc vào chiếc ba-lô trên đầu võng để lấy ra chiếc gương soi, để xác định lại một lần nữa những gì đã làm tôi kinh hãi lúc tôi nhìn xuống lòng suối lúc nãy.

Tôi khẽ lau chiếc gương tròn vào ngực và nâng nó lên mặt.

Tự nhiên tay tôi rụng rời, tôi đánh rơi chiếc gương con xuống đất. Mắt tôi tối sầm lại. Tai tôi nghe ù ù như có hằng trăm chiếc phi cơ vút qua. Trời đất xoay vần, đất dưới chân tôi như sắp sụp xuống. Gương mặt của tôi mà tôi tưởng không phải là của tôi. Không bao giờ một cái khuôn mặt trước kia như vậy, giờ đây lại hoá ra như thế được. Nhưng đau đớn thay, đó chính là của tôi, cái gương mặt ấy, vì chả lẽ nó là của ai cho được khi mà tôi đưa chiếc gương ngay lên mặt tôi. Nhưng, nếu đó thật là gương mặt của tôi thì làm sao tôi hiểu được?

Điều tôi nghĩ đến trước tiên là sự mong nhớ của cha mẹ tôi. Nếu cha mẹ tôi biết rằng tôi nằm giữa rừng và lâm trọng bệnh như thế này thì cha mẹ tôi sẽ làm gì?

Tôi có thể chết âm thầm, vô danh, vô nghĩa lý, nhưng còn những người sống sẽ nghĩ gì khi biết con cháu mình, chồng cha mình đi giải phóng Miền Nam – sự giải phóng không ai mong đợi – mà lại ra thần hồn đó?

Tôi không có ý định nhặt chiếc gương lên nữa vì nó làm tôi sợ hãi. Nó làm tôi trông thấy rõ gương mặt kỳ dị của tôi, cho tôi thấy rằng chỉ qua một đêm mưa và một cơn sốt, tôi đã bạc hết nửa mái đầu.

Nhưng đây không phải chỉ là một cơn sốt tầm thường, một cơn sốt hơn mọi cơn sốt. Cơn sốt vàng kí-nin; cơn sốt đỏ của những nốt muỗi đốt; cơn sốt của thế kỷ 20; cơn sốt của lòng tin và sự đổ nát; cơn sốt của chủ nghĩa và sự suy đồi trông thấy; cơn sốt của những tượng đá có hồn và cái hồn đó đã vụt bay mấy; cơn sốt của những canh bạc mù quáng; cơn sốt của chủ nghĩa cá nhân và những bài giáo điều; cơn sốt của những con vẹt ăn phải quả dại giờ bỗng nhiên câm mồm; cơn sốt của những bạo chúa khoác áo thánh thần; cơn sốt của những kẻ khố rách áo ôm đang loá mắt vì một cái thiên đường tự vẽ ra trước mắt; cơn sốt của những đứa trẻ con ngây thơ bị lường gạt quá dễ dàng; cơn sốt làm nóng bức cả loài người; cái cơn sốt đã làm nhơ uế không gian bằng một thứ bụi phóng xạ đặc biệt. Một cơn sốt như thế đó đã giáng vào tấm thân còm cõi kiệt sức của tôi.

Tôi bỗng nghe tiếng hớt hãi của Thu:

– Anh ơi! Ghê quá! Eo ơi!

Tôi trông thấy Thu vừa đi vừa bưng kín lấy mặt và lảo đảo bước vào lêu rồi rơi phịch xuống võng.

Tôi hỏi:

– Cái gì mà ghê gớm thế?

– Có một người chết!

Tôi nghe như có một làn gió vút qua gáy tôi. Tôi nghĩ có lẽ một người nào đó chết vì sốt, vì cơn mưa dầm đêm qua, cho nên tôi không hỏi tới nữa vì chết như thế là thường. Thu nằm im một chập rồi lại kêu lên:

– Eo ơi! Em sợ quá!

– Cái gì vậy chớ ?

– Đã bảo là chết mà. Anh thật!

– Chết là hết khổ, thế thôi.

– Nhưng ở đây kỳ cục lắm

Thu lại im một chốc rồi hỏi tôi:

– Đêm qua anh có nghe cây đổ không?

– Anh mê man không nghe gì ráo! – Sự thực thì tôi có nghe nhưng tôi đã quên.

– Em không nghe cây đổ mà sáng ra lại có người chết vì cây đổ. Eo ôi, khiếp quá đi mất!

Tôi nghĩ đến cảnh tượng cái cây đè lên người một anh bạn nào đó. Chết như thế thật là oan, thật là khủng khiếp. Nhưng không phải như vậy.

Thu nói:

– Cái nhánh cây tách ra như một lưỡi kiếm và cắm thẳng đứng xuống… eo ơi! Khiếp!…

Tôi kêu trời và lặng thinh. Còn Thu có lẽ đã vượt qua cơn sợ hãi, cho nên nàng ngồi dậy và kể tiếp một cách tỉ mỉ:

– Cái cây cắm ngay bụng anh ấy như người ta xiên cây lụi qua mình một con nhái và cắm luôn xuống đất. Bây giờ anh ấy bị dính cứng đó không biết làm sao gỡ ra. Kẻ thì bàn phải đào đất rất sâu mới lấy xác anh ta lên mà chôn được, kẻ thì bảo nên đốn ngang nhánh cây đi mà kéo anh ta lên. Cái nào cũng có lý nhưng ở đây không ai có cuốc có dao để có thể làm những việc đó cả.

– Nhánh cây to không? – Tôi hỏi.

– Bằng cây cột!

– Úy trời! Nát làm đôi còn gì?

Thu tiếp:

– Còn một nhánh khác rớt xuống làm đổ tăng của một anh nằm bên cạnh nhưng nó cong như vòng cầu cho nên anh kia không sao cả. Cái phần giữa của nhánh cây vừa chạm anh ta thì hai đầu đã đụng đất, cho nên nó không xuống được nữa. Không chết nhưng hồn vía mất hết.

Khiếp thật!

Sống thì thê thảm mà chết thì khủng khiếp. Sống thì lây lất thiếu thốn, đói khát còn chết thì kỳ cục vậy đó!

Thu bảo:

– Anh đi lại xem một chút đi!

– Làm gì? – Tôi nói – Vấn đề là mình nên rút kinh nghiệm nên mắc võng xa những cây lớn.

Thu nói:

– Em tưởng tượng cái nhánh cây từ trên cao rơi xuống như trời giáng, thế mà rơi trúng mình thì còn gì thân thể. Đi giữa rừng em thấy mình nhỏ bé, bất lực và nhụt hết ý chí nhất là không tự chủ được.

Tôi lặng thinh.

Thu nói đúng và đầy đủ quá về cuộc sống ở rừng.

Nhưng bây giờ tôi phải lo liệu mà đi vì cái thiên chức của tất cả mọi người trên đường này là đi. Với ý thức "chân cứng đá mềm" hẳn hoi chớ đâu có phải chuyện thường.

Cuối cùng tôi nhặt chiếc gương lên rồi cuối cùng tôi cũng bỏ nốt cái ý định không xem mặt tôi nữa – nghĩa là dù sao tôi cũng phải xem lại cho kỹ cái mặt của tôi để biết rõ mình hiện nay ra làm sao. Thật là một điều ghê gớm.

Tôi nghiêng đầu ra mép võng, tóc tôi rũ theo cái cử động ấy, chiếc gương đang nằm dưới đất tròn trịa in hình một lõm trời tròn. Nhưng cái lõm trời ấy bị tôi áng mất ngay.

Khổ cho tôi, tôi phải trông thấy mặt tôi, mình trông thấy mặt mình mà phải khổ. Trên đời nầy có ai từng biết cái nỗi khổ đó như tôi không?

Loáng thoáng tôi trông thấy gương mặt tôi hay gương mặt nào hao hao giống tôi chẳng hạn. Tôi phải thu hết những mẩu can đảm rơi rớt còn lại của tôi để nhặt chiếc gương lên.

Tôi nghi ngờ sự phản ảnh trung thực của chiếc gương. Tôi lau nó vào ngực rồi đưa lên mắt. Tôi lại lau khô nó lại lần nữa, lần này thì lâu hơn, tôi lại đưa chiếc gương lên mắt. Dù tôi đã biết trước mặt mũi của tôi mà tôi vẫn cứ ngạc nhiên như thường.

Than ôi! Tiếng kêu than thầm lặng đau đớn thống thiết từ trong thâm tâm tôi nhưng chẳng ai nghe thấy cho ở giữa chốn rừng sâu hoang dại này. Tôi không muốn kêu to lên, tôi chỉ muốn dìm nó xuống để mà lắng nghe mọi nỗi đắng cay chua chát.

Hồi bắt đầu ra đi, tôi cân đúng 73 kí lô, nay không còn bao nhiêu. Khi xưa, tôi đi nặng phục phịch, anh em bảo "như vịt xiêm", bây giờ thì cũng nặng nề nhưng không phục phịch nữa, mà nhẹ nhỏm như một cái que tre. Tôi không đánh rơi chiếc gương nữa mà tôi muốn nhìn mãi vào gương mặt tôi. Buồn thật!

Giá như cha mẹ tôi ở Miền Nam biết tôi ra thân thể này thì với giá nào ông bà cũng đem tôi về, về nhà hay về đâu cũng được, miễn là rời khỏi con đường danh tiếng này.

Tôi không hiểu vì sao tôi gầy nhanh đến thế. Mặt mũi hốc hác hơn cả mặt người ốm liệt giường. Tóc bù xù, rối nùi như tổ quạ dài xuống phủ kín cả mép tai. Ở đây không có cái gì cả, chỉ có một cái thừa thải: đó là sự vô lý. Tôi thấy có sự vô lý đã đi đến mức cùng cực của nó, không còn ai có thể giải thích được nữa, không có cái gì vô lý hơn nữa.

Tôi thấy thương thân, tủi phận và oán ghét đủ thứ trên đời, nhất là oán ghét những thằng hiện đang phè phỡn ô-tô, nhà lầu, luôn luôn chủ trương đánh nhau (bằng tay người khác) nhưng đến tiếng súng cũng không nghe thấy, đừng nói chi cầm súng. Con cháu họ thì đứa đi Nga, đứa đi Tàu – đi học để sau này về làm cha thiên hạ. Còn lũ con cái bần cố nông thì cứ lùa vào con đường vinh quang này, như người ta ném những que củi vào lò lửa không thương tiếc.

Tôi cũng từng biết hoàn cảnh vui vui của một bà già được mệnh danh là đồng chí cách mạng 30-40 chi đó. Mụ này thấy không có chồng mà lại có 2 con: một con gái hư hỏng nát bét cả Hà Nội ai cũng rõ, dắt trai vào nhà ăn bồ câu hầm với Cao Ly sâm như người ta hầm với củ cải. Còn một thằng con trai thì chán ghét cái cảnh giàu sang bất chính của gia đình, nên đang đi học lại đùng đùng xin về Nam chiến đấu.

Bà mẹ anh ta nghe tin con xung phong cảm tử như vậy, thay vì mừng rỡ hoan hô vì chính bà ta là một cán bộ rất cao cấp và lại là người Miền Nam nữa, nhưng bà ta lại rất đau khổ. Bà không biết nói với ai. Bà ta muốn ngăn đứa co mình lại, nhưng làm sao ngăn nó trong khi bà ta đang hô hào cho ai nấy cùng thi hành chủ trương "giải phóng Miền Nam" của Đảng? Mẹ bảo con chuyện gì cũng có thể được cả nhưng còn việc này thì bảo làm sao? Con nó sẽ phản đối. Mà nó có đầy đủ lý do để phản đối thì mới trả lời với nó làm sao?

Bà ta cũng thông minh. Bà ta chạy lên nhờ một ông lãnh tụ có uy tín hơn bà, gọi con bà tới và đem cái sự du học Đức-Tàu-Nga mà nhử nó. Bà ta lại đem thêm những gian nan chết chóc của chiến trường Miền Nam ra nói cho nó nghe để làm sự tương phản với cuộc sống nhung lụa của một du học sinh. Nhưng tội thay, con bà là một đứa trung thành với chánh sách của Đảng, nhưng đối với bà nó lại là một đứa con ngỗ nghịch. Nó đã bỏ bà, quảy ba lô mà gia nhập Trường Sơn để đi giải phóng Miền Nam. Nhưng than ôi, mặc dù trong ba-lô của cậu con cưng đó có hằng kí lô sâm Cao Ly củ nào của ấy to bằng củ cải, cậu ta vẫn chết bằng cơn sốt ác tính.

Chuyện đó đã xảy ra cách đây vài tháng ở quãng đường tôi đang nằm.

(xem tiếp tại https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/10/28/dường-di-khong-dến-7/)

Đánh máy: Lê Thy

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/10/26/d%c6%b0%e1%bb%9dng-di-khong-d%e1%ba%bfn-6/

Saturday, July 01, 2023

Xuân Vũ- Đường Đi Không Đến – 5

26/10/2009 — Lê Thy
- 5 -
Bây giờ là tháng năm, con én ở vùng rừng núi nầy không thấy đưa thoi dệt mộng cho ai cả bởi vì màu trời thâm thấp chì chì như cái bát xám ngắt úp lên trên đầu chúng tôi, lúc nào cũng cho chúng tôi cái cảm giác là trời sắp tuôn xuống những trận mưa tràn trề ngập lụt.

Cơn sốt vẫn kéo dài. Lỗ chân lông của tôi hở ra hút nước vào làm cho thân thể tôi giống như một cục cơm mắc mưa vậy.  Tôi cũng không còn biết so sánh thân thể tôi với cái gì cho đúng. Tôi chỉ cảm thấy nó sắp rả ra từng mảng một.

 Như vậy là tôi ngã sốt vào những ngày cuối xuân 1966, một cái năm còn đầy những dư âm của các trận Bình Giả, Đồng Xoài, Pleime… , cái năm đầy sự kiện lịch sử của nước ta, vào những ngày tôi hy vọng sẽ được  nhìn thấy lại quê hương và gia đình tôi trên mặt đất.

Cơn sốt đang hoành hoành tôi vô kể. Trong tôi mùa xuân đang chống lại cơn sốt, còn cơn sốt thì muốn vươn tới tràn ngập mùa xuân.  Cuộc vật lộn của những "kẻ ngoại lai" đó làm cho tôi rã rời tứ chi.

Đêm qua tôi  nằm giữa mưa.  Các bạn ơi, ai đã đi rừng đi núi, hãy cùng tôi nhớ lại những đêm mưa rừng.  Chao ơi! Mưa gì mưa thế, mưa nặng hạt, mưa mau, mưa dai dẳng, mưa mịt mùng. Giữa một cái trời mưa như vậy mà con người nằm im chịu dưới một cái tăng bốn bề gió táp. Mưa tạt hết hướng nầy đến hướng khác. Có bao giờ giọt mưa rơi thẳng góc xuống nóc tăng cho mình nhờ. Bao giờ nó cũng rơi xiên, rơi xéo lọt vào màn, vào võng mình.  Cho nên tấm tăng căng trên đầu mình cũng chỉ là một mái nhà tượng trưng, một thứ vinh quang cụ thể của cấp trên ban cho mình mà dù muốn dù không mình cũng phải hưởng (!).

May sao tôi còn một người bạn, ngoài Thu.  Người  nầy cũng nằm một võng với tôi, không  nói những  lời tâm sự mà những  câu lập trường, những câu hứa hẹn chiến thắng ngày mai.

Thật khó mà tưởng tượng được rằng tôi đã trải qua những cơn mưa như vậy. Mưa vây kín cả người tôi rớt vào ngực và mặt tôi những giọt băng giá và vào tâm tư tôi những đau buồn vô hạn. Cây trên rừng bắt đầu gãy đổ rắc rắc ầm ầm quanh tôi không ngớt.  Tôi lại bị cái tai nạn trời giáng đó đe dọa. Tôi phải dựng cả cái thính giác tôi dậy để lắng nghe để đối phó hoặc để trốn thoát nếu tôi cảm thấy trời giáng xuống cái con người bất hạnh của tôi.

Tôi nhìn ra trời.  Thấy gì đâu, một màu đen dày đặc như một bức tường sơn hắc ín dựng ngay trước mũi tôi.  Suối bắt đầu tràn nước đổ ầm ầm dưới chân tôi. Tôi không trông thấy nhưng tôi biết ở trên tảng đá mà anh em thường tới đó múc nước hoặc giặt giũ, nước đang cuộn lên trắng xoá.

Tôi thấy tôi bé lại như một hạt mưa rơi xuống từ vô tận, vỡ ra và trôi theo cái dòng nước sôi ấy. Và đời tôi đâu còn biết bám tựa vào đâu nữa.

Người bạn của tôi như muốn uốn nắn lập trường tư tưởng của tôi đã không ngớt nói với tôi: "Các đồng chí là những người yêu quí của Miền Nam, đi giải phóng Miền Nam khỏi sự áp bức bốc lột của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng là chính quyền Saigon. Các đồng chí mang trên vai sứ mạng vĩ đại của dân tộc.  Chiến thắng đã ló dạng kia rồi!" 

Từ lâu tôi không  còn thích nghe những lời na ná như vậy nữa.  Tôi cũng không còn suy nghĩ theo cái Kim Chỉ Nam đó nữa.  Tôi đã nghĩ theo cái sự thông minh mà cha mẹ tôi đã cho tôi, chớ không phải là kẻ nào khác, dù kẻ đó nó là ai đi nữa.

Người bạn này, tôi mang theo cũng là một sự bất đắc dĩ, bởi vì không ai muốn đeo trên lưng, vác y trên vai, hoặc đèo y bên hông mình nữa.  Tất cả đều chán chê y cho nên y mới còn ở lại đây mà làm bạn với thằng bất đắc chí này.

Nói vậy nhưng cũng có nhiều lúc y cho tôi những lời an ủi, những tiếng tơ lòng khá êm dịu.  Chính vì thế, chính vì có những khi y nói khác hẳn tiếng nói của Đảng mà tôi còn giữ y lại bên người tôi cho đến ngày hôm nay.

Hay tôi cứ nói quách ra rằng đó là cái ra-đi-ô  "ết-tăng-đa" mà nhà trường đã phát cho chúng tôi trước khi lên đường.  Một cái ra-đi-ô trăng-si-to như vậy ở Hà Nội đâu có phải dễ kiếm. Ít ra anh phải đi ngoại quốc và với mọi sự khéo léo luồn lọt thì anh mới mang nó nhập nội miền Bắc được.

Ấy vậy mà nằm trong tay tôi giờ đây, chưa chắc tôi sẽ giữ nó đến ngày mai.  Cái bộ pin Văn Điển trong ruột nó hầu như đã hết điện, cũng như những con người đi tới đây thì hết sinh lực vậy.

Hai tiếng Văn Điển đến với tôi trong lúc này thật là điều không hay ho chút nào.  Bởi nó gợi lên cho tôi cái tên của  một bãi tha ma: nghĩa trang Văn Điển.

Cái khí lạnh của Trường Sơn cùng với cái khí âm của nghĩa trang Văn Điển đè nặng, vây riết lấy tôi.

Hiện lên trước mặt tôi hàng ngàn ngôi mộ với những tấm  mộ bia cái thấp cái cao, cái mới cái cũ, cái xanh cái vàng.  Đó là nơi gửi xương thịt của một số cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc.

Ngoài đó những người bệnh tật hoặc có tuổi hết mong ngày về xứ thường than thở với bạn bè :-"Chắc tao phải ở lại Văn Điển rồi!"

Tôi thì tôi không phải ở lại Văn Điển nhưng tránh khỏi cái Văn Điển của Hà Nội, tôi lại phải nhìn thấy cái Văn Điển của Trường Sơn, cái thứ Văn Điển không có mộ bia và không có khói hương trống kèn . Hay nói đúng ra Trường Sơn giờ đây đã trở thành một Văn Điển kéo lê thê hằng ngàn cây số.

Chao ôi! Trong một cơn mưa mả nảy lên trong tôi bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu dằn vặt.  Bất giác tôi nghĩ đến chiếc xe tang với những nét sầu tủi của Huy Cận : "… thì ngựa ơi đi nhịp đầm chó nhảy, kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời.  Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi…" Chập chờn trước mắt tôi một cái đám ma …

Nghĩa là người chết được nhiều người đưa đi tới phần mộ, cũng có những người đi nửa chừng rồi trở lại.

Còn tôi, nếu tôi nhắm mắt lịm luôn giữa cơn mưa này thì ai hay? Ai đưa? Ai quay lại và đưa tôi về đâu ? Cái nơi tôi muốn đến thì ngoài tôi ra không ai đưa tôi đến được, còn cái nơi tôi đến được lại là cái nơi tôi không muốn đến.  Chết đi giữa lúc trong lòng còn mang nặng bao nhiêu hoài bảo về quê hương, về sự nghiệp thì xót xa quá.

– Chắc thằng này chết !

Câu đó lại văng vẳng bên tai tôi như một sự đánh giá xác thực vô cùng về bệnh trạng của tôi.  Trời mưa ghê quá, đang khi tôi thèm nắng ấm, thèm nhìn thấy mấy con gà mổ lúa trên sân, những chú gà con liu chiu lít chit bên mẹ, thì tôi lại phải chịu đựng một cơn mưa dai dẳng nhất vào một đêm dài nhất của đời tôi.

Không biết tôi vặn đài hồi nào mà tiếng nói từ trong loa cứ rì rì, tiếng của người con gái cố hò hét, nhưng đã mõn hơi, giống như một tiếng nói thoát ra từ một nấm mộ hoang đâu đây.  Tiếng nói là dấu hiệu của sự sống nhưng ở đây nó lại làm cho tôi nghe cái chết đến càng gần hơn.

Tôi nằm trên chiếc võng kaki dày cộp như da trâu này ngày đêm không lúc nào khô ráo vì trời cứ mưa lê thê, mưa rất to.  Sốt mà nằm trên chiếc võng như vậy có lẽ không nên thuốc gì, nhưng nếu tôi không nằm ở đó thì tôi nằm ở đâu? Không thể có nơi nào khác cho tôi nằm cả. Cho nên tôi phải nằm trên cái võng ướt đó mà thôi.

Thu đã dời võng nàng lại gần tôi, hai cái võng song song nhau.  Khi tôi tỉnh ra nàng kể lại rằng có lần tôi mê sảng bò xuống  bờ suối mà uống nước rồi nằm gục trên bờ suối đó.  Nếu nàng không trông thấy thì không hiểu tôi sẽ ra sao? Chính ra cũng không phải nàng trông thấy mà một gã nào đó trông thấy và gọi nàng ra.  Không biết làm sao mà Thu dìu tôi lên được với cặp chân bất đồng của nàng? Gã nào đó trông thấy tôi nằm đó cũng không buồn ngó tới.  Cuộc đời ở đây đã đi đến sự vô lý cùng tột.

Tại sao sốt mãi mà không cắt được cữ sốt ?

Tại sao phải ăn lạt hằng tháng trời, không có tí muối ? Anh phấn đấu muốn đi, anh không thể đi nổi.  Đó là chưa nói tới chứng bệnh phù thũng mù loà đến với anh.  Nhiều người đã trở thành quáng manh, chỉ cần có vài viên dầu cá thì mắt sáng lại, nhiều người thũng chỉ cần vài chục viên sinh tố là khỏi ngay.  Thế mà không có.  Không có thật tình.

Sự hy sinh là một điều cao quý.  Đến một mức độ mà con người còn chấp nhận thì nó còn là một sự cao quý nhưng một khi bắt buộc người ta  phải chịu đựng quá sức thì nó trở thành một sự dã man.

Nằm giữa mưa, giữa đêm dày đặc như vậy mà nghe một bài xã  luận của đài Bắc Kinh như tôi vừa nói trên kia thì cả một sự đại bất hạnh cho một anh cán bộ giải phóng.  Tôi đâu có muốn nghe, nhưng từng tiếng nói của cô xướng ngôn viên cứ rơi vào màng tai tôi như những hạt sỏi rơi trên mặt trống căng thẳng.  Những tiếng dội của nó bốc lên tận não cân của tôi vốn đã vàng úa vì kí-nin làm cho nó phải suy nghĩ-  những sự suy nghĩ bắt nguồn từ bài chửi trên đây, những sự suy nghĩ vơ vẩn lẩn quẩn, cùng quẫn, miên man không dứt mạch , không có câu giải đáp.

Mưa vẫn rơi.  Những hạt mưa nặng tâm tư rơi trên nóc tăng lộp độp rào rào không át nổi tiếng nói ri rỉ từ đài phát thanh Bắc Kinh do cái ra-đi-ô này truyền lại cho tôi.

Con suối từ chân tôi cứ tràn trề. Nước đổ ầm ầm.  Những thân cây từ trên nguồn cuốn phăng phăng theo nước chảy xuống tìm lối thoát va vào những gộp đá làm nên những tiếng động kinh hồn.  Nước như bị chặn lại ở quảng hẹp nên nó gào lên như sôi, như giận.

Giận ai hỡi suối ngàn? Từ nguồn, mi lao xuống như một thằng điên, thằng dại. Lao đầu vào tất cả nhưng không vỡ sọ nát đầu, mi vẫn còn sống nhăn ra với những nụ cười trắng xoá, kiêu ngạo khinh đời.  Mi giận nỗi gì, mi ức nỗi gì? Chẳng những người ta xua mi đi trên con đường thiên lý này mà chính mi cũng tự nguyện tự hào vì đi theo tiếng gọi thiêng liêng.  Sinh lực của mi bồi đắp da thịt cho cỏ cây, cho cả người và vật, làm vinh thân phì gia hàng nghìn kẻ cao sang quyền quý. 

Khi mình còn tràn trề sinh lực hữu ích cho đời thì thiên hạ đến với mi, quỳ gối bên mi mà uống lấy, mà múc lấy nguồn sống của mi ban phát cho họ với lòng quảng đại vô biên. Và chính  họ cũng không cần biết ơn kẻ đã làm lợi cho họ vì họ luôn luôn nghĩ rằng Trời sinh mi ra để làm lợi cho họ mà thôi. Nhưng đến khi sức mi đã cùng, lực mi đã kiệt thì chẳng ai còn nói tới mi nữa. Họ dẫm trên người mi, không hề biết đây chính là kẻ làm giàu cho họ, vun bồi cho cái ghế của họ lên cao chót vót.  Mà đúng vậy, họ đến với mi làm gì khi mà họ không còn hút của mi một chút sinh lực nào nữa? Vì vậy suối ơi! Khi mi còn thanh xuân, còn tràn trề sinh lực thì đừng phung phí nó, đừng có bốc tếu, đừng có dễ nghe lời.  Người đời lợi dụng vô cùng.  Maxime Gorki đã từng nói: "Vinh quang thay con người! Hai tiếng nghe vang vang kiêu hãnh…." Nhưng cũng chính ông ta đã viết rách toạc cả mặt giấy trắng: "… Chó đểu là con người!" Người ta biết tính vui bộc lộ sôi nổi của mi.  Người ta chỉ dí một phát điện vào cái lòng "tự hào" của mi thì mi ào ào tuôn ra tất cả lưu lượng của mi không chừa lấy một giọt để nuôi thân.  Rồi một ngày kia khi đã dốc cạn cả sức trai ra rồi thì mi chỉ còn là bộ xương rắn chết khô ngoằn ngoèo ở giữa sườn dốc chân núi trước những con mắt lạnh nhạt ngó nhìn.

Tôi nghĩ miên man vô bổ và phản động quá nữa là đằng khác nhưng tôi không thể bắt tôi dừng – nhất là trong một đêm mưa cô đơn mà hai lỗ tai phải hứng đầy những tiếng chửi.  Chửi nhau, điều đó đâu có gì hấp dẫn, nhưng những lời qua tiếng lại động đến trái tim tôi,  một trái tim đã tím bầm vì bị nhồi nặn, dằn vặt, ê chề chỉ còn lại một tí mảnh tươi hồng để nuôi sống cái cơ thể tàn rụi của tôi.

Nhưng giờ đây cái mảnh hồng huyết cầu ấy cũng đã bị đám siêu vi trùng nuốt phăng đi vào cái dạ dày trăm túi của chúng.  Những hạt mưa to rơi lộp độp trên nóc tăng làm cho tôi có cảm giác đó là những tràng bom B52, mà tới đây may phước cho tôi chưa được nếm lần nào.

Nhưng  Lạy Chúa tôi, không có tràng bom nào ác liệt hơn những lời chửi rủa hằn học của cô xướng ngôn viên đài Bắc Kinh.  Cô ta đang thay mặt cho hàng chục triệu đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Hoa nói tiếng nói Mao Chủ Tịch, kết tội Chủ Tịch Lưu Thế Kỳ – một người có 50 tuổi đảng giờ đây trở thành tên phản đảng.  Thật khó hiểu hơn cả những chuyện Tào Mạnh Đức thích khách Đổng Trác, chuyện Bàng Quyên chặt chân Tôn Tẩn và chuyện Ravaillac ám sát Heri IV.

Ở thế giới Tư Bản, và ở thế giới Cộng Sản cũng vậy thôi: chuyện gì  mà không có thể xảy ra?

Và  rồi dần dần người ta cũng hiểu.  Cũng như 10 năm trước đây Mao Trạch Đông và Krouchev choảng nhau, tốn hao đến hằng tấn nước bọt, rồi tốn hằng suối lệ và máu.  Chuyện đó làm kinh ngạc năm châu một thời nhưng bây giờ thì nó có còn làm ai chú ý nữa đâu.  Sự đời hễ thiêng liêng hoá quá rồi ra sẽ trở thành hèn kém quá.  Nên giữ con người ở vị trí của loài vật hai chân mà thôi.  Thật là một điều mong muốn Voltaire nói, được đi bằng bốn chân.
(xem tiếp tại đây)
Đánh máy: Lê Thy 

https://web.archive.org/web/20230701023425/https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/10/26/d%C6%B0%E1%BB%9Dng-di-khong-d%E1%BA%BFn-5/

XUÂN VŨ - MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG – 6


Bận rộn chuyện gì chẳng ra chuyện gì, nhưng cuối cùng rồi cũng hết một ngày. Lúc gần tối, thì từ ngoài giao liên dẫn tới một đoàn rất đông, gồm đủ các hạng quân dân chánh.

Bây giờ chúng tôi mới nôn nao nghĩ tới việc đi. Chậm mất một ngày rồi. Trừ Núi ra, tất cả đều có thể đi. Phải đi dù thế nào thì cũng gần với quê hương hơn.

Ngữ nói với tôi bằng một giọng đầy nước mắt:

– Các anh và Thu cứ đi đi, để em ở
Lại với Núi, nếu nó cố mệnh hệ nào thì cũng có em bên cạnh, như vậy nó đỡ tủi thân. Còn Trời Phật mà phù hộ nó khỏe lên được thì em sẽ dìu nó đi dần tới đâu hay tới đó. Luật lệ của đường dây là chỉ đưa người vào không cho người ra, mình không thể cưỡng lại được.

Tôi nói :

– Đã đành là các anh phải đi rồi, nhưng trong lòng thấy nó kỳ cục thế nào ấy cậu ạ !

– Thì cũng như lần trước, anh ốm nằm lại chúng em cũng cứ đi đó thì sao? Đó là ý định của ở trên mà. Ai bịnh cứ nằm lại, ai khỏe cứ việc đi. Cách mạng Miền Nam đang chờ mình như chờ nước uống !

Thế là chúng tôi dứt khoát chia tay. Tôi và Hoàng, Thu sửa soạn để mai lên đường. Thu lúc nào cũng nhăn nhó với cái chân đau. Nàng tìm một cây gậy thật chắc, Hoàng thì lo băng đầu gối như cầu thủ bóng tròn trước khi ra sân cỏ. Riêng tôi thì không cần gậy, còn cái bao tử loét thì không thể băng bó gì được cứ để thế mà đi, được khúc nào hay khúc ấy. Chừng nào mửa ra máu cục thì cách mạng cho nghỉ ngơi.

Trong đoàn mới vào tôi nhận thấy có một tốp rất phân biệt với mọi người. Tốp này độ chừng một tiểu đội, nhưng những chiến sĩ thì mang rất nhiều máy móc khác hẳn với bộ đội thường. Khi đi xuống suối lấy nước, tôi nghe toán chiến sĩ xầm xì với nhau thì tôi biết đây là đội bảo vệ cho một ông kẹ. Nhưng không biết ông kẹ đó tên gì. Lượt trở lên, khi đi ngang chỗ họ đóng, tôi giả vờ đánh rơi gà mèn nước và ngồi xuống, tay nhặt gà mèn mắt ngó vào cái võng mà tôi ngờ là ông kẹ đang nằm. Quả nhiên tiếng gà men rơi lầm ông ta giật mình ngóc đầu dậy nhìn ra. Tôi nhận ra ngay ông ta.

Tưởng ai lạ. Một bộ mặt sắt có dấu bấm như vết móp trên chiếc hộp lon chứ không phải cái sẹo. Ông ta nhìn người bằng cặp mắt lúc nào cũng trợn lên trắng dã như muốn nuốt sống đối tượng. Nếu trên sân khấu cần một vai tướng cướp thì cứ đưa y phục cho ông ta, còn mặt mũi thì khỏi cần vẽ nanh hoặc đeo râu thêm. Một số cán bộ rất sợ ông ta, nhưng ngược lại một số khác thì lại coi ông ta là một tên chăn bò đắc thời được một bàn tay quyền lực bốc lên ngồi ghế cao và trao cho cây gậy chỉ huy ba quân với cái ga-lông bốn sao và nhành dương liễu rũ.

Tôi đã từng nghe ông ta nói chuyện nhiều lần. Lần sau cùng tại Viện Văn học -cũng còn được nghệ sĩ gọi là Sở Mạ Kền- của bà già trầu móm Hoài Thanh. Hoài Thanh cũng có một bộ mặt móp một bên như ông kẹ này. Lần đó ông kẹ đập thêm vài búa vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm vốn đã bẹp dí dưới sức đè của đảng rồi – như những "nhát ân huệ."

Ông ta nói rổn rảng, múa tay tít thò lò, nhưng nghệ sĩ che tay cười nhếch mép khi ông ta tuyên bố.

– Dù phải chống Mỹ năm năm, mười năm, hai mươi năm hay một triệu năm chúng ta cũng chống tới cùng.

Một triệu năm ? Sau khi tan buổi họp, Nguyễn Tuân và tôi đạp xe song song trên đường Phan Thanh Giản, ông hỏi tôi:

– Anh có nghe gì không?

– Dạ nghe gì ạ?

– Chống Mỹ một triệu năm ! Anh không nghe à?

– Dạ, tôi có nghe.

– Anh nghĩ thế nào về "cái một triệu năm đó?

– Dạ tôi không nghĩ thế nào cả.

– Rõ một khái niệm kỳ quặc về con số! Tôi chưa nghe ai nói như vậy bao giờ.

– Tôi cũng thế. Đây là lần đầu tiên.

Cái ông mặt sắt kia coi nghệ sĩ như rác. Và nghệ sĩ cũng coi ông ta không như gì cả. Ông ta hò hét thì to nhưng sau khi ông dứt lời thì người ta chẳng biết ông muốn nói gì. Bây giờ ông lại vô đây chắc hẳn là đi giải phóng Miền Nam rồi. Bỏ mẹ Miền Nam rồi. Bỏ mẹ Miền Nam rồi. Hợp tác xã là cái chắc!

Tôi chợt nghĩ ngay như thế khi tôi nhác thấy bộ mặt sắt kia. Tôi nhặt chiếc gà mèn trở xuống suốì múc nước rồi trở về chỗ cũ. Tôi đến rỉ tai Hoàng, Hoàng cười:

– Dân Nam kỳ mình chuyên môn gậm cùi bắp mà cứ tưởng nhân sâm.

– Thằng cha Tài Lé (tức Sơn Nam) nói Nam kỳ là thuộc địa của Bắc kỳ, đúng vô cùng. Đúng từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam.

– Ông ta mà vô trỏng thì hợp tác xã, chỉnh huấn, lập trường giai cấp là gốc rồi. Hồi tao ở Bưngari mới về, tao có đọc bài "Cây đa bến cũ con đò khác đưa" của ông.

– Ừ, lúc đó ổng đang phụ trách Trưởng ban Nông thôn của Trung ương đảng. Do đó ông cỡi ngựa xem hoa các hợp tác xã hàng mã một vòng rồi về nói cho thư ký viết phứa ra bài đó.

– Văn chương hay ra phết đấy chứ nhi ?

– Văn chương mà nói làm chi. Lập trường kia mới đáng kể. Bọn nhà văn chúng tôi phải lấy bài đó ra làm phương hướng sáng tác đấy. Bên Hội Nhạc sĩ của ông gặm không vô phải không?

– Ai thì tao không biết, chứ tao rặn không ra nốt nào cho hợp tác xã cả !

– Nói đùa cho vui, chứ thực tình là tôi nghĩ đến số phận của Miền Nam qua câu nói bất hủ của Tài "lé". Anh chàng này chỉ có một khuyết điểm là cặp mắt lé. Nhưng dù "lé," Tài vẫn nhìn sự vật rất chính xác.

Ông kẹ mặt sắt này làm cho tôi nhớ câu nói của Tài. Nó đã được chứng minh từ hồi kháng chiến. Nam Bộ là miếng thịt bít tết tươi roi rói mà đám Bắc kỳ từ Trung ương vào là một lũ kên kên, chúng chia nhau không dành cho dân địa phương một thẻo nhỏ.

Ra Bắc cũng thế. Thằng Bí thư tỉnh ủy ngoài Bắc trong kháng chiến thì hòa bình được vô Trung ương, ngược lại thằng Bí thư của Thành Đồng Tổ Quốc nghe lời cụ Hồ dụ dỗ đi tập kết hai năm về, thì nay đã mười năm mới trốn chui trốn nhũi như ăn trộm trở lại quê hương. Mười năm trên đất Bắc thằng Tỉnh ủy đi cạo muối, nhà cửa thì ga-ra tư sản. Ông Chủ tịch tỉnh tôi ở một cái ga ra tệ hơn cả chuồng heo. Bây giờ Nam kỳ lại bị "Bắc kỳ thuộc" lần thứ hai. Người cầm cán cho hai lần Bắc thuộc này chính là cụ Hồ. Dân Nam kỳ hận tràn lòng, đau như hoạn, nhưng lỡ tin nên mắc, gái Nam ngồi phải cọc Bắc, không dám kêu.

Sáng hôm sau hành quân. Giao liên Phẩm ra địa điểm đóng quân sớm lắm. Cậu ta cũng "đả thông" cho khách những điều cần thiết rồi bắt đầu dắt đoàn người đi.

Tôi đến sờ trán thằng Núi, thấy nó bớt sốt, nhưng vẫn mê man. Không biết ở trên đưa một anh chàng học vẽ chưa ra họa sĩ như thế này vô Nam để làm cái giống gì? Nhìn qua nét vẽ của anh ta, tôi thấy anh ta cần phải học ít nhất là ba năm nữa mới vẽ đúng hình khối và anatomy. Rủi nó chết ở đây, ai khổ ai đau chứ Trung ương đâu có đau khổ chút nào. Hơn nữa Trung ương đâu có biết tới.

Chúng tôi được đi sát với giao liên nghĩa là đi đầu đoàn. Nhưng vì Thu đi chậm nên bị lính kêu, Phẩm lại đẩy chúng tôi xuống khúc giữa. Đến lúc nghỉ trưa, cũng do yêu cầu cửa lính, đám dân chánh chúng tôi lại bị cho xách đèn đỏ bọc hậu, nhưng rồi vẫn cứ rơi dần lại phía sau. Con nhà lính còn cực khỏe đi vượt lên phía trước hết cả.

Người dẫn đầu của toán sau cùng là tôi. Người đi sau cùng của toán sau cùng là Thu. Người đi giữa cố nhiên là nhạc sĩ họ Hoàng. Thỉnh thoảng nhà nhạc sĩ dừng lại gục trên đầu gậy (tôi phải dừng lại chờ) quắc mắt về phía trước càu nhàu:

– Mày hỏi chuyền dùm thằng Phẩm xem nó dẫn có lạc đường không mậy ?

– Đường gì mà lạc. Nó đi hàng ngày mà!

– Đường gì kỳ cục thế này chứ. Không bước được một bước trên mặt đất bằng !

– Đường giải phóng miền Nam chớ đường gì mà ky cục! Đây Trường Sơn vinh quang mà!

– Đường gì đi hoài không đến. Vinh gì mà vinh?

– Vì nó là đường đi không đến ! Vinh thì có vinh nhưng nó không đến vẫn không đến.

Nói pha trò vần lân một chút vậy rồi đi tới nữa. Cái điệp khúc này nhà nhạc sĩ cứ lặp đi lặp lại với giọng tenor.

Bỗng được lệnh của giao liên truyền lại: "Nghỉ mười phút."

Hoàng ném cái gậy ngồi phệch xuống đất ngay tựa lưng vào chiếc ba lô soải hai chân ra thở phào:

– Tưởng mày quên cho nghỉ chớ!

– Uống nước uống non đi cha nội, ở đó mà càu nhàu. Nó lại bắt đi nữa bây giờ!

Tôi quay lại Thu:

– Thu này, em có thấy cái ông mặt sắt đi ở giữa đoàn không ?

– Không, ủa mà có, cái ông môi thâm sịt đầu vuông như tảng đá kê cột nhà phải không?

– Ừ chính là ông kẹ đấy !

– Để làm gì?

– Em có muốn xin về Hà Nội thì xin ông ấy ngay bây giờ đi!

– Thôi đi anh đừng có đùa ! – Thu hơi cáu.

– Anh nói thật mà. Ông mà đồng ý là giao liên phải kiệu em ra Hà Nội đấy.

Từ ngày thằng Hồng trốn mất, Thu không còn tí hy vọng gì quay lại nữa, nên đành phải "đi giải phóng Miền Nam… cùng quyết tiến bước" vậy.

Hoàng tợp ngụm nước rồi nói:

– Vô tới trạm trong anh Bảy sẽ nấu mẻ cao khỉ cho lem gái tẩm chân là trèo núi như thần thôi.

– Anh có mang theo đó à ?

– Tao nhất định thắng lợi mà !

Lệnh giao liên truyền xuống:

– Tiếp tục đi. Còn một chặng ngắn tới trạm. (Đây chỉ là lối động viên của giao liên thôi. Một chặng của họ là vô tận. Có khi lội hộc máu cũng chưa tới

– Lệnh nghỉ vừa truyền xong thì lại có lệnh đi !- Hoàng nhạc sĩ quát với cặp mắt nảy lửa- Nghỉ chưa hết thúi cái đít thì bắt đi ! Thằng phải gió mày có khùng không hả?

Tuy giận dữ như vậy nhưng họ Hoàng vẫn gượng chỏi gậy đứng đậy lụm cụm di theo. Được một quãng tôi bị "đút đuôi," đoàn đã bỏ tôi xa lắc, tôi quay lại thì họ Hoàng cách tôi một quãng khá xa và không thấy Thu đâu nữa. Tôi đứng chờ Hoàng tới và hỏi:

– Thu đâu ?

– Còn múa Hồ Thiên Nga ở đằng sau. Mày là Hoàng tử trở lại rước.

– Hồi mới xuất phát giao liên bảo cố nhiều đường mòn "ngánh" coi chừng lạc, mình lớ quớ bị lạc cho coi.

– Mày trở lại rước nó đi !

– Khổ quá! – Tôi ngóng phía trước: Đoàn đi mất hút, không chờ. Nhìn phía sau: Không thấy Thu. Tôi bèn tụt ba lô ném xuống đất bảo:

– Anh ngồi đây chờ.

– Ừ, đi cho lâu lâu nghe !

– Đứt đuôi thế này còn bảo lâu lâu.

– Kệ mẹ nó. Tao cần nghỉ cái đã. Mà nè ! Tao bảo nè!

Tôi vừa đi được ít bước thì quay lại gắt:

– Gì?

– Mày tới đó nếu nó bi cọp ăn thì quơ ít xương đem về cho tao nấu cao nghe chưa?

Tôi phát quạu, làm thinh, đi thẳng. Được một quãng xa chừng nửa cây số thấy Thu ngồi ở ven đường. Tôi quát:

– Sao ngồi đó? Có đi mau lên không?

Thu không nói không rằng. Tôi vẫn chưa hết giận:

– Người ta đi mất đất rồi, mau lên.

Thu vẫn không nhúc nhích. Trời ơi, trông mặt nàng mới thảm hại làm sao. Tôi đỡ nàng đứng dậy bảo:

– Đưa ba lô đây anh mang cho.

Nàng chỏi gậy đứng lên và bước từng bước một như xẩm bó chân. Tôi cũng chẳng oai phong gì. Chỉ được cái may là bao tử chưa đồng khởi.

Tôi đi chậm chậm bên nàng, cố tìm cách đưa nàng đi tới, chậm như rùa cũng được, miễn là đừng ngồi lại, vì Mác có dạy: "Mọi vật đều tiến triển;, cái giống đếch gì đứng lại thì có nghĩa là thụt lùi !"

Đứng lại mà đã là thụt lùi rồi, thì ngồi như Thu còn thụt lùi bao nhiêu nữa?

Tôi nhìn xuống gót chân Thu, định hỏi: "Cái cổ chân củaa em có đỡ không?" (Đỡ gì mà đỡ! Biết vậy nhưng vẫn cứ hỏi). Nhưng tôi chợt nhận ra mấy lớp băng nhuộm máu đỏ lòm.

Tôi kêu lên:

– Chân em bị thương à?

– ….

– Bị thương hồi nào, sao không kêu?

– ….

– Vấp đá hả ?

Thu không nói một tiếng. Mắt nàng bật ra nước mắt. Nàng úp mặt vào đầu gậy mà oà lên.

– Cái gì vậy? Tôi quát om lên. Tiếng quát vang lên dội lại từ sườn núi.- cái gì thì nói, khóc khóc cái gì ? Cứ khóc rồi tới nơi hay sa…o? – Tôi dậm chân đồm độp.

Thu vẫn gục đầu vào cây gậy mà nức nở, đôi vai gầy gò run lên. Tôi chợt hiểu ra rồi. Nàng có kinh.

Từ cái lần lấy đường thủy làm đường bộ ngâm mình dưới suối cả ngày, nàng thường hay khó ở. Đàn bà con gái, cái gì cũng rắc rối cả. Biết thân như vậy thì làm B quay phứt đi hồi ở mấy trạm ngoài, lại còn lê vô tới đây làm gì kia chứ! Tôi hậm hực nghĩ. Nhưng khi trông thấy gương mặt nàng đầm đìa nước mắt tôi hối hận. Tôi đến bên nàng khẽ hôn vào vệt nước mắt và nói:

– Anh cho chân em một lá bùa sẽ hết đau ngay.

Thu đưa tay ra vẫy vẫy:

– Đưa ba lô đây cho em !

– Đi đã không nổi, còn mang ba lô !

– Không, em đi nổi. Em hết đau rồi !

– Thì đi đi xem nào !

– Anh cứ đưa ba lô cho em. Em khỏe lại rồi ! Em không muốn ai giúp em hết.

Nàng bi chạm tự ái vì những câu không dịu ngọt của tôi . Tôi thấy có chút hối hận nên dỗ dành. Tôi nói như viết tùy bút:

– Em cố đi lên chút nữa đi. Sắp tới nơi rồi. Mình sẽ nghỉ hai ba ngày. Nghỉ chừng nào chân em hết đau ta lại đi, đi được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Anh chẳng cần tới nơi nữa. Không có em tới, một mình anh chẳng thú vị gì. Anh sẽ tới trong giấc mơ hồi hương, trong thực tế và chỉ trong mộng, anh phải có em. Đi, di em!

Tôi tưởng văn chương mồm của tôi đã vuốt nhẹ được trái tim đau, lau khô được dòng nước mắt của nàng chẳng ngờ lại ngược lại.

Nàng càng khóc to lên và đứng lại. Quờ lấy quai ba lô giật ra khỏi vai tôi buông xuống đất và nói đứt quãng:

– Anh đi đi, đi… cho tới quê nhà… Còn em… em chết ở đây! Nói xong nàng ngồi khuỵu xuống.

Tôi nắm tay lôi nàng đứng lên. Mặt nàng trắng bợt ra, đầm đìa nước mắt. Tôi nói cũng hết ra tiếng:

– Đi em ! Cố lên. Tới chỗ anh Hoàng sẽ nghỉ. Kia kìa cách đây có vài… chục thước! – Tôi lại cũng cái lối động viên của giao liên. Đứng ra đó là cái lối cổ điển cửa đảng, cái lối treo bó cỏ trước đầu ngựa muôn năm.

Tôi lại mang ba lô lên vai và dìu Thu đi, vừa đi vừa "viết" thêm mấy chục đoạn tùy bút. Có lẽ đó là những đoạn văn chương hay nhất của tôi, những đoạn được viết ra từ sự rung động cực kỳ mãnh liệt, từ một khung cảnh bi thương nhất mà tôi chưa từng sống cho đến cái buổi chiều hôm ấy. Tôi nói như thằng điên, tôi nói như một thi sĩ ngâm thơ trước dân chúng yêu mến mình, tôi nói như diễn thuyết, như một thằng láo toét, tôi nói những điều phản lại chính lòng tôi: "Cố gắng đi em rồi ta sẽ tới ! Cách mạng Miền Nam đang mong chờ… ! ! "

Nàng bước theo tôi, mỗi bước một giọt nước mắt, không phải "Lệ" (1) của Xuân Diệu, "rách đau thương đi giữa cuộc đời," cũng không phải Lệ của kịch sĩ bôi cù-là trong vở Lu ba (2), mà là lệ của một nữ nghệ sĩ đẹp tuyệt trần rơi thấm đá Trường Sơn không phải để nở thành một đóa thơ, mà là để ghi dấu một tội ác.

Tôi cố hết sức dìu nàng đi tới, lưng nặng như núi đè, tay đẩy lưng nàng như đẩy một chiếc xuồng mắc cạn. Tôi đã lê cái thân tàn của tôi không nổi mà còn phải đèo cái của quí này, trời hỡi, còn có sự bất công nào bằng?

Nhưng trời cũng thương người. Cuối cùng rồi tôi cũng đưa nàng tới chỗ Hoàng ngồi đợi. Hoàng đang sửa lại cái "giơ- nui-de" cầu thủ trên đầu gối.

Tôi cố gượng pha trò:

– Sút có vô quả nào không??

– Có vớ hai quả !

– Nào, "đứng lên đi, người của núi sông, nặng lòng chi ngày xưa vương vấn. " (3) "'

– Nứng thế đéo nào nổi.

– Xuỵt! – Tôi trợn mắt vào Hoàng.

– Đứng lên hay nằm xuống cho khỏe thân ?

– Người ta đi xa ba ngàn dặm rồi. – Tôi giục, và khoác luôn chiếc ba lô của tôi lên vai, như một anh hùng giết giặc sắp được Bác bắt tay và gắn huân chương chiến công và một tay đẩy Thu, một tay lôi Hoàng. Vì biết chắc nếu để Thu ngồi xuống thì cả hai người đều sẽ đồng tình mà đóng chốt luôn tại đây.

Cũng may, hai người giác ngộ khá cao nên "thề quyết tiến bước." Đi được một quãng thì đụng ngã ba. Cái ngã ba này to lớn thênh thang hơn bất cứ ngã ba nào trên đường từ Làng Ho vô đây.

– Đi ngả nào anh ? -Tôi hỏi Hoàng- Không khéo mình đi xuống Bác Kế thì hỏng.

– Ừ nhỉ ! Đi ngõ nào bây giờ, tớ không biết mô tê!

Tôi hoang mang không biết đi đường nào. Nếu đi sai sẽ chẳng đến trạm, việc đó đã hẳn rồi ! Nhưng còn thêm cái nguy hiểm là có thể đụng vào chướng ngại hoặc lọt vào khu tử địa thì nguy. Tôi đã bi lạc vô trại tù binh một lần và bi các ông cai ngục xét giấy, gằm ghè dữ quá, làm như mình là do thám không bằng.

Hoàng và Thu chộp lấy cơ hội ngồi xuống nghỉ. Ngồi xuống thì đứng lên, có khó gì ! Nhưng đó là đối với những người bình thường kìa, còn ở đây lại khác. Ở đây ngồi xuống được là đít dính với đất, mọc rễ ngay tức khắc chẳng đứng lên nổi.

Phải đấu tranh tư tưởng, phải hát thầm bài Giải Phóng Miền Nam của trại cưa Kim Hữu mới đứng lên được !

– Đi ngả nào? – Hoàng hỏi.

– Có thể ngả này -Tôi trỏ – Ngả phía bên trái.

– Ngả nào thì tùy mày đấy' Tao không biết ngả nào là ngả đéo nào!

– Hình như có dấu chân.

– Dấu chân gì in trên sỏi đá được.

– Thì tôi tưởng tượng ra thôi! -Tôi thở phào- Mệt quá! Đủ thứ rắc rối. Thôi đi mẹ nó ngả đó đi.

– Không được! Nguyên tắc của giao liên đề ra là nếu rủi bi lạc thì cứ ngồi tại chỗ họ sẽ trở lại tìm. Đi bậy bạ họ không tìm được.

Tôi nói :

– Đó là nguyên tắc xưa rồi. Bây giờ mình đi lạc họ bỏ 1uôrl, họ không có trở lại tìm đâu.

– Thằng Phẩm nó tình cảm với bọn mình mà !

– Tình thì tình, cảm thì cảm nhưng nó mệt nó không đi tìm đâu.

– Vậy thì làm gì bây giờ?

Thu buột miệng nói:

– Mình cứ ngồi ở tại đây, chốc nữa anh ấy trở ra thế nào cũng gặp mình.

– Biết đâu nó lại đi đường khác.

– Đường khác là đường nào ?

Cãi với nhau một lúc, cả ba thấy cái biện pháp ngồi ỳ lại đây là phúc lợi hơn cả và hợp lý cho bộ giò nên ai nấy đều tìm chỗ mắc võng nằm chờ và tự giải lao bằng số nước còn lại trong bi đông, mỗi người bận rộn một kiểu.

Thu mở băng ra xem lại cái cổ chân, Hoàng thì củng cố cái bánh chè còn tôi thì ngủ. Nắng chiều nóng như thiêu, quần áo đã đẫm mồ hôi như tắm. Khi thức dậy thấy mình nằm giữa nắng vàng… chẳng có thơ mộng một chút nào, ngược lại tưởng đang bi cảm… nắng và có ý nghĩ mình sẽ phải đi nhà thương Biên Hòa.

Tôi nhảy xuống đất chạy vào một mép núi có bóng mát, tuột cả áo ra dùng làm quạt và quạt bất đếm bằng cái áo đẫm mồ hôi kia. .

Quả thật một chập sau thì Phẩm trở lại. Cả hai bên đều mừng rỡ như những tình nhân tái ngộ.

– Tôi tưởng các anh đi lạc rồi.

– Đứt đuôi thôi .

– Vâng, hễ đứt thì cứ ở tại chỗ chờ, đi bậy nguy hiểm lắm.

– Từ đây tới trạm còn xa không?

– Hơn tiếng đồng hồ.

– Vậy thì không sao. Bây giờ còn sớm. Tôi nói.

– Còn sớm gì nữa, mặt trời sắp lặn rồi ! -Thu cãi lại.- Em làm sao lết cho kịp

– Em cứ coi như múa một lớp Hồ Thiên Nga là tới chứ gì .

Hoàng pha trò nhưng Thu không cười nổi. Phẩm đến bên tôi, giọng cảm động

– Thôi các anh đi, mạnh giỏi nhé! Anh có gặp anhnhà văn gì, nói em nhắn lời thăm anh ấy. Tiếc quá anh có đi ngang đây mà em không… gặp để hàn huyên.

Cậu bé rưng rưng nước mắt bắt tay tôi. Tồi bỗng thấy thương tôi thì ít, thương cậu bé thì nhiều. Nó ở lọt tỏm giữa hoang dại đầy đe dọa, một loại "Bạch Mao Nam" do đảng tạo ra.

Cũng như ngày trước, lúc tôi còn ở Hà Nội, tôi đã đi công tác ra tận các hải đảo trong chòm đảo Hạ Long. Ở đấy có những hòn đảo không tên. Ở đấy có những thanh niên "tình nguyện" công tác. Mỗi đợt là sáu tháng. Công tác của họ chỉ là đốt một ngọn đèn cho tàu ngoài biển vào bến Hòn Gai ăn than và trở ra. Họ ở trong những cái nhà đá chung quanh không có cây cối gì hết, cũng không trồng trọt được ngọn rau dây bí nào hết. Đặc biệt là không có liên lạc bằng điện đài. Những ngày bão to họ vào nhà đóng cửa khóa chặt và ngồi bên trong nghe sóng tràn qua nóc nhà hoặc nhìn qua cửa kính biển động sôi lên trùm phủ nhận chìm tất cả những cụm đảo lớn nhỏ.

Những cậu thanh niên thất tình muốn trốn đời, những cậu khác thì hăng máu vịt đinh tỏ lòng yêu tuyệt đối với chủ nghĩa xã hội, hoặc vì lý do này nọ khác mà xung phong ra đây, đều vái cả mũ những hòn đảo cô đơn giết người này. Tôi đã hết sức ngạc nhiên khi bước lên những hòn đảo đó, tôi tự hỏi không hiểu các chàng trai đầy nhựa sống và mộng mị đó, đã sống làm sao một trăm tám mươi ngày và một trăm tám mươi đêm không thấy một mái tóc mềm, không nghe một tiếng thân yêu bên tai. Vậy mà báo và đài luôn luôn ca ngợi và nói rằng có nhiều cậu đoàn viên "xung phong ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa ! "

Thì cũng như thằng Phẩm "xưng phong" vô làm giao liên Trường Sơn này. Nhưng so với cái thâm sơn cùng cốc này, ở hải đảo hãy còn là hạnh phúc chán. Ở hài đảo, cuộc sống chỉ cô đơn nhưng không bệnh tật, không bom đạn, không trộm cắp, không giật giọc, không thổ phỉ, không thú dữ rắn độc. Còn ở đây thì có đủ, có nhiều các thứ này.

Tôi như thấy rõ nỗi u uất trong lòng cậu thanh niên xung phong trong một thoáng nhìn gương mặt cậu ta. Tôi vỗ vai Phẩm và nói, giống y như cụ Hồ huấn thị các cháu:

– Em ở lại cố gắng công tác cho tốt nhé. Giải phóng Miền Nam xong ta về xây dựng lại đất nước tươi đẹp hơn mười lần xưa ! Chừng đó anh sẽ ghé lại ăn mận của em!

Phẩm đi khuất, tôi còn đứng nhìn theo. Đêm nay nó ngủ một mình chắc nhớ bọn tôi lắm, nhớ con bé ở Nghi Tầm nhớ cả Hà Nội. Tất cả đều thấy đó mà lại xa vời. Cây mận của nó thì chừng nào mới trổ trái?

(1)Thơ Xuân Diệu, diễn tả nỗi mừng của nghệ sĩ được cách mạng cứu)

(2) Kịch nói Liên Xô

(3) Bài ca Thanh Niên Với Mùa Xuân của Dzoãn Hối

(xem tiếp tại đây)
Đánh máy: Lê Thy
https://thaithuyvy.wordpress.com/2010/03/13/mạng-người-la-rụng-6/