Sunday, September 28, 2008

California: Đêm Cầu Nguyện cho Công Lý và Hòa Bình

California: Đêm Cầu Nguyện cho Công Lý và Hòa Bình
Hơn 10 ngàn Đồng bào hải ngoại Nam California đến tham dự đêm thắp nến cầu nguyện công lý cho GX Thái Hà đồng hương tham dự Đêm Thắp nến vào lúc 6:30 tối tối Thứ Sáu, ngày 26/9/2008, tại khuôn viên bãi đậu xe chợ Viễn Đông 3, góc Westminster Blvd. & Brookhurst St., thuộc thành phố Westminster và Garden Grove, California
(Nguồn: YouTube/VNQueHuong1)


Thật là xúc động và tự hào là người Việt khi nghe Quốc Ca Việt Nam lúc khai mạc đêm thắp nến cầu nguyện cho giáo hội Mẹ









FreeVN

Thư và quan điểm của Hội đồng Giám mục Việt Nam

Kết thúc phiên họp thường niên Hội đồng Giám mục Việt Nam có thư gửi cho Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cùng các giới chức lảnh đạo nước Cộng hòa XHCN Việt Nam





Thật ra, Hội đồng Giám mục Việt Nam không có thẩm quyền trên bất cứ vị giám mục tông tòa cai quản mỗi địa phận. Chính Đức Giáo Hoàng là người có thẩm quyền.

Không hiểu mũ Hồng Y kỳ tới có về Tổng Giáo Phận Hà Nội hay không? Từ khi Đức Giáo Hoàng Phaolo đệ Lục trao mũ Hồng Y đầu tiên cho Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê năm 1976, các vị Tổng Giám Mục kế nhiệm (Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn và Đức Hồng Y Giuse Phạm Đình Tụng) cũng được trao tước phẩm Hồng Y. Sau này có thêm Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công Lý & Hòa Bình ở giáo đô Vatican và Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sài Gòn.

Xin Chúa soi sáng nâng đở ủi an đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, cha Vũ Khởi Phụng và toàn thể giáo hội Chúa ở Việt Nam

Tuesday, September 23, 2008

Tại Toà Khâm Sứ Hà Nội Cộng Sản Việt Nam Đang Tự Đào Lỗ Chôn Chế Độ

VietCatholic News (Chúa Nhật 21/09/2008 15:03)

Truyện khởi đi từ ngày Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) do đảng trưởng Hồ Chí Minh nắm được quyền hành tại VN và áp đặt chính sách tam vô của học thuyết Cộng sản: vô gia đình, vô tổ quốc, và vô tôn giáo. Vì muốn vô tôn giáo nên CSVN đã áp dụng biện pháp tịch thu đất đai của các tôn giáo để họ không còn nơi thờ phượng. Suốt bao nhiêu năm CSVN kìm kẹp, áp bức dân tộc VN theo chủ thuyết tam vô, nhưng may mắn thay, gia đình VN còn đó, tổ quốc VN còn đây và đặc biệt là không một tôn giáo nào bị tiêu diệt cả. Trái lại, đây là lúc người Công Giáo bắt đầu vùng lên đòi CSVN phải trả lại nhà đất đã ăn cướp. Và cuộc thư hùng đã thực sự mở màn.

* Vị Ngôn Sứ Mới của VN

Sáng kiến đòi CSVN trả lại nhà đất bằng cách cầu nguyện với Thiên Chúa nghe thật lạ đời! Tác giả của sáng kiến này là Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, một vị Giám Mục rất trẻ, một Ngôn Sứ mới của VN. Đức Cha sinh trưởng ngoài Bắc, nhưng tu hành và lớn lên trong Nam. Lần đầu tiên, CSVN đã phá lệ cho phép ĐGM Ngô Quang Kiệt từ Nam ra Bắc làm việc. Lúc đầu, chúng chỉ cho ngài coi sóc giáo phận Lạng Sơn, một giáo phận tuyến đầu VN. Mang danh là "giáo phận Lạng Sơn", nhưng thực sự giáo phận này không được bằng một giáo xứ nhỏ ở miền Nam: Lạng Sơn không có nhà thờ chính toà. Quả chuông thánh đường được treo lủng lẳng trên một nhánh cây. Về nhân sự, giáo phận chỉ có một linh mục trên 90 tuổi, bệnh liệt giường, một nữ tu trên 100 tuổi và giáo dân chỉ còn vài ngàn người tản mát khắp nơi, như chiên lạc đàn. Nhiều nhà thờ trong giáo phận Lạng Sơn hoang tàn, đã trở thành trại nuôi gà, nuôi heo. Đó chính là thành tích tiêu diệt Công Giáo của CSVN. Chỉ trong một thời gian ngắn, trước sự ngỡ ngàng của nhiều người, CSVN đồng ý để Vatican bổ nhiệm Đức Cha Ngô Quang Kiệt từ một giáo phận tan hoang nhất miền Bắc về coi sóc một giáo phận quan trọng và lớn nhất miền Bắc - mà theo truyền thống - vẫn được cai quản bởi một vị Hồng Y. Đó là TGP Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam. Nhưng vào ngày 15-12-2007, chính vị Tổng Giám Mục trẻ tuổi này đã bắt đầu làm lịch sử bằng cách khởi xướng chiến dịch cầu nguyện đòi lại nhà đất của Giáo Hội từ bàn tay sắt của CSVN.

* Từ Toà Khâm Sứ Hà Nội…

Những câu kinh và ánh nến đầu tiên được Đức TGM Ngô Quang Kiệt cho khởi sự là tại cơ sở Toà Khâm Sứ, giáp ranh với Toà Tổng Giám Mục. Đây là cơ sở tượng trưng quyền uy của Vatican trên đất nước VN. Sau khi nắm quyền cai trị ở miền Bắc bằng Hiệp Ước Genève 1954, CSVN đã khởi đầu chính sách tiêu diệt tôn giáo bằng cách trục xuất Đức Khâm Sứ Toà Thánh vào năm 1957. Vì thế, Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng đã khởi sự cuộc chạm trán với CSVN ngay tại mảnh đất này. Cuộc thắp nến ngày đêm của các tu sĩ và giáo dân Công Giáo Hà Nội và các giáo phận khác đổ về đang bừng bừng cháy thì do một thỏa thuận ngầm giữa Vatican và nhà cầm quyền CSVN, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Tarcisio Bertone ngày 30-01-2008 viết thư cho Đức TGM Hà nội bắt phải ngưng các buổi tụ họp cầu nguyện. Đức Tổng Kiệt tuân lệnh. Thế là tình hình căng thẳng giữa CSVN và các giáo dân tạm thời lắng dịu, chờ một giải pháp khác của Vatican. Nhưng thình lình, vào ngày 19-9-2008, CSVN cho phong tỏa các ngả đường dẫn vào Toà Khâm Sứ và toà TGM bằng một lực lượng hùng hậu cảnh sát với dùi cui điện và chó dữ, để bảo vệ cho các xe ủi đất hạng nặng tiến vào cơ sở Toà Khâm Sứ, ủi sập các nếp nhà trong đó. CSVN nói là để xây dựng công viên. Vì thế, hàng ngàn ngọn nến lại được thắp sáng tại Tòa Khâm Sứ. Lần này chắc hẳn Vatican đã hiểu được CSVN còn khiếp khủng hơn CS Ba Lan và Đông Đức rất nhiều.

* … Đến Giáo xứ Thái Hà

Tháng 8-2008, trong lúc cuộc đòi đất Toà Khâm Sứ tạm lắng dịu thì những kẻ chiếm đất của giáo xứ Thái Hà, cũng trực thuộc TGP Hà Nội, lại khởi công bán đất để làm cản trở công việc thờ phượng. Thế là các linh mục dòng Chúa Cứu Thế - sở hữu chủ phần đất này - và giáo dân lại bắt đầu thắp nến cầu nguyện đòi đất. Cuộc cầu nguyện này được Đức Tổng Kiệt và tất cả các giám mục thuộc giáo phận miền Bắc, cùng với hàng tu sĩ và giáo dân đồng thanh ủng hộ. CSVN ra lệnh cho báo chí nhà nước mở chiến dịch phỉ báng Giáo Hội CG, đồng thời bắt giam 8 giáo dân (tính đến ngày 19-9-08) và cảnh sát đã dùng roi điện đánh nhiều giáo dân đến đổ máu. Tòa Khâm Sứ Hà Nội trong những ngày sắp tới chắc chắn sẽ là trung tâm điểm phát đi tiếng nói của Công Lý và Sự Thực. Sau bao nhiêu năm CSVN xúc phạm Thiên Chúa, tiêu diệt các tôn giáo, giết hại hàng triệu sinh mệnh đồng bào, dâng hiến đất đai cho quan thày Trung Cộng thì giờ đây chúng phải đền tội. 13 năm tù đày của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận do lệnh của CSVN nay đã sinh hoa kết trái và mùi thơm đang ngát toả khắp năm châu bốn bể, để chuẩn bị cho ngày Ngài được tôn vinh lên bàn thờ các Thánh của Giáo Hội CG. Cánh tay CSVN bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý giờ đây đã trở thành tê liệt và rơi rụng, để tiếng nói Công Lý được vang vọng khắp Quê Hương từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, sang tận Hoa Kỳ và toàn Thế Giới Tân Kỳ.

* Họp hành giữa CSVN và Giáo Hội CG

Đã có nhiều buổi họp giữa chính quyền CSVN cấp địa phương và Giáo Hội để giải quyết vấn đề. Nhưng hoàn toàn thất bại. Tại sao? Vì lập trường và phẩm giá của hai bên hoàn toàn khác biệt như lửa với nước:

Giáo Hội nhận là chủ đất đã bị CSVN chiếm đoạt bất hợp pháp. CSVN cho rằng nhà nước mới là chủ đất, không cá nhân hay hội đoàn nào được phép làm chủ đất.

Giáo Hội đòi Công Lý và Hòa Bình, nhưng dưới chế độ Cộng Sản, nhà nước đâu có những thứ đó mà cho.

Giáo Hội đòi truyền thông nhà nước vô tư. Nếu CSVN làm như vậy thì họ đâu còn là Cộng Sản nữa.

Giáo Hội chủ trương hữu thần, sống theo lương tâm vì trên đầu còn có Thiên Chúa. CSVN chủ trương vô thần. Tất cả đều là vật chất. Tôn giáo là thuốc phiện, mê tín.

Hai đối tác hoàn toàn khác biệt như vậy, làm sao nói chuyện phải trái với nhau được? Có vị chức sắc đề nghị lập một cơ cấu thứ ba để làm Thẩm phán trọng tài xét xử đôi bên. Nhưng đó là điều không tưởng. Một bọn cướp đã dùng vũ khí đột nhập vào nhà, đuổi chủ nhà đi và hiện đang sống phè phỡn trong nhà thì làm sao đuổi? Đuổi chúng đi đâu? Vì nghề của chúng là sống dựa trên bạo lực và ăn cướp.

Nói như vậy có nghĩa là tuyệt vọng sao?

* Bài học cầu nguyện

Một cách vắn tắt, cầu nguyện đối với người Công Giáo là cảm thông với Thiên Chúa. Trong lúc cầu nguyện, giáo dân thờ phượng và tôn vinh Chúa là Đấng toàn năng, cai trị muôn loài muôn vật. Cũng trong lúc cầu nguyện, con người xin Chúa ban những ơn cần thiết về tinh thần (ví dụ: bỏ tính xấu) cũng như vật chất (ví dụ: khỏi bệnh tật). Trở về vụ cầu nguyện đòi đất đang diễn ra tại Hà Nội, khi đốt nến đọc kinh, chắc hẳn các giáo dân muốn xin Thiên Chúa soi lòng đổi dạ CSVN, tức là đưa họ về con đường tôn trọng Công Lý và Hòa Bình để trao trả lại nhà đất cho Giáo Hội. Xin thì cứ xin, còn cho hay không là việc của Chúa. Ai chả muốn cầu xin cho con cái ngoan ngoãn, học hành đàng hoàng, đừng theo du đãng, nhưng các băng đảng du đãng vẫn hoạt động khắp nơi. Bao nhiêu năm người Công Giáo VN đọc kinh xin Chúa tiêu diệt chủ nghĩa Cộng Sản vô thần. Và chính Đức Mẹ cũng đã hiện ra tại Fatima năm 1917 báo cho thế giới những điều kiện phải làm để Thiên Chúa triệt hạ chủ thuyết Cộng Sản trên thế giới. Lời cầu xin đó đã có kết quả. Hiểm họa CS ngày nay không còn trên thế giới nữa, nhưng không hiểu sao, nọc độc CS vẫn còn tồn tại trong 4 quốc gia: Trung Cộng, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam. Đối với lời kinh xin trả đất, chắc hẳn không chỉ cầu nguyện suông mà được. Cầu nguyện luôn đi đôi với hành động. Con người hành động và Chúa giúp sức. Giáo dân chỉ xin Chúa ban sức mạnh, lòng can đảm, trí khôn ngoan để hành động. Ngày xưa, Chúa cũng chỉ giúp sức cho cậu bé Đavit nghĩ ra kế bắn viên sỏi vào ngay trán tên khổng lồ Goliath để chiến thắng (1 Samuel 17).

* Bài học từ Kinh Thánh

Phúc Âm có kể rằng: Ngày kia, khi vào Đền Thờ, Chúa Kitô thấy người ta dùng linh địa làm chỗ buôn bán. Tức thì Chúa nổi giận. Ngài xô bàn, lật ghế và cầm roi đuổi chúng ra khỏi Đền Thờ và gọi họ là "bọn cướp" (Ga 2, 15; Mc 11, 17). Bài học Chúa dạy ở đây là gì? Đối với quân cướp đất nhà thờ để làm chuyện trần tục, Chúa nổi giận, xô đổ tất cả và cầm roi đánh đuổi bọn cướp đi.

Có một vài ý kiến cho rằng các giáo dân Hà Nội - trong đó có Thái Hà - sẵn sàng "Tử Vì Đạo". Thời xưa, các vị Tử Vì Đạo đã ngoan ngoãn chấp nhận chịu hành quyết để giữ vững niềm tin. Họ đã để cho Vua quan xử tử mà không hề có một lời phản đối. Ngày nay, thiết tưởng quan niệm đó đã lỗi thời. Tử vì đạo ngày nay không phải mang tính cách tiêu cực và thụ động: giơ đầu cho ác quỷ chém thỏa thích, còn chúng vẫn sống phây phây. Ngày nay tử vì đạo phải mang tính cách tích cực, nghĩa là phải chống lại hành động vi phạm nhân quyền cho tới khi không còn có thể chống được nữa. Nói cách khác, ngày nay hành động tử vì đạo là hành vi chống trả kẻ gian ác cho tới lúc nó chết, hoặc là mình chết. Tử vì đạo không phải chỉ là âm thầm chết cho riêng niềm tin của mình mà còn là tái dựng Công Bình cho xã hội và tha nhân. Chúa phán: "Ai dùng gươm sẽ chết vì gươm." Đúng! Nhưng lưỡi gươm giết kẻ dùng gươm đó không phát ra từ kẻ bạo động, cũng không phải gươm từ trời rớt xuống bằng phép lạ, nhưng phải bằng chính gươm của nạn nhân vô tội dùng để tự vệ, để chống lại kẻ dữ.

* Bài học từ Ba Lan

Để chuẩn bị cho cuộc khai tử chế độ CS trên đất Ba Lan, Giáo Hội Ba Lan đã cất nhắc Walesa từ một anh thợ máy lên hàng lãnh tụ. Các giám mục, linh mục và giáo dân đều đứng sau ông. CS Ba Lan biết rằng đụng tới Walesa là đụng tới Giáo Hội Công Giáo. Khi Đức Hồng Y Jozef Wojtyla của Ba Lan được bầu làm Giáo Hoàng, Walesa ra vô Vatican như đi chợ. Từ điện Vatican, Đức GH Gioan Phaolô II nói với cả thế giới: "Tôi sẵn sàng bỏ áo Giáo Hoàng về Ba Lan chiến đấu với CS." Ngài không nói rằng ngài sẵn sàng vào tù CS, vì CS không có tư cách gì để bỏ tù ai. Ngài sẵn sàng chiến đấu với chúng, vì chính chúng nó là tội đồ của dân tộc, phải nhốt tù chúng nó, chứ không có lý gì lại chịu để cho chúng nhốt giam mình. CSVN đã đào lỗ khắp nơi rồi, Giáo Hội VN chỉ cần tìm ra một Walesa để làm công việc xô chúng nó xuống lỗ và lấp đi. Lỗ đầu tiên phải lấp là "Công Viên Khâm Sứ Hà Nội".

* Cầu nguyện bất bạo động

Đối với một quốc gia văn minh và thượng tôn luật pháp thì bạo động là điều không thể chấp nhận được. Nhưng đối với một chính quyền vô thần, độc đảng, độc tôn, phạm nhiều tội ác, coi thường sinh mạng đồng bào như CSVN hiện nay thì phải có một cuộc nổi dậy của toàn dân thì mới trừ khử được hiểm họa. Đảng CSVN hiện nay còn đáng kinh tởm hơn thực dân phát xít, cần phải giải thể. Đừng tưởng lầm rằng cầu nguyện là bất bạo động. Thực chất các buổi tụ họp cầu nguyện của giáo dân Hà Nội cũng giống như các cuộc mít tinh thầm lặng của Gandhi ngày xưa tại Ấn Độ đều có tác dụng bạo động y hệt như cuộc nổi dậy của nhân dân Pháp trong cuộc lật đổ chế độ quân chủ năm 1789 vậy. Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã công khai tuyên bố trong cuộc phỏng vấn với thông tấn xã VietCatholic rằng Chính quyền CS ngày nay thiếu thiên thời, địa lợi, nhân hòa, hoặc như lời Đức Cha Cao Đình Thuyên, Giám Mục Giáo Phận Vinh: "Tổng Giáo Phận Hà Nội đang phải 'uống chén đắng' bởi bất công, đang phải chứng kiến cảnh bạo tàn". Một chính phủ bạo tàn với nhân dân, trở thành chén đắng cho nhân dân, lại không được trời thương, dân mến, sống nghịch đời, nghịch cảnh thì tất nhiên nó phải chết. Nó đáng chết. Chết tức tưởi. Chết trợn mắt. Chết như một con chó điên! Nếu vào năm 1989, dân chúng Bá Linh không cầm búa, vác xẻng ra phá nát bức tường Bá Linh và cảnh báo cho lính canh Đông Đức rằng nếu chống lại nhân dân là sẽ chết banh xác ngay thì Đức quốc làm sao thống nhất được như ngày hôm nay. Nếu năm 1991, Gobarchev và dân chúng Nga không tràn ra đường ngăn chặn bước tiến của xe tăng CS Nga thì làm sao khai tử được chế độ CS?

* Giờ lịch sử đã gần đến

Vậy thì bao giờ lịch sử sẽ được tái diễn tại VN? Đọc lịch sử thế giới cổ kim về những tiến trình lật đổ bạo quyền, người ta thấy:

- Chế độ ấy mất thiên thời, địa lợi, nhân hoà.
- Hàng rào kẽm gai được giăng khắp mọi nẻo đường.
- Những người can đảm dám đứng lên chỉ trích chính quyền bị chúng bắt bỏ tù.
- Máu người dân lành bắt đầu đổ.
- Cuối cùng, dân chúng phẫn nộ tràn ra đường hỏi tội những tên cầm quyền và đưa chúng ra tòa xét xử.

Những ai theo sát các diễn biến ở Hà Nội ít lâu nay đều thấy mọi việc đã tuần tự diễn ra đúng như vậy. Và bây giờ mọi người chỉ còn chờ giai đoạn cuối cùng xảy đến, ngày mà toàn dân nổi dậy để khai tử một chế độ tàn ác, phi nhân chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

Con người Cộng Sản sẽ không bao giờ tin tưởng có ngày ấy xảy ra đâu, vì trong tay chúng có cả một hệ thống quân sự để bắn giết, có cả một hệ thống tuyên truyền để nhào nặn sự thật. Nhưng người Công Giáo tin tưởng không có sự gì trên trái đất này mà Thiên Chúa không làm được.

Ngày xưa, Hồ Chí Minh theo chủ thuyết Engel và Kark Marx tin rằng Thượng Đế đã chết rồi, chỉ còn Đảng Cộng Sản sống mãi thôi.

Ngày nay, Đảng Cộng Sản vẫn tin rằng Hồ Chí Minh vẫn còn sống nhăn răng trong Nhà Xác Ba Đình, còn Thượng Đế đang chết triền miên, nên chúng cứ tiếp tục lộng hành.

Xin các đồng chí cứ ráng mắt ra mà coi! Và nhớ canh chừng cho kỹ Nhà Xác Ba Đình!

Tiến Sĩ Trần An Bài

Monday, September 22, 2008

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT

Tôi hết sức cám ơn ông Chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội cũng như là tất cả các ban ngành trong Thành Phố Hà nội đã dành cho chung tôi một buổi tiếp xúc vừa trân trọng vừa cởi mở và chân tình. Những lời ông Chủ tịch nói kết thúc thật là đẹp và tất cả chúng ta ai cũng mong muốn, thật ra có một sự hài hoà trong cái khối đoàn kết thống nhất. Tuy nhiên muốn có cái hài hoà trong cái mối thống nhất thì đâu chỉ có cái tình mà phải có lý nữa, tục ngữ pháp có nói rằng: những cái tính toán nó đúng mực nó mói là những người bạn tốt được. Muốn bạn tốt với nhau cũng phải tình lý phân minh chứ không phải chỉ có tình mà thôi. Chính vì thế tôi cũng xin có một vài lời cuối cùng trước những lời kết thúc của ông Chủ tịch.

Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân TP đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo Hội Công Giáo trong những năm qua nhất là dịp Lễ Noel… chúng ta phải công nhân trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho: tức là cái này là ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo cái điều đó cho người dân chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là cái ân huệ “xin cho”.

Cái thứ hai, ông chủ tịch có nói mọi cư xử phải vừa dựa trên pháp luật và cũng phải trên tình người, và công dân. Cái điều đó tôi rất đồng ý, rất là tâm đắc. Tuy nhiên trong cái thực chúng ta phải làm như thế. Đó về phương diện pháp luật chúng ta phải làm theo pháp luật, thì cái gì cũng phải có cơ sở pháp lý. Ông chủ tịch có nói rằng: đất đai thì nó từ ngàn xưa không biết nguồn gốc từ đâu mà đến thời Giáo Hội Công Giáo thì lại được trao cấp cái đó thì chúng tôi công nhận cái đó. Thế nhưng ít ra khi cấp như thế người ta có một mảnh giấy công nhận là đây được cấp. Và đến thời chính quyền sau có thể thay đổi, nhưng phải có giấy tờ để chứng minh cái sự thay đổi (và không ai có thể thay đổi được là làm sao?). Thế thì trên mảnh đất 42 chúng tôi chưa được cái văn bản nào của nhà nước nói về cái sự thay đổi đó. Không có đi vào cái diện cải tạo tư sản, không có đi vào cái diện cải tạo nông nghiệp, cũng không có cái văn bản nói lên sự tịch thu hay là trưng thut trao cho cơ quan nào… hoàn toàn không có. Thực ra có thể nói việc quản lý của cơ quan nào đó là chưa có hợp pháp, trên cái căn bản là chúng ta phải có giấy tờ, chứ bây giờ kẻ cướp vào nhà chúng tôi rồi ngang nhiên ở đó rồi không có giấy tờ gì hết và họ mạnh chúng tôi không đuổi ra được thì đương nhiên họ chiếm hay sao?! phải có giấy tờ, cần có văn bản pháp lý. Thế thì về vấn đề pháp luật thì vấn đề đất 42 chúng tôi chưa hai lòng với câu trả lời của ông. Chúng ta phải sống theo pháp luật, thì phải có văn bản giấy tờ của chính quyền. Thời chính quyền này có thể thay đổi, chính quyền sau có thể thay đổi nhưng phải có giấy tờ văn bản rõ ràng. Chúng tôi thấy đất 42 chưa có cái văn bản đó.

Cái vấn đề thứ hai, ông chủ tịch có nói rai ngoài vấn đề pháp lý, chúng ta phải cư sử theo tình người, nguyện vọng của người dân thì chúng tôi thấy vẫn chưa được: biết bao nguyện vọng chúng tôi nêu lên, ít nhất là qua 15 lá đơn của Toà Tổng Giám mục Hà nội và hội đồng Giám Mục bao nhiêu lần nữa, nguyện vọng chúng tôi về cái đất đó gắn bó với chúng tôi nó gần gũi với chúng tôi. Nguyện vọng thật là chính đáng nhưng không bao giờ được giải quyết cả. Cho nên có thể nói đó cho chúng tôi thấy cái lý thuyết, nguyên tắc ông chủ tịch đưa ra rất hay nhưng chưa thực hiện được, nguyện vọng cũng như pháp lý.

Chúng tôi không chanh chấp với nhà nước. Bằng chứng đó là, như ông chủ tịch có nói đó, trong tờ kê khai của linh mục Nguyên Tùng Cương, lúc đó là quản lý tòa Tổng Giám Mục, có 95 cơ sở. Chúng tôi có đòi cơ sở nào đâu, vì những cơ sở đó thực sự dùng vào những lợi ích chung. Chẳng hạn như cái trường Hoàn Kiếm, chúng tôi không bao giờ nói tới. Bệnh viện Xanh Pôn chúng tôi không bao giờ giám nói tới. Bệnh viện Bài Lao không bao giờ chúng tôi giám nói tới, vì sử dụng vào lợi ích chung. Nhưng khách san Láng Hạ chúng tôi sẽ nói tới, bởi vì sử dụng vào mục đích kinh doanh. Và cái Tòa Khâm Sứ đã thành cái nơi sàn nhảy, đã thành cái nơi kinh doanh buôn bán, đã có cái dấu hiệu buôn bán chia chác để làm cái trung tâm thương mại. Chúng tôi nói tới bởi vì nó rơi vào tay tư nhân thế nên chúng tôi nói, thế nên chúng tôi không tranh chấp với nhà nước. Nhưng chúng tôi nói lên cái tiếng nói của công lý. Bằng chứng cái trường Hoàn Kiếm bên cạnh, chúng tôi có bao giờ dám đòi đâu. Bởi vì nó phục vụ lợi ích chung, các bệnh viện nó phục vụ lợi ích chung. Do đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc.

Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng. Thế nhưng chúng ta không phải chỉ có tình cảm mong muốn là được mà phải có lý luận xây dựng thật là vững chắc trền nền tảng pháp lý. Một lần nữa chúng tôi xin hết sức cám ơn ông chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội dã dành cho chúng tôi một buổi tiếp đón thật là trân trọng và thân tình và hứa hẹn những trao đổi khác thì chúng tôi thấy hy vọng như thế chúng ta hiểu nhau hơn và mới có thể làm cho Thành Phố Hà Nội chúng ta nói riêng, tiến đến kỷ niệm ngàn năm Thăng Long được vui vẻ, xứng đáng là một thành phố hòa bình và trong hòa bình thì có công lý và làm cho đất nước chúng ta càng ngày càng phát triển.

Tôi xin cám ơn.
+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Tuesday, August 19, 2008

Carol Huỳnh

Sáng nay, mở trang báo điện tử Người Việt ra đọc. Một tin đáng chú ý: Thế Vận Hội 2008: Nữ lực sĩ Carol Huỳnh mang huy chương vàng đầu tiên về cho Canada . Google một phát để kiểm chứng. Quả thật, một người Canada gốc Việt (đúng hơn là gốc Hoa), đã mang huy chương vàng đầu tiên về cho Canada. Mừng cho cô Carol Huỳnh và gia đình, mừng cho Canada, mừng cho cộng đồng người Việt định cư tại Canada. Thế hệ thứ hai của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đã làm rạng rở nước tạm dung.

Cám ơn Canada, đất nước của tự do, dân chủ và tình người, đã tạo cơ hội cho một người Việt gốc Hoa đạt được ước nguyện.

Trích đoạn từ bài viết của báo Người Việt:

Carol Huỳnh đã hạ cô Chiharu Icho của Nhật Bản trong vòng chung kết của môn đô vật dành cho hạng 48 kí lô (106 pounds). Chiharu Icho từng được xếp hạng cao hơn. Thế nhưng Huỳnh đã áp đảo Icho và giành phần thắng. Sau khi rời võ đài, cô ôm chồm quốc kỳ Canada và ông huấn luyện viên Leigh Vierling.

Vài giây sau, các huấn luyện viên của đội Canada đã công kênh Carol Huỳnh trên vai của họ. Trên bục gỗ nhận huy chương vàng, cô lấy tay che miệng trong lúc rơi lệ trong sự sung sướng.

Ban đầu Carol Huỳnh còn tìm lấy tay chặn nước mắt. Thế nhưng sau đó cô để mặc cho những dòng lệ được tuôn tràn trên má.

“Nước mắt và sung sướng,” cô nói với tờ Sun. “Khi đứng trên đó, tôi nghĩ đến niềm hãnh diện của một người Canada. Tôi nghĩ đến con đường dài mà tôi đã trải qua trước khi đến đây. Ðó là một con đường rất dài mà cũng rất tốt. Tôi nghĩ đến những người bạn và nhất là nghĩ đến gia đình của tôi.”

Cha mẹ của Carol Huỳnh, ông Huỳnh Viêm và bà Trịnh Mai, ngồi trong khán giả xem trận đấu. Họ là người đầu tiên mà cô tìm mặt trong đám đông sau khi đeo huy chương vàng trên cổ. Ông Viêm và bà Mai gặp nhau tại Sài Gòn. Họ có một trai và một gái trước khi vượt biển tìm tự do vào cuối thập niên 1970.

Một nhà thờ đã bảo trợ gia đình họ Huỳnh và đưa họ về Hazelton, Trung Tây của tỉnh bang British Columbia, nơi mà cô Carol đã chào đời và sống với các bạn gốc thổ dân.

“Tôi là đứa con đầu tiên của họ tại Canada,” Carol Huỳnh nói về cha mẹ.

“Họ thật sự là những thuyền nhân. Cha mẹ tôi đã trải qua những kinh nghiệm mà bạn từng nghe về thuyền nhân Việt Nam,” cô nói với giới truyền thông Canada. “Họ không có gì hết khi mới đến đây. Chắc chắn tôi đã học tính siêng năng của cha mẹ.”

Carol Huỳnh đã tóm lược hành trình của cha mẹ và của cô, “Họ là người Trung Hoa. Mẹ tôi chào đời tại Việt Nam. Cha tôi đến Việt Nam khi mới có ba tuổi. Họ sống tại Sài Gòn, có hai con là anh và chị của tôi. Họ quyết định phải tìm đường thoát ra khỏi Việt Nam.”

Trích đọan từ CTV.ca:

Freestyle wrestler Carol Huynh won Canada's first gold medal at the Beijing Olympics on Saturday, as her family cheered from their home in Hazelton, B.C.
...........
I was just thinking how proud I am to be Canadian," she said about her tears on the medal podium as O Canada was played. "And I was just thinking about the road to how I got here. It's been a long one but a good one."

After her win, coach Leigh Vierling carried her on his shoulders around the gymnasium as Huynh held up a Canadian flag.

The daughter of Vietnamese immigrants also won silver in the 46-kilogram division at the 2001 world championship and the 2000 event with a bronze.

Tin liên hệ:

Thursday, May 15, 2008

Không hiểu

Đọc bài "Tướng Quắc đến làm việc với cơ quan điều tra" của báo Dân Trí, có chổ này không hiểu. Vụ PMU18 là vụ án hình sự, tham nhũng, hay kinh tế gì đó chứ đâu có liên quan gì đến chính trị? Mong bạn nào biết giải thích dùm. Cám ơn

(Dân trí) - 14 giờ chiều 13/5, thiếu tướng Phạm Xuân Quắc rời nhà đến cơ quan an ninh điều tra theo lệnh triệu tập. Điểm đến của ông là ngôi nhà số 7 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội - trụ sở Cục bảo vệ chính trị Tổng cục an ninh.

Tuesday, May 13, 2008

Đi đúng lề đường bên phải ... vẫn bị bắt

Tháng Tám năm 2007, ông Lê Doãn Hợp, tân Bộ trưởng Thông tin Truyền thông có nói trong một buổi phỏng vấn"...hoàn toàn có tự do nếu đi đúng lề đường bên phải." (VN Express) Và khi có những ký giả, phóng viên đi đúng "lề đường bên phải", "làm tốt 10 chữ: trung thực - dũng cảm - thận trọng - nhanh nhạy - hướng thiện": Họ bị bắt với tội danh “Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước” theo Điều 263 và "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" theo điều 258, Bộ luật Hình sự.

* BBC: Bắt hai nhà báo 'vì đưa tin vụ PMU18'
* Vietnamnet: Nhà báo Nguyễn Văn Hải và Việt Chiến bị bắt tạm giam
* Vn Express: Hai nhà báo viết về vụ PMU18 bị bắt
* Tuổi Trẻ: Hai nhà báo chuyên viết đấu tranh chống tham nhũng bị bắt
* Bố Cu Hưng: Về một đồng nghiệp vừa bị bắt
* Bùi Thanh: Tại sao ?
* Bút lông: Phóng viên nội chính
* Huy Bom: Nguyễn Việt Chiến & Nguyễn Văn Hải

Tôi không ngạc nhiên khi nghe tin này từ BBC sáng nay. Chuyện tất nhiên sẽ xảy ra sau khi Nguyễn Việt Tiến được thả, phục hồi đảng tịch. Cách đây mấy ngày, tôi đã thấy người ta đã gở xuống khỏi các trang báo điện tử những bài báo viết về vụ án PMU 118 và Nguyễn Việt Tiến đăng cách đây mấy năm.

Đôi khi nghe em Yến Vi nói chuyện còn đáng tin hơn nghe các quan phán

Saturday, May 10, 2008

Nhạc: Đáp Lời Sông Núi

Nhạc sĩ: Trúc Hồ

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hưng Đạo Vương, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm, chưa một lần khuất phục ngoại xâm.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Quyết bảo vệ giang san, từng tấc đất, từng cây cỏ,
Từng phố phường, từng con đường, từng bờ biển quê hương.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hai Bà Trưng, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
VIỆT NAM, VIỆT NAM, VIỆT NAM ....

Friday, May 02, 2008

Cuối tháng Tư, chủ tịch và tổng giám đốc công ty Samsung từ chức vì trốn thuế. Samsung cùng với những đại công ty như LG, Hyundai, KIA,... là biểu tượng về sự phồn thịnh, tiến bộ của một nước Đại Hàn tự do, dân chủ.

Hơn nửa thế kỷ trước, hai nước Á Châu bị chia cắt do quyết định của các "anh lớn", cùng trải qua một cuộc chiến khốc liệt. Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam) đã phát triển trước Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn)







Vâng, từ 1957 tới 1961, Việt Nam chúng ta phát triển hơn Nam Hàn.

Ra đi tỵ nạn, sống ở nước người, mới thấy cùng điều kiện phát triển, cùng môi trường, người Việt không thua kém người Hàn. Kỷ sư Mỹ gốc Việt không thua đồng nghiệp Mỹ gốc Hàn. Học sinh sinh viên Mỹ gốc Việt sánh vai với học sinh sinh viên gốc Hàn trong các đại học danh tiếng, đứng đầu trong các cuộc thi. Có khi còn hơn.

Hơn hai mươi năm năm trước, để trả lời câu hỏi của một bạn sinh viên da trắng cùng trường "Tại sao bạn đến đây?", tôi hỏi lại "Bạn nghĩ sao nếu bạn phải xin giấy đi đường của cảnh sát để đi từ thành phố Long Beach lên Los Angeles? Bạn nghĩ sao nếu người ta không cho bạn vào đại học, học ngành bạn ưa thích?" Câu trả lời của tôi hôm nay đã khác. Hôm nay tôi mượn tấm gương Nam Hàn để trả lời câu hỏi "Tại sao tôi..."

Nhạc: Việt Nam Về Trong Nổi Nhớ

Sáng tác: Trần Tử Thiêng & Trúc Hồ

Nhạc: Người di tản buồn

Sáng tác: Nam Lộc
Trình bày: Khánh Ly

Theo dỏi bài tường thuật của báo Tuổi Trẻ "Lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008", nhìn hai lá cờ đỏ trên khán đài, tôi tự hỏi:

Cờ nào là cờ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam? hay cả hai là đều là cờ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa?


Cô bé mặc áo trắng tay cầm cờ đỏ một sao vàng và trên khuôn mặt hình cờ đỏ năm sao vàng, là Việt hay Hoa?

Ôi Việt Nam ! Cờ Tàu phủ kín đất Việt

Ôi Việt Nam!

Ôi Việt Nam! Việt Nam tìm chẳng thấy
Năm sao vàng bén ngót chiếu hào quang
Đất nước tôi hay đất Tàu ? Ngỡ ngàng
Vừa ra cửa , chợt hay mình mất nước

Ôi Việt Nam ! Đã bốn ngàn năm trước
Giờ hồi đầu, nô lệ gọi : Vinh quang!
Từng chúa, vua hềnh hệch cửa cao sang
Trải cấm vệ không cho dân mở miệng

Ôi Việt Nam ! Còn đâu là phố huyện
Tôi ở nhờ , ở đậu đất Tàu thôi
Cờ năm sao bén ngót chiếu lòng tôi
Màu máu đỏ đã ngập trời đang chém

Ôi Việt Nam ! Mảnh thân tàn gói ghém
Tôi về đâu ? Về đâu ? Hởi quê hương ?
Sài gòn ôi ! Hà nội vạn nẻo đường
Đã lạ quắc . Quay về ngàn năm trước

Ôi Việt Nam ! Việt Nam buồn nảo nuộc
Đứng cúi đầu , nô lệ , nhục thân chưa ?

Hoài Tử
Nguồn: http://www.hatnang.com/showthread.php?p=268509

Tuesday, April 29, 2008

Nhạc: Một Lần Đi

Nhạc Sĩ: Nguyệt Ánh

Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một lần đi là một lần vĩnh biệt
Một lần đi là mòn lối quay về
Một lần đi là mãi mãi thương đau
Người tình ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một lần đi là nghìn trùng cách biệt
Một lần đi là muôn kiếp u sầu
Một lần đi là vĩnh viễn xa nhau
Giọt nước mắt cho anh
Giọt nước mắt cho em
Giọt nước mắt cho bạn bè
Lệ khóc cho mẹ già
Lệ khóc cho ngườ tình ở lại quê hương
Lần cuối xé tay nhau
Lần cuối khóc bên nhau
Lời cuối sao nghẹn ngào
Còn đó bao đoạn đường
Còn đó bao đoạn tình bỏ lại sau lưng
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Mẹ hiền xưa, giờ về cùng đất lạnh
Bạn bè xưa, giờ phương Bắc lưu đày
Người tình xưa, giờ đang sống điêu linh
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Một ngày qua là một ngày ly biệt
Một ngày qua là ta mất nhau rồi
Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi

Nhạc: Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên


Sáng tác: Nguyễn Đình Toàn
Trình bày: Khánh Ly



Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như giòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
ta hỏi thầm em có nhớ không

Sài Gòn ơi! Đâu những ngày ôi hè phố xôn xao
trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Còn gì đâu...

Ai ra đi nhớ hàng me già,
thu công viên hoa vàng tượng đá
thôi hết rồi mộng ước xa xôi,
theo giòng đời trôi...

Sài Gòn ơi! Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi
tay cầm tay nói nhỏ câu gì
Đâu quầy hoa quán nhạc đêm về
Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly

Sài Gòn ơi! Thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau
Đâu Phạm Duy với tình ca sầu
mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu
Còn gì đâu...

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
mất từng con phố đổi tên đường
khi hẹn nhau ta lạc lối tìm
ôi tình buồn như đã sống thêm

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
mất trường xưa mất tuổi thiên thần
hy vọng xa hay mộng ước gần
Còn gì đâu...

Trăng ơi trăng có còn chăng là
Sao ơi sao, sao mờ lệ nhớ

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như hàng cây lá đỏ trông tìm
Mắt trời trong cánh nhỏ chim hiền
Đã ngậm sầu ngang môi lắng im

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như mộ bia đá lạnh hương nguyền
Như trời sâu đã bỏ đất sầu.
Còn gì đâu...

Saturday, April 26, 2008

Nhạc: Sàigòn Ơi, Vĩnh Biệt

Nhạc & lời: Nam Lộc

Saigon ơi! tôi đă mất người trong cuộc đới
Saigon ơi! thôi đă hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng

Saigon ơi! nắng vẫn còn vương trên đường
Đường ngày xưa mưa có ướt ngập lối người về
Rồi mùa thu lá còn đổ xuống công viên
Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng
Hay đang khóc cho riêng mình em ?

Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn
Từng ngày qua, từng phút sống quên thời gian
Kiếp tha hương lắm thương đau, lắm chua cay
Tôi gọi tên em mãi thôi

Saigon ơi! tôi xin hứa rằng tôi trở vế
Người tình ơi! tôi xin giữ trọn mãi lời thề
Dù thời gian có là một thoáng đam mê
Phố phường vạn ánh sao đêm
Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên

Tuesday, January 22, 2008

Trận Hoàng Sa, 34 năm về trước. Lệnh khai hỏa


Giao Chỉ, San Jose.





Lời nói đầu

Tuần vừa qua, hai chiến hữu già của tôi ghé thăm Viện Bảo Tàng. Các bác Lương văn Ngọ và Võ Ðại. Quí vị hỏi thăm qua loa nhưng thực tình là yêu cầu yểm trợ để cùng đánh trận Trường Sa. Sẽ tổ chức gây quĩ, đăng báo Mỹ để tuyên ngôn cho thế giới biết là quần đảo và hải phận Ðông Hải muôn đời phải là của Việt Nam ta. Vâng, chúng tôi sẽ chuẩn bị tài liệu để triển lãm, duyệt lại cuốn phim đem chiếu và xin viết bài này để góp phần giới thiệu với độc giả. Lẽ dĩ nhiên cần sự giúp đỡ của các chiến hữu hải quân về các tài liệu. Chuyện Hoàng Sa và Trường Sa nếu không có anh em hội Bạch Ðằng là không xong. Trưa thứ bảy, cuối tuần, hội hải quân đến họp tại Viện Bảo Tàng để thảo luận về việc thiết lập một sa bàn Hoàng Sa. Các bạn trao tặng bộ quân phục thủy thủ cùng rất nhiều hình ảnh và tác phẩm liên quan đến trận hải chiến 34 nằm về trước. Những tác phẩm viết về Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và đặc biệt có trên mười tác giả viết về biến cố Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974. Hồi ký của tư lệnh hải quân vùng 1, của vị chỉ huy hải đội Hoàng Sa, của trung tâm trưởng hành quân biển tại Sài Gòn, các hạm trưởng, sỹ quan trên chiến hạm tham chiến số 4, 5, số 10 và 16, của biệt kích trên đảo, sĩ quan truyền tin trên soái hạm, của thủy thủ trôi giạt trên biển, của anh em đoàn viên và địa phương quân bị bắt tù binh đưa về Trung Quốc. Khối tài liệu hết sức phong phú trên ngàn trang phải đọc suốt cả tuần lễ chưa hết. Ðặc biệt trong khi quí vị cấp trên viết còn dè dặt thì anh em cấp dưới viết ra tất cả mọi chi tiết hết sức chân thật và rõ ràng. Những anh em mang đến tài liệu cho chúng tôi, ngày xưa vốn là các thiếu tá và cấp úy trẻ trung của biển cả, ngày nay tuổi đã về chiều mà tấm lòng nặng chĩu tâm tư khi nghe tin các hải đảo xa xôi lại một lần nữa rơi vào tay địch. Trong số các chiến hữu có mặt tại San Jose, chúng tôi đã gặp được một người, hết sức tình cờ và hết sức đặc biệt.





Người chỉ huy pháo HQ 16

Ðó là Hải quân đại úy Ðoàn viết Ất, nguyên sĩ quan pháo thủ của HQ 16 mang tên danh tướng Lý thường Kiệt. Năm 1974, khi con tàu rẽ sóng đi Hoàng Sa, trung úy Ất tưởng chỉ làm một chuyến hải hành tiếp tế như thường lệ, nào ngờ ông đã tham dự vào trận đánh lịch sử. Chuyến về trên con tàu bị thương với cõi lòng tan nát vì đã bỏ lại đồng đội trên hải đảo và biển cả. Trung úy Ất cùng một số hải quân được tuyên dương anh hùng, thăng cấp đặc cách tại mặt trận. Ngày nay, ông Ất đang đóng vai một người dân tỵ nạn hiền lành sống rất bình dị bên cạnh chúng ta. Ai biết đâu con người ấy, ngày xưa cũng đã từng là một chiến sĩ dũng cảm của hải quân. Trong chiến trường, binh thư viết rằng khi lâm trận, cấp úy ở ải địa đầu là những người quyết định thắng bại. Trên các chiến hạm vào ngày đầu năm 74, sống chết của con tàu trông cậy vào các trung úy chỉ huy pháo thủ. Trên chiến hạm HQ 16 vào buổi sáng hôm đó, số mạng trong tay Trung úy Ất, ngồi bên cây đại bác 125 ly, nạp đạn chạm nổ, hướng thẳng vào đài chỉ huy của con tàu địch trước mắt. Sẵn sàng chuẩn bị bắn trực xạ.



Cuộc đời Ðoàn viết Ất

Sau trận Hoàng Sa, miền Nam ca ngợi chiến công của hải quân anh hùng. Trong số các sĩ quan con sống mà được vinh thăng có trung úy Ðoàn viết Ất. Ất người Nam Ðịnh, 54 theo cha mẹ di cư vào Sài Gòn. Sinh viên đại học Vạn Hạnh. Năm 20 tuổi vào hải quân. Học thêm anh văn tại Sài Gòn rồi thụ huấn căn bản quân sự tại Quang Trung. Năm 70 được gửi đi học tại trường hải quân Hoa Kỳ khóa 4-OCS. Vào thời kỳ đó Sinh viên sỹ quan hải quân Ðoàn viết Ất đã có dịp học lái tàu Mỹ tại vùng Vịnh Cựu Kim Sơn. Khi về nước, chuẩn úy Ất nhờ có đệ tam đẳng Thái cực đạo nên được làm huấn luyện viên võ thuật. Cuộc đời đưa đẩy, trải qua các đơn vị, lên thiếu úy rồi trung úy thì bắt đầu xuống HQ 16 làm sỹ quan trách nhiệm dàn pháo cho chiến hạm. Các vũ khí dưới tay gồm có cây 125 ly, lớn hơn cả đại bác 105 của bộ binh. Những cây 40 ly một nòng và cây 40 ly nòng ghép đôi. Các bách kích pháo. Súng cá nhân, áo giáp và nón sắt. Cùng với các đoàn viên xạ thủ đầy kinh nghiệm, trung úy Ất chỉ huy anh em vào nhiệm sở tác chiến với một tinh thần hăng hái rất hào hùng. Khi con tàu Lý thường Kiệt phải đoạn chiến về đến bến bờ quê hương, nhớ lại cảnh chiến hữu bị bỏ lại, lòng dạ hết sức não nề. Một năm sau theo hạm đội hải hành chuyến cuối cùng anh bỏ lại vợ con, vì vậy đại úy Ất quyết định từ giã hải quân tại Côn Sơn, xuống tàu trở lại Việt Nam. Ðây là một quyết định sai lầm phải trả giá 6 năm tù cải tạo trên miền biên giới Bắc Việt. Ngay sau khi được trả tự do, cựu đại úy hải quân đã có nhiều nơi móc nối để lái tàu vượt biên. Năm 1983 cả gia đình đến Bidong và sau cùng về định cư tại San Jose. Hai mươi năm qua chỉ làm một việc, cho một hãng. Nghề sửa máy điện tử. Bây giờ ông già 60 tuổi theo phái tu thiền tại gia, tuyệt thực mỗi buổi chiều. Buổi tối ngày15 tháng giêng năm 2008 đúng 34 năm trước sắp đến giờ khai hỏa trận Hoàng Sa, công dân Mỹ gốc Việt tên Ất Ðoàn ngồi nhớ lại lúc con tàu lướt sóng vào vùng hải chiến giữa các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng.



Di chúc của tiền nhân.

Với ngàn năm đô hộ giặc Tàu, Việt Nam trải qua bao phen chống xăm lăng. Từ nhà Hán, nhà Ngô cho đến giặc Mông Cổạ. Rồi nhà Minh, nhà Thanh. Quân dân ta phải chống giặc Bắc phương suốt 4 ngàn năm lập quốc. Trận hải chiến cuối cùng vào đời nhà Trần cách đây 7 thế kỷ. Vua Trần Nhân Tông đã để lại di chúc như sau: “Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Họa muôn đời của ta là Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Luôn luôn bày đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được thì gặm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không để lọt vào tay kẻ thù. Ðây là di chúc cho con cháu muôn đời.” Trần Nhân Tông (1279-1293)





Trận Hoàng Sa

Vào lúc 10 giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974, trận Hải chiến lịch sử giữa Hải quân Việt nam Cộng Hòa và Hải quân Trung Cộng diễn ra tại Hoàng Sa. Nguyên do vì sao? Di chúc của vua Trần Nhân Tông để lại hơn 700 năm đúng từng chữ một. Vẫn là họa phương Bắc. Nước lớn không tôn trọng quy ước. Bày đặt chuyện gây hấn. Gặm nhấm đất của ta. Trận hải chiến hết sức anh hùng của lực lượng hải quân nhỏ bé VNCH đã khai diễn với anh khổng lồ Trung Quốc. Trước khi nổ súng, chiến hạm hai bên đã cài răng lược, vì vậy chỉ vài giây phút đầu tiên là quyết định trận đánh. Gần đến nỗi đại bác của ta bắn trượt tàu địch đã xéo qua tàu bạn. Trong vòng 30 phút đầu tiên, bên ta chiến hạm HQ 10 bị trúng đài chỉ huy và hoàn toàn bất khiển dụng. Hạm trưởng từ trần chết theo tàu, hạm phó ra lệnh đào thoát, sau đó ông chết trên xuồng cấp cứu vì vết thương quá nặng. HQ 16 sau khi hạ được một chiến hạm của địch cũng bị thương rất nặng. Hạm trưởng và thủy thủ đoàn cố cứu con tàu ra khỏi chiến trường. Bên địch có hai chiến hạm bốc cháy và hai tàu còn lại chịu thương vong nhưng vẫn còn chuyển vận. Những hình ảnh sau cùng ghi nhận được hết sức hào hùng nhưng đồng thời cũng hết sức thương cảm. Hải quân đào thoát từ HQ 10 ngồi trên bè cấp cứu bị tàu địch bắn theo. Nhưng đặc biệt còn thấy chiến hữu từ chiến hạm không bỏ tàu vẫn tiếp tục tác xạ qua tàu địch. Bút ký của người còn sống có ghi rõ cả tên các thủy thủ Việt Nam đang bắn những viên đạn sau cùng. Nước biển trên đầu ngọn sóng làm nhạt nhòa nước mắt của những lính bỏ tàu. Truyện kể của những anh em từ hải đảo xuống bè di tản khi thấy bên ta bắn chiến hạm địch bốc cháy đã cùng nhau cất tiếng hát trên biển Hoàng Sa.



Bài ca bất hủ đó là bản Việt Nam, Việt Nam.

Hãy tưởng tượng giây phút lạ lùng giữa trùng khơi dậy sóng với lửa đạn vang trời, ai cất được tiếng hát.. nghe tự vào đời.. Việt Nam nước tôi...



Năm 74, dầu sôi lửa bỏng.

Tháng giêng năm 1974 không phải là lúc Miền Nam thái bình thịnh trị. Hiệp ước Ba Lê đã ký xong nhưng hai bên vẫn còn chiến đấu trong trận giành dân lấn đất. Với chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, Hoa kỳ đã rút hết quân về. Xa hơn nữa, ngay từ năm 1970, Mỹ đã tuyên bố dứt khoát không tham dự vào cuộc tranh chấp các hải đảo ở biển Ðông. Trong khi quân Mỹ rút thì Việt Nam Cộng Hòa bùng lên tia hy vọng mới. Tin biển Ðông có dầu làm tổng thống Thiệu nói với nội các là dường như Trời ngó lại. Một thùng dầu thô được lệnh đem lên đốt tại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa trong buổi lễ tưởng niệm để linh hồn 16 ngàn tử sĩ phù hộ cho đất nước một tương lai tốt đẹp. Nhưng chính niềm vui ngắn ngủi đã nằm trong thiên tai. Trường Sa là nơi có nhiều triển vọng của kho tàng đáy biển. Muốn lấy Trường Sa thì Trung Cộng phải thôn tính Hoàng Sa. Trong lúc VNCH còn phải lo trong nội địa thì Trung Quốc cho hải quân đóng vai ngư phủ xâm nhập phía đông của quần đảo. Ðúng như vua Trần đã nói, chúng cứ gặm nhấm dần dần. Căn cứ vào địa lý nhân văn, căn cứ vào di tích lịch sử, căn cứ vào hiện trạng thềm lục địa, dứt khoát toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. Nhưng đất nước đang chiến tranh, sức đâu mà có đủ phương tiện trấn giữ cả trăm hải đảo cô quạnh giữa trùng khơi. Vì vậy, thừa nước đục thả câu, các quốc gia lân bang xâu xé. Từ Trung Hoa đỏ của Bắc Kinh cho đến Trung Hoa vàng của Ðài Bắc. Rồi Mã Lai, Indo và Phi luật tân đều nhào vô giành hải đảo. Nhưng có kế hoạch và tham lam nhất vẫn là người Tàu. Từ Trung Hoa ngày xưa cho đến Trung Cộng ngày nay, mộng bá quyền của người phương Bắc luôn luôn là cơn ác mộng của phương Nam.



Châu chấu đá voi

Ngày 15 tháng 1 năm 1974 chiến hạm HQ 16 lên đường ra Hoàng Sa đưa địa phương quân Quảng Nam ra thay phiên trấn thủ lưu đồn. Ngày 17 tháng 1 khi đổ bộ lên đảo đã gặp Hồng quân. Từ trước đến nay vẫn gặp dân đánh cá xua đuổi là chúng bỏ đi, những lần này lại là hải quân Trung Cộng. Ðô đốc Hồ văn Kỳ Thoại tư lệnh hải quân vùng I cảm thấy chuyện bất thường. Nhân lúc tổng thống Thiệu ra kinh lý, nội vụ được trình trực tiếp. Sau phần trình bày của vị tướng hải quân, ông Thiệu ngồi xuống lấy giấy bút viết tay trong 15 phút một bản văn lịch sử. Ðây là chỉ thị căn bản của trận hải chiến duy nhất đã xảy ra giữa Việt Nam và Trung Hoa trong thế kỷ thứ 20. Tướng Thoại đã ghi lại trong tác phẩm “Can trường trong chiến bại” chương 16 đại ý như sau. Lệnh viết tay của trung tướng Thiệu chỉ thị áp dụng các biện pháp xua đuổi ôn hòa, bắn dọa cảnh cáo và sau cùng thì dùng vũ khí để bảo vệ lãnh thổ. Quyết không để mất một tấc đất nào. Tất cả mọi người hiện diện đều không có ý kiến. Các tướng lãnh và phái đoàn chính phủ tháp tùng không ai lên tiếng. Không có bàn thảo gì hết. Xem ra ông Thiệu hết sức cô đơn và cương quyết trong quyết định lịch sử rất có thể bùng nổ lớn mà không ai tiên đoán được. Vẫn theo bản tính của ông, không ra lệnh chi tiết về việc khai hỏa. Không cần thảo luận về việc khả năng hùng mạnh của toàn thể hải quân Trung Cộng. Chỉ riêng Hạm đội Hải Nam cũng có thể tung ra 10 chiến hạm phục kích vây chung quanh hạm đội Việt Nam và diệt gọn. Rõ ràng là một quyết định châu chấu đá voi, dựa trên tình tự dân tộc với mối thù từ ngàn năm trước. Sau cùng châu chấu cũng đành phải đá voi.



Hạm đội Hà văn Ngạc.

Từ Sài Gòn đại tá Hà văn Ngạc bay ra Ðà Nẵng nhận lãnh chức vụ chỉ huy cuộc chiến lấy lại Hoàng Sa. Ðô đốc Hồ văn Kỳ Thoại tiễn ông đại tá Sài Gòn lên HQ 5, mang hiệu kỳ soái hạm lên đường. Chia tay trên cầu tàu căn cứ Ðà Nẵng, ông Thoại viết lại rằng đôi mắt chiến hữu nhìn nhau, cùng cảm thấy sắp có biến cố lịch sử. Lệnh phải bảo vệ đất nước được ghi rõ ràng từ tổng tư lệnh. Quân xâm lăng lần này đâu có dễ thuyết phục. Hoàng Sa là con đường đi xuống Trường Sa, mỏ dầu tương lai của cả Ðông nam Á. Hoa Kỳ lại xác nhận là không can thiệp. Giặc Tàu chắc chắn sẽ không bỏ đi. Lính thủy Việt Nam với 4 con tàu cũ sẽ lâm chiến trong hoàn cảnh hết sức cô đơn trên biển cả mênh mông. Từ tướng cho đến quân, ai nấy đều biết rằng phải khai hỏa trước. Không thể bắn cảnh cáo dọa dẫm gì hết. Tiên hạ thủ vi cường. Ðiều quan trọng là khai hỏa vào lúc nào và ai sẽ là người ra lệnh khai hỏa. Ðại tá Hà văn Ngạc xuống con tàu mang tên danh tướng Trần bình Trọng, phen này nếu chẳng may sa vào tay địch chắc lại phải làm quỉ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc.



Khói lửa biển san hô.

Buổi sáng hôm đó trời trong sáng, vào lúc 10 giờ thì tàu hai bên đã gần nhau. Bên địch bên ta kèm nhau từng chiếc một. Ngẫu nhiên mỗi bên đều có 4 chiến hạm. HQ 16 có HQ 10 bên tay mặt làm thành phân đội số 2. Soái hạm HQ 5 đi với HQ 4 là phân đội 1 vòng xuống phía đông nam đánh vào đảo Quang Hòa. Lập tức 2 tàu địch tách ra ứng chiến. Hỏa lực của hai bên tương đương, nhưng tàu địch tối tân hơn, chạy nhanh hơn, thân nhỏ sàn tàu thấp tạo thành mục tiêu di động và nhỏ bé hơn chiến hạm của Việt Nam. Các vị chỉ huy của bên ta đều dự trù sẽ nổ súng trước khai thác yếu tố bất ngờ. Vả lại, địch là kẻ xâm lăng, chiếm đất ta, ta có quyền nổ súng. Lúc đó Trung úy Ất 24 tuổi, ngồi trấn thủ cạnh cây đại bác quyết định chiến trường 125 ly nòng dài. Phía trước mặt là 2 tàu chiến của Trung Cộng chế ngự trước đảo Duy Mộng. Trung tá Lê văn Thự với con tàu Lý Thường Kiệt đã xoay trở mấy ngày qua nên quen thuộc với khu vực đầy bãi đá ngầm với san hô. Pháo đội trưởng rất tin tưởng vào dàn xạ thủ nhiều kinh nghiệm với những năm yểm trợ hải pháo cho bộ binh vùng duyên hải Trung phần. Các hạ sĩ quan đều vững tay nghề và tinh thần hết sức cao. Cũng có thể chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Thực sự thì cả hai bên đều chưa hề có kinh nghiệm hải chiến trên biển cả. Sách vở và chỉ thị dùng đạn xuyên phá nhưng trung úy Ất cho nạp toàn đạn chạm nổ. Gần thế này mà xuyên phá thì hỏng hết. Phải chạm nổ mới có kết quả. Lại có lệnh bắn yểm trợ cho bộ binh trên đảo trước. Mấy bác hạ sĩ quan thâm niên đến bên cạnh thì thào vào tai anh trung úy trẻ. Ta cứ nhằm vào đài chỉ huy mà ra tay trước. Nếu cứ phơi mình ra mà bắn yểm trợ lên đảo thì chết hết còn đâu mà yểm trợ bộ binh. Nhớ lại chuyện 34 năm trước, ông Ất kể rằng, chúng tôi cứ hướng vào đài chỉ huy của tàu địch. Ðịch di chuyển là các nòng súng 125 và 40 ly theo sát. Phía bên địch cũng quay súng hướng về chúng tôi như vậy. Giây phút nghẹt thở kéo dài. Lệnh từ soái hạm cho HQ 10 bắn trước. Nghe tiếng nổ là các tàu khai hỏa đồng loạt. HQ 16 hạ được một tàu địch và phía bên phân đội 2 của HQ4 và 5 bắn cháy một tàu. Ngay sau đó thì HQ 10 bị địch bắn xập đài chỉ huy. Trong hải chiến, mục tiêu chính là đài chỉ huy, nơi tập trung bộ phận lái tàu, hệ thống điện, truyền tin. Kế tiếp là dàn pháo của tàu địch. Phần còn lại nằm dưới mặt nươcÔ, phải tấn công bằng thủy lôi nhưng chiến hạm không được trang bị. Súng bắn qua lại như mưa. Trung úy Ất thấy rõ hai chiến hạm địch bốc cháy. Bên HQ 10 có lệnh bỏ tàu, tình thế rất bi thảm. Cùng lúc đó HQ 16 bị trúng thương nặng, lệnh bỏ tàu đã ban hành những sau đã kịp thu hồi và cố gắng xoay trở để rời khỏi chiến trường. Hai chiến hạm của phân đội 1 cũng đã trên đường triệt thoải khỏi vùng hải chiến. Hai chiến hạm địch còn lại cũng bị thương nặng nên không đủ sức truy kích. Nếu không chắc chắn HQ 16 không thể tiếp tục chiến đấu để tồn tại. Con tàu chỉ còn một máy, không có điện phải vận chuyển bằng tay, cố lết ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Rời khỏi trận địa khoảng 11 giờ sáng, đại úy Ất còn nhớ lúc 3 giờ chiều chưa ra khỏi chiến trường. Nhìn về phía sau thật xa vẫn còn thấy chiến hữu trên đảo vẫy tay gọi tàu vào đón. Con tàu không còn khả năng tự xoay trở nên đã đành đoạn bỏ lại đoàn viên tuyệt vọng mỗi lúc một xa dần. Sang ngày hôm sau toàn thể hạm đội Hải Nam của Trung Cộng mới ào ạt tiến đến và bắt tất cả các quân nhân của ta đem về lục địa. Sau đó trao trả tại Hồng Kông. Còn các chiến binh thả trôi trên bè cấp cứu đã nhơ ợợngọn gió Ðông thổi vào đất liền, trôi giạt cho đến khi tàu buôn và ghe chài vớt được trả về cho đơn vị.



Giấc mơ của Ðại úy Ất

Trung úy Ðoàn viết Ất với chiến công trên HQ 16 trong trận Hoàng Sa đã được đặc cách lên đại úy. Chính vì cấp bậc này, cộng thêm khả năng lái tàu Mỹ, ông được cộng sản gia tăng thêm 3 năm thành 6 năm cải tạo. Khi ra tù, lại nhờ khả năng lái chiến hạm nên bà con móc nối cho lái ghe vượt biên mới có cơ hội trở lại vịnh Cựu Kim Sơn quen biết từ năm 70.



Ba mươi tư năm sau, bác Ất quê Nam Ðịnh ngồi nhớ lại hình ảnh con tàu HQ 10 nằm trên biển san hô. Biết rằng bây giờ ta đánh thì không lại quân Tàu, những vật đổi sao rời, cũng có ngày nước Trung Hoa chia năm xẻ bảy. Việt nam hậu sinh lấy lại được Hoàng Sa sẽ trục con tàu anh hùng lên làm thành một đài kỷ niệm như người Mỹ đã làm ở Trần châu Cảng xứ Hạ Uy Di. Ai mà biết giấc mộng đó sẽ không phải là thực. Trong khi chờ đợi, đại úy Ðoàn viết Ất sẽ cùng đại úy hải quân Phạm bách Phi làm một sa bàn Hoàng Sa cho viện Bảo tàng để con cháu thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đến xem ông cha ta ngày xưa châu chấu đá voi ra làm sao.



Lệnh khai hỏa

Khi đặt bút viết bài này có tựa đề là Lệnh Khai Hỏa. Tác giả là một chiến binh lục quân chân đất, hoàn toàn không có kiến thức hải quân nên chỉ xin lạm bàn chút đỉnh. Lệnh khai hỏa thực sự bắt đầu từ đâu và vào lúc nào? Ðô đốc Kỳ Thoại viết trong chương sách về trận Hoàng Sa có ghi rằng đại tá Ngạc chỉ huy hạm đội xin ông lệnh khai hỏa. Qua máy truyền tin tiếng súng bắn tại Hoàng Sa, đại tá Ngạc mở lớn cho ông Thoại nghe thấy. Bút ký của sĩ quan truyền tin trên HQ 5 cũng ghi rõ đoạn này. Tài liệu bằng Anh ngữ của đại tá Ðỗ Kiểm thuộc bộ tư lệnh hải quân Sài Gòn lại ghi rằng đại tá Ngạc điện thoại về xin lệnh khai hỏa của đề đốc tư lệnh hải quân. Lúc đó tư lệnh đang trên đường bay ra Vùng I. Vì chuyện khẩn cấp nên đại tá Kiểm xin lệnh của đô đốc Diệp quang Thủy có mặt tại bộ tư lệnh Sài Gòn. Nhận lúc họp bạn với anh em hải quân để viết lại câu chuyện làm phim, chúng tôi có dịp nói chuyện thêm chi tiết với đô đốc Thủy. Bây giờ đại tá Hà văn Ngạc không còn nữa. Người viết chuyện tò mò muốn tìm hiểu đành phải suy nghĩ rằng trước khi nổ súng ông đã gọi bộ tư lệnh hải quân để xin phép trước. Qua đô đốc Diệp quang Thủy ông được lệnh Sài Gòn. Sau đó ông cẩn thận xin lệnh Ðà Nẵng qua đô đốc Hồ văn KỳThoại, và lệnh khai hỏa bắt đầu. Tuy nhiên dù lệnh ra sao thì cũng chỉ qua giấy tờ và máy truyền tin. Lệnh khai hỏa đích thực sau cùng trên chiến hạm bằng khẩu lệnh là của cấp úy như ông trung úy Ðoàn viết Ất. Lúc đó Trung úy Ất mới 24 tuổi, dân Nam Ðịnh. Ông là người tin vào những chuyện số mệnh linh thiêng huyền bí. Dù rằng lệnh xuống theo hệ thống quân giai từ tổng thống, tư lệnh hải quân, tư lệnh Vùng, chỉ huy hạm đội, hạm trưởng rồi mới đến tai ông. Nhưng theo tiếng gọi từ nơi xa thẳm thì cái lệnh khai hỏa đã bắt đầu từ vua nhà Trần. Bẩy trăm năm về trước Ðức Trần Nhân Tông đã ra lệnh bắn quân Tàu. Tư lệnh quân đội thời đó là Ðức Hưng Ðạo đại vương, Trần quốc Tuấn. Có phải ngẫu nhiên hay không, vua quan nhà Trần thời đó cũng là người quê ở Nam Ðịnh, chẳng khác gì ông tỵ nạn vô danh Ðoàn viết Ất ngày nay đang lưu lạc ở San Jose. Mỗi sáng vào sửa vài cái máy điện toán, bữa ăn trưa là lần cuối trong ngày. Chiều chiều ghé vào nhà con trai kèm bài cho cháu nội. Ông pháo thủ hải quân bỏ lại dàn đại bác từ hơn ba mươi năm trước ở cuối chân trời. Từ ngày đó đến nay chẳng bao giờ còn nghe thấy lệnh khai hỏa của các cấp chỉ huy.

Saturday, January 19, 2008

HỘ TỐNG HẠM NHẬT TẢO (HQ 1O) ĐI VÀO LỊCH SỬ

Trích từ http://hqvnch.net/default.asp?id=1099&lstid=135

Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974
HỘ TỐNG HẠM NHẬT TẢO (HQ 1O) ĐI VÀO LỊCH SỬ.



Lời mở đầu: Bài viết này tổng hợp từ các bài đã viết về Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 trong trận hải chiến Hoàng Sa, và các tài liệu đã được tìm thấy gần đây trong đó có tài liệu do gia đình cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí cung cấp.

Tác giả hy vọng sẽ trình bày một cách đầy đủ những hình ảnh hào hùng và bi thương của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong trận hải chiến lịch sử chống lại bọn giặc xâm lăng Trung Cộng
.

Thềm Sơn Hà


Hơn hai tháng biệt phái công tác cho Vùng I Duyên Hải, Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10 trở về Đà Nẵng sau chuyến tuần dương cuối cùng để bàn giao lại vùng trách nhiệm cho HQ11 (Hộ tống hạm Chí Linh). Tất cả nhân viên chiến hạm đều vui mừng khi nghĩ đến lần trở về Sài Gòn sắp đến sẽ trùng hợp vào ngày Tết Nguyên Đán. Họ sẽ có dịp gần gũi gia đình trong những giờ phút thiêng liêng của năm mới và cũng theo lời Hạm Phó (HP) Nguyễn Thành Trí nói với vợ trước khi lên đường công tác thì chiến hạm sẽ chuẩn bị đi đại kỳ tại Guam sau khi trở về Sài Gòn (1). Ngoài ra với đồng lương mới lãnh, họ đi bờ ra phố Đà Nẵng mua sắm hàng hóa đặc biệt của địa phương để mang về làm quà Xuân cho gia đình và cũng là dịp những chàng lính thủy độc thân ra phố hưởng thụ những giây phút thoải mái sau những ngày dài lênh đênh trên trên biển.

Bất ngờ chiều 17-1-1974 chiến hạm nhận lịnh khẩn cấp cùng với Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ5 lên đường ra công tác Hoàng Sa (HS).

Hạm Trưởng (HT) ra lịnh kéo còi nhiệm sở vận chuyển. Một vài nhân viên trở về lúc sợi dây cuối cùng vừa tháo vội vàng nhảy xuống tàu, có người bị hụt chân rớt xuống nước phải thả phao vớt lên.

Chiến hạm rời bến Đà Nẵng lúc 2000H (8 giờ đêm) với tốc độ chậm để chờ HQ5. Lúc 00 giờ 12 qua ngày 18-1, HQ5 bắt đầu tách bến và bắt kịp HQ 10 vào lúc 3 giờ 15 sáng. Trước tình trạng kỹ thuật của HQ10 chỉ còn xử dụng được một máy và do nhu cầu hành quân khẩn cấp nên HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Hành Quân đã quyết định chỉ thị HQ5 chạy trước bỏ lại HQ10 phía sau.

Trên đường đến HS, Hạm Trưởng HQ10, HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà (K.12/SQHQ/NT) ra lịnh kiểm soát tất cả mọi ụ súng, đem đạn tối đa từ hầm đạn lên các dàn súng nhưng tất cả các khẩu súng đều phải bao lại và nòng súng chỉa lên trời, HT khuyến khích tất cả các nhân viên không thuộc phiên đi ca cố ngũ để lấy sức cho những ngày kế tiếp. Ngoài ra ông ra lịnh mang lương khô để ở các nhiệm sở tác chiến và kiểm soát lại 4 bè cấp cứu cùng các hộp mưu sinh thoát hiểm. HT còn ra nghiêm lịnh bắt buộc tất cả nhân viên phải mặc áo phao và đội nón sắt mặc dù trời rất nắng và nóng bức (đây là những chỉ thị rất sáng suốt của một cấp chỉ huy đầy kinh nghiệm, tiên liệu được những điều có thể xảy ra cho chiến hạm trong một trận hải chiến và cũng nhờ những nghiêm lịnh này mà các chiến sĩ HQ10 trong lúc đào thoát đã có sẵn một số nước uống, thực phẩm khô để cầm cự trong thời gian đầu và áo phao đã giúp họ không bị chìm cũng như che chỡ bớt cơn lạnh về đêm).

HQ10 đến HS vào khoảng 11 giờ đêm ngày 18-1. HT liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp là HQ Trung Tá Lê Văn Thự (K.10/SQHQ/NT) Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ16 kiêm Chỉ Huy Trưởng Phân Đội II (gồm có HQ 10 và HQ 16), sau đó thi hành lịnh của Trung Tá Thự, HT ra lịnh làm tối chiến hạm (darken ship) để địch không nhận dạng được.


Khoảng 01.00H khuya 19-1, chiến hạm nhận được lịnh hành quân từ Đại Tá Ngạc. Sau khi hội ý với HP là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí (K.17/SQHQ/NT), HT đã ở lại phòng vô tuyến phụ cạnh đài chỉ huy (ĐCH) để liên lạc với các giới chức liên hệ và chỉ thị HP họp các SQ và nhân viên tại phòng ăn SQ vào lúc 0200H.

Trong buổi họp, HP đã thông báo cho thủy đoàn HQ10 biết là theo nội dung công điện hành quân thì chiến hạm sẽ chuẫn bị chiến đấu thực sự lúc 6 giờ sáng, HP cũng nhấn mạnh ở điểm là bên ta không được khai hỏa trước vì vậy phần thiệt hại về phía ta có thể lên đến 80% hoặc 90%. Trung Úy Nguyễn Đông Mai có đặt câu hỏi về việc khai hỏa thì HP trả lời đây là lịnh từ Sài Gòn chúng ta phải thi hành theo lịnh. Cuộc họp chấm dứt vào lúc 0230H.

Khoảng 4 giờ sáng, sau một giấc ngủ ngắn HT thức giấc và từ ĐCH ông ra lịnh kéo còi nhiệm sở tác chiến. Tiếp theo hồi còi.. tít..tít..tít..là tiếng của HT vang lên trong hệ thống âm thoại: "Đây là HT…nhiệm sở tác chiến …nhiệm sở tác chiến…tất cả vào nhiệm sở tác chiến”.

Nghe tiếng còi và lịnh của HT tất cả nhân viên bật dậy và lập tức vào nhiệm sở của mình. Tiếp theo đó là nhiệm sở phòng không. Tất cả nòng súng rợp rợp hướng lên trời ở góc độ 45 độ.

Khoảng 4 giờ 30 có hai đóm sáng trên trời, tất cả các khẩu súng đều quay về hướng hai mục tiêu này.

Khoảng 5 giờ 30 hai đóm này lại xuất hiện.

Lúc 6 giờ hai đóm sáng này bay thấp hơn có lẽ là hai phản lực cơ.

Sự xuất hiện liên tiếp của các phi cơ lạ tạo nên tình trạng căng thẳng cho tất cả các nhân viên trên chiến hạm, chắc hẳn mọi người ai cũng linh cảm rằng một cuộc hải chiến chắc sẽ xảy ra.

Rạng sáng ngày 19-1, thi hành lịnh Phân Đội Trưởng, HQ10 di chuyển vào lòng chảo nhóm Nguyệt Thiềm theo lối giữa bãi Antelope và đảo Quang Hòa. Lúc này trời còn lờ mờ chưa tỏ hẵn ánh dương, lực lượng địch bây giờ được tăng cường thêm 2 chiếc Trục lôi hạm T43 mang số 389, 396. Như vậy chúng có cả thảy 4 chiến hạm (2 chiếc Hộ tống hạm loại Kronstadt số 271, 274 đã xuất hiện từ trước) và 2 tàu đánh cá ngụy trang mang số 402, 407 đang hiện diện tại vùng, đối đầu với 4 chiến hạm của ta (kể cả Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 và Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5 thuộc Phân Đội I đang ở trong khu vực phía Nam và phía Tây Nam đảo Quang Hòa).

Chiến hạm ta và địch chạy đan qua đan lại nhau rất gần. Địch nhiều lúc như muốn đâm thẳng cả tàu vào chiến hạm của ta nhưng về cả hai phía các khẩu súng đều chỉa lên trời.

Khoảng 6 giờ 30, Đại Tá Ngạc ra lịnh cho HQ5 đổ bộ toán người Nhái lên đảo Quang Hòa. Toán này vừa tiến vào bờ thì bị lính TC nổ súng trước, một SQ và một chiến sĩ người Nhái bị tử thương. Đại Tá Ngạc ra lịnh toán người Nhái mang xác SQ và rút toàn bộ trở về HQ5.

Nghe tiếng súng nổ, HT thông báo diển tiến và ra lịnh tất cả nhân viên sẵn sàng. Ngay sau tiếng súng nổ trên đảo, chiến hạm của ta và TC không còn chạy gần nhau nữa mà bắt đầu tách ra xa.

Khoảng 9 giờ, các tàu TC trao đổi quang hiệu. Ngay tiếp sau đó các tàu đánh cá ngụy trang được 4 chiến hạm bảo vệ di chuyển song song về hướng Bắc và dần dần biến mất ở cuối chân trời. Mọi người trên chiến hạm thoáng vui mừng, ai cũng thở phào nhẹ nhõm nghĩ là TC đã chịu lùi bước rút lui. Phần Trung Úy Hà Đăng Ngân hơn ngày qua lúc nào thần kinh cũng căng thẳng áo phao, nón sắt rất bực bội bây giờ được tạm cỡi ra vừa xuống phòng ăn cơm xong định đặt chân vào phòng tắm thì còi nhiệm sở tác chiến đột ngột reo inh ỏi, Tr/Úy Ngân tức tốc chạy lên nhiệm sở, mặc lại áo phao, đội nón sắt vào. Nhìn theo hướng chỉ trên ĐCH thấy có mấy vệt khói mỏng nơi cuối chân trời, rồi từ từ 4 chiến hạm TC đã rời vùng cách đây khoảng một tiếng quay đầu trở lại. Khi các chiến hạm TC tiến đến các chiến hạm ta, chúng không đến gần như lúc sáng mà ở xa xa khoảng 1 km làm thành một vòng tròn bao quanh các chiến hạm ta. Sau khi chạy loang quanh chừng 2 vòng các tàu TC từ từ lảng xa ra hơn. Như tiên đoán trước được dấu hiệu khác thường HT ra lịnh chuẩn bị tác chiến nhưng tất cả nòng súng hướng vào phía đảo để tránh sự khiêu khích với tàu địch. Trông chờ mãi khẩu lịnh “bắn” vẫn chưa được ban hành, thủy thủ đoàn có phần xao lãng không còn vẽ hăng say như lúc đầu. Lợi dụng khoảng thời gian này , một số nhân viên ở các nhiệm sở luân phiên vào nhà ăn để dùng cháo cho buổi điểm tâm.

Khoảng 10 giờ, hai chiếc tàu TC mang số 389, 396 bắt đầu tách rời ra khỏi hai chiếc 271, 274 và chạy song song gần nhau. Như một kinh nghiệm chiến trường, HT ra lịnh hạ nòng súng và quay súng về phía tàu TC, vài phút sau hai tàu TC chạy gần sát vào nhau và thình lình cùng quay mũi song song trực chỉ HQ10. HT ra lịnh tất cả ổ súng hướng về hai mục tiêu địch và xin lịnh cấp trên cho phép nổ súng nhưng được trả lời chờ Sài Gòn quyết định. Lúc này thần kinh tất cả mọi người thật căng thẳng. Hai tàu TC cứ từ từ đến gần, khi còn cách HQ10 khoảng 200-300m, HT hét lớn “bắn”. Tất cả các khẩu súng trên tàu đều nhả đạn vào tàu địch. HQ10 khai hỏa đầu tiên do lịnh của chính HT (theo HQ Tr/Tá Lê Văn Thự Hạm Trưởng HQ16 thì HQ16 khai hỏa trước). Những phát đạn đầu tiên của HQ10 trúng ngay vào chiếc 389 của TC làm nó bốc cháy khói mịt mù phải lùi lại phía sau, cùng lúc khẩu 127 ly trên HQ16 trực xạ vào chiếc 396 và chiếc này bị trúng đạn ngay ĐCH làm hư hệ thống tay lái nên tàu cứ xoay quanh. Đến lúc này HQ10 vẫn an toàn, đạn từ tàu TC bắn tới đều bay qua đầu hoặc nổ trên mặt nước.

Chiếc 389 bị trúng nơi hầm đạn với lỗ thủng hơi lớn làm nước tràn vào, ngoài ra máy phát điện cũng bị hư vì trúng đạn. Sau khi đã cố gắng vá xong lỗ thủng và sửa chửa máy phát điện, chiếc này quay trở lại tham chiến.

Điểm cần nêu lên ở đây là so sánh về hỏa lực thì hai trục lôi hạm số 389 và 396 tuy không được trang bị đại bác cỡ lớn nhưng bù lại mỗi chiếc có 4 khẩu đại bác 37 ly (tương đương với đại bác Bofors 40 ly của ta) và 4 khẩu đại bác 25 ly. So sánh về kích thước 2 chiếc này tương đương với HQ10, do đó địch đã áp dụng chiến thuật bám sát vào các chiến hạm ta để làm giảm đi sự hiệu quả của khẩu 127 ly trên HQ16 và 76, 2 ly trên HQ10.

Đang chiếm ưu thế, bổng dưng khẩu 76, 2 ly trên HQ10 bị trở ngại tác xạ (có phải đây là lý do mà HT đã khẩn cấp gọi HP lên ĐCH???) thêm vào đó chiến hạm lại chỉ có một máy khiển dụng, vì thế việc vận chuyển để xử dụng tối đa 2 khẩu đại bác 40 ly ở phía sân sau cùng một lúc rất là khó khăn. Lợi dụng sự bất lợi của HQ10, chiếc 389 đã tấn công tới tấp và HQ10 bắt đầu trúng đạn ở ĐCH và phòng lái. HT, hầu hết các Sĩ Quan, HSQ và nhân viên ngành Giám lộ và Vận Chuyển có mặt trên ĐCH và phòng lái đều tử trận ngoại trừ Hạm Phó bị thương nặng nơi mặt, bụng và chân phải (mất một miếng thịt ở chân phải).

Ngoài ĐCH và phòng lái, hầm máy và hầm đạn dược cũng bị trúng đạn bốc cháy. Đạn nổ văng tứ tung và khói đen tuôn mịt mù khắp con tàu.

Từ vị trí cách HQ 10 khoảng vài trăm mét, quan sát thấy HQ10 đang ở trong tình trạng rối loạn, không bỏ lỡ cơ hội chiếc 389 của TC vận chuyển tiến vào phía sau lái hữu hạm HQ10. Thấy tàu địch có ý định cặp vào một vài nhân viên hơi giao động nhưng 2 chiến sĩ Lê Văn Tây và Ngô Văn Sáu vẫn ngang nhiên ghì chặt nòng súng làm tròn phận sự của mình (lúc này trên HQ10 có khoảng 50 chiến sĩ đã hy sinh, một số bị thương nặng nhẹ, chỉ còn khoảng 20 người còn khả năng chiến đấu). Lính TC trên 389 ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên , súng bazooka qua HQ10 với mục đích thanh toán các ổ súng còn lại, sau đó sẽ cặp vào đổ bộ lính lên chiếm đoạt tàu và bắt sống thủy thủ đoàn HQ10.

Những đợt tác xạ của địch trúng vào Đài Chỉ Huy đã làm Đ/U Trí rớt xuống phòng lái, tuy nhiên với dáng người to con, tướng vạm vỡ (cao 1,74m - nặng 70 kg), HP Nguyễn Thành Trí mặc dù đang bị thương nặng nhưng đã cố gượng đứng lên. Đoán được ý định của giặc, từ phòng lái, Đ/U Trí đã giựt lấy khẩu M16 nhã hàng loạt đạn vào tàu địch và sau khi đợi tàu địch vào đúng vị trí, Đ/U Trí đã cố sức vận chuyển chiến hạm, lấy hết tay lái về bên phải, hướng mũi tàu HQ10 đâm vào hông chiếc 389 của địch.

Quá bất ngờ trước hành động sáng suốt và quyết tử này, chiếc 389 không còn cách gì để vận chuyển tránh né khỏi nên đã bị phần mũi của HQ10 đâm mạnh vào yếu điểm của chiến hạm là phần sau lái. Cú đụng mạnh này cộng thêm vào những hư hại do hỏa pháo của HQ10 bắn trúng trong đợt khai hỏa đầu tiên đã đưa chiếc 389 lâm vào tình trạng nguy kịch, có lẽ đang sắp sửa chìm. Đây chắc cũng là lý do khiến chiến 396 phải ngưng chiến đấu với HQ16 để cấp tốc chạy đến tiếp cứu chiếc 389. Tuy nhiên, ngay cả chiếc 396 cũng lâm vào tình trạng nguy ngập vì thế 2 tàu đánh cá ngụy trang 402 và 407 đã đến tiếp cứu và đưa 389 ủi vào bãi san hô.

Có thể nói đây là một chiến công thật hiển hách của anh hùng Nguyễn Thành Trí trước giặc thù Trung Cộng. Nhận lãnh trách nhiệm quyền Hạm Trưởng (HT Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt kiêm Phân Đội Trưởng Phân ĐộI II đã chỉ định HQ Đ/U Nguyễn Thành Trí thay thế HT Ngụy Văn Thà đã tử thương) trong lúc đang bị thương nặng, một mình đơn độc trên đài chỉ huy (Hạm Trưởng và hầu hết các SQ và nhân viên trên đài chỉ huy và phòng lái đã hy sinh), chiến hạm lại đang ở trong tình trạng nguy kịch, Đ/U Trí quyết định liều chết trong tình trạng khẩn trương đã dùng con tàu làm vũ khí lợi hại chống lại kẻ thù. Đ/U Trí không những đã phá vỡ ý đồ cướp tàu, bắt sống thủy thủ đoàn và mang HQ10 về làm chiến lợi phẩm của địch mà ngược lại còn gây thiệt hại nặng nề cho tàu địch.

Hành động này của Đ/U Trí đã dẫn đến cái chết cho ông và 6 chiến sĩ trên HQ10 trong lúc đào thoát, nhưng ngược lại đã bảo toàn danh dự của Hải Quân VNCH và của tổ quốc Việt Nam.

Vì cấu trúc của phần mũi HQ10 rất chắc chắn nên sau khi đâm mạnh vào sau lái chiếc 389, phần sườn và võ tàu HQ10 không bị hư hại thêm nhiều nhưng cả 2 máy lúc này hoàn toàn bất khiển dụng. Chiến hạm ta và địch từ từ tách ra xa. Tiếng súng đã lắng dịu. Trận hải chiến đang ở trong giai đoạn chấm dứt. HQ16 đang cố gắng bơm nước ra và sửa chửa máy phát điện từ từ ra khỏi lòng chảo hướng về Đà Nẵng. HQ4 và HQ5 rời vùng về hướng Đông Nam. Chiến hạm địch đang tự cứu hoặc đến cứu giúp lẫn nhau. Do đó, mặc dù HQ10 vẫn còn hiện diện tại vùng chiến nhưng đã không có một chiến hạm nào khác của TC đến gần để thăm dò hoặc để bắn chìm. Mãi đến 11 giờ 49 phút TC mới ra lịnh cho 2 chiến hạm loại Hainan mang số 281, 282 tăng tốc độ trực chỉ đến vùng và chúng đã đến địa điểm giao chiến vào lúc 12 giờ 12 phút.

Tình trạng HQ10 lúc này quá bi đát, gần 70% nhân viên đã hy sinh kể cả Hạm Trưởng, một số đang bị thương, phòng máy còn đang cháy, các nhân viên cơ khí bị cháy đen thui trong đó có Tr/Úy Thạch Cơ khí trưởng hai chân hầu như lìa khỏi thân mình, mặt mày cháy đen, 2 máy chánh và máy điện hoàn toàn bất khiển dụng, hệ thống liên lạc nội bộ và máy truyền tin không xử dụng được.

Đ/U Trí từ ĐCH bò xuống sàn tàu. Trước tình trạng tuyệt vọng không được sự tiếp cứu từ các chiến hạm bạn, ngoài ra các chiến hạm địch cũng đang tự cứu lấy do đó không còn là mối đe dọa nữa. Có lẽ đây là những lý do đã khiến cho Đ/U Trí ra lịnh đào thoát.

Với gương mặt đầy máu, Đ/U Trí được hai nhân viên dìu đứng gần bè cấp cứu dõng dạc tuyên bố: ” Hạm Trưởng đã hy sinh, tôi thay mặt Hạm Trưởng ra lịnh đào thoát.” Sau đó, Đ/U Trí đã lết đến từng chỗ mà kéo vực các binh sĩ xuống bè đào thoát (trong số này có Tr/úy Phạm Văn Thì đang ở tại nhiệm sở thủ cây đại liên). Ngoài ra Đ/U Trí chỉ định những nhân viên còn khỏe mạnh thả 4 bè cấp cứu cùng phụ giúp đưa những người bị thương xuống bè và chuẩn bị 1 bè nhỏ có 2 miếng ván kê lên để cho 2 chiến sĩ bị thương nặng là TS/VC Đa và TS/TP Nam nằm lên.

Khi tất cả nhân viên đã xuống bè, Đ/U Trí với vết thương quá nặng, khắp người nhầy nhụa máu cương quyết ở lại chết cùng Hạm Trưởng cùng nhân viên và chiến hạm nhưng hai nhân viên là HS/TP Trần Ngọc Sơn và TT/TX Trương Văn Long đã cặp và lôi ông xuống bè.

Như vậy cuộc đào thoát đã được thực hiện từng giai đoạn, rất có kỷ luật và theo đúng truyền thống Hải Quân. Quyền Hạm Trưởng Nguyễn Thành Trí là người cuối cùng miển cưỡng rời chiến hạm. Trong những giờ phút sau cùng, Đ/U Trí vẫn không quên những bài học về Hải Quy trong hai năm thụ huấn nơi quân trường.

Khi tất cả nhân viên đã lên bè đầy đủ (có người nhảy xuống nước rồi mới lên bè) kiểm điểm lại có tất cả 28 người trong đó có những người bị thương nặng và nhẹ trên 4 bè lớn và 1 bè nhỏ, ngoại trừ các chiến sĩ đã hy sinh.


Có 2 chiến sĩ oai hùng là HS1/VC Lê Văn Tây và HS/VC Ngô Văn Sáu đã từ chối không xuống bè đào thoát, quyết ở lại tử chiến với giặc thù Trung Cộng và chết theo tàu..

Tình trạng các bè rất bi thảm, bè nào cũng bị trúng đạn. Riêng bè của Đ/U Trí bị bể một miếng lớn, khi 6 người ngồi lên, bè chìm xuống, nước ngập tới ngực. Dù bị thương nặng nhưng Đ/U Trí vẫn còn tỉnh táo, ông bảo thủy thủ cố đưa 4 bè lại gần nhau rồi dùng những sợi dây chung quanh phao, cột chúng lại với nhau để cho tàu chạy ngang qua dễ nhìn thấy.

Luồng nước và gió từ từ đưa các bè xa dần HQ10. Lúc này tiếng súng đã ngưng hẵn. Từ bè nhìn lại HQ10 vẫn còn bốc khói. Tàu bị trúng đạn quá nhiều lỗ chỗ như tổ ong; về phía Trung Cộng, 3 chiếc cũng đang bốc cháy.

Tất cả mọi người đều hy vọng sẽ có chiến hạm bạn đến tiếp cứu nhất là HQ16 cũng không xa lắm, nhưng khi nhìn thấy HQ16 bị nghiêng một bên và đang từ từ chạy ra khỏi lòng chảo họ mới hiểu được lý do vì sao HQ16 không đến vớt họ lên.

Gió mùa Đông Bắc đưa các bè trôi theo hướng ra ngoài lòng chảo nhóm Nguyệt Thiềm và HQ10 cũng đang trôi theo. Khoảng hơn một giờ sau các thủy thủ trên bè thấy có khói xuất hiện ở cuối chân trời, niềm hy vọng có tàu bạn đến cứu nhóm lên, nhưng khi đến gần thì ra là hai chiếc số 281, 282 loại Hainan của TC. Khi 2 chiếc này tới gần HQ10 vào lúc 12 giờ 12 phút khẩu đại bác 20 ly do 2 chiến sĩ anh hùng Tây và Sáu ở lại tử thủ bắt đầu nổ vang, chiến hạm địch vừa tiến vừa phản pháo bằng đại bác 57 ly và các loại súng khác. Một hồi lâu sau tiếng đại bác 20 ly từ HQ10 im bặt, HS1/VC Lê Văn Tây và HS/VC Ngô Văn Sáu đã trúng đạn của giặc thù TC hy sinh đền nợ nước một cách oai hùng.

Mặc dù không còn tiếng súng chống trả trên HQ 10 nhưng tàu TC vẫn tiếp tục bắn xối xả vào HQ10 trong khi HQ10 đang bốc cháy và trôi lềnh bềnh cho đến 14 giờ 52 phút thì chìm tại địa điểm cách phía Nam bãi đá ngầm Hải Sâm (Antelope reef) khoảng 2,5 km mang theo thân xác của Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà và 54 (2) chiến sĩ anh hùng của HQ/VNCH.

Thanh toán HQ 10 xong, hai chiếc 281, 282 quay lại tiến gần đến các bè, HP Nguyễn Thành Trí dặn các nhân viên trên bè: ”Nếu bị bắt, bị đánh cũng đừng khóc, đừng van xin”. Tất cả đều hồi hộp không biết chúng sẽ hành động như thế nào? Chúng sẽ vớt họ lên bắt sống làm tù binh? Chúng sẽ bỏ mặc cho bè các anh tiếp tục trôi để chết lần mòn giữa biển khơi? Hay là chúng sẽ bắn vào bè để giết chết hết các anh?... Cuối cùng, sau khi chạy quanh các bè khoảng 2 vòng, chúng vẫy tay cười rồi bỏ đi. Chúng đã chọn phương cách thật tàn nhẫn vừa khỏi phí đạn, vừa khỏi tốn công chăm sóc các anh theo luật tù binh quốc tế, vừa khỏi mang tiếng sát nhân vì chúng nghĩ là sớm muộn gì các anh cũng sẽ chết.

Hành động vô nhân đạo này của TC đã làm chết thêm 7 chiến sĩ của HQ10. Nếu chúng thi hành đúng theo hiệp ước Geneva về tù binh thì khi các chiến sĩ HQ10 được vớt lên chúng có nhiệm vụ phải chăm sóc cho họ và sẽ không có thêm 7 chiến sĩ của HQ10 phải chết oan uổng trên đường đào thoát.

Sau khi tàu TC bỏ đi, các bè vẫn tiếp tục trôi và khi mặt trời bắt đầu lặn dòng nước đưa các bè lại gần một hòn đảo nhỏ. Đ/U Trí ân cần dặn nếu lên được đảo thì phải đào hố để che gió cho ấm và kiếm nước uống , tuyệt đối không được uống nước biển sẽ chóng chết.

Các anh em cố gắng dùng tay và những mảnh ván nhỏ thế chèo nhưng vẫn không vào được gần đảo, dần dần các bè trôi ra ngoài khu vực lòng chảo. Càng về đêm gió càng thổi mạnh, sóng dâng to đánh mạnh vào các bè làm chiếc bè trên đó có Đ/U Trí bị đứt giây tách ra khỏi nhóm. Tất cả mọi người trên các bè đều lạnh run và mệt lả. Trên bè của Đ/U Trí có thêm Tr/úy Ngân cũng bị thương. Phần Đ/U Trí bị thương trên đầu, bụng và chân nhưng ông vẫn cố gắng giữ vẻ tỉnh táo, che dấu đi những nổi đau đớn do vết thương hành hạ. Tuy nhiên vết thương ở chân vì không được băng bó kỷ lưỡng nên vẫn còn rĩ máu vì thế cá mập cứ bám theo sau. Lo ngại về sự an toàn của đồng đội và có lẽ cũng biết là mình sắp chết nên Đ/U Trí đã bảo thuộc cấp: "Hảy thả tôi xuống biển, nếu không cá mập cứ bám theo, các anh cũng sẽ chết hết." (3) Nhưng các anh em không thể nhẩn tâm đối với vị Hạm Phó đã từng sống chết với mình nên họ đã làm ngơ. Cho đến khi đêm xuống, các anh em mệt nhoài ngủ thiếp đi thì cũng là lúc Đ/U Trí trút hơi thỏ cuối cùng đền nợ nước vào khoảng 2 giờ sáng ngày 20 tháng 1 năm 1974, sau khi đã làm tròn nhiệm vụ của một chiến sĩ HQ/VNCH cho đến phút cuối cùng. Các chiến sĩ đào thoát đã chờ đến lúc trời sáng để làm lễ thủy táng cho ông theo truyền thống Hải quân.

Ngoài Đ/U Trí còn có 5 chiến sĩ bị thương trong trận hải chiến cũng đã hy sinh trên các bè đào thoát, danh sách trích từ phiếu tường trình ủy khúc số 121/BLH/HĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974 của BTL/HĐ (4) gồm có:
- HQ. Đại Úy Nguyễn Thành Trí số quân: 61A702.714
- TS1/GL Vương Thương - 64A700.777
- TS/VCh Phan Ngọc Đa - 71A703.001
- TS/TP Võ Văn Nam - 71A705.697
- TS/ĐTTrần Văn Thọ - 71A706.845
- TS/QK Nguyễn Văn Tuấn - 71A700.206

Với khoảng 4 ngày và 3 đêm trôi lênh đênh giữa vùng biển mênh mông trên các bè loang lỗ đầy vết đạn của giặc thù, nước uống và thức ăn không đủ để chia nhau phải dùng nước tiểu pha với nước biển để uống cầm cự. Họ đã sống giữa tuyệt vọng và hy vọng, giữa cái chết và cái sống, giữa những cơn đau đớn tận cùng do vết thương hành hạ, do thời tiết nghiệt ngã mang đến và nhất là nổi đau xót khi chứng kiến đồng đội người này tiếp nối người kia gục ngã trên bè, thân xác được thủy táng vào lòng đại dương. Nhưng hầu như tất cả mọi người lúc nào cũng chia xẽ với nhau, cũng nhường nhịn lo lắng cho nhau và cùng nhau cầu nguyện.


Công tác tìm kiếm và cứu vớt các chiến sĩ đào thoát.
Ngay trong ngày 19-1, trước tin sơ khởi báo cáo về cho biết có thể có 2 chiến hạm phía ta đã bị hỏa tiển Styx của TC bắn chìm, chánh phủ VNCH đã 3 lần nhờ chánh phủ Hoa Kỳ trợ giúp trong việc tìm kiếm và cấp cứu (2 lần nhờ sự trợ giúp của các chiến hạm và 1 lần nhờ sự trợ giúp của các trực thăng thuộc Đệ 7 Hạm Đội), nhưng lời yêu cầu này đã bị Đại Sứ Martin khước từ. Người bạn đồng minh từ bao năm nay đã lựa chọn thái độ không can dự vào các vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo trong vùng biển Đông, ngay cả việc giúp đỡ với mục đích nhân đạo.

Thái độ này đã được thể hiện rõ rệt qua việc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ yêu cầu Bộ Quốc Phòng chỉ thị cho Hải Quân Hoa Kỳ đứng ngoài khu vực xung đột. (ngày giờ chính xác của văn thơ này chưa được rõ). Do vậy, nên ngay sau khi được tin chiến hạm HQ/VNCH đã nhận được lịnh khai hỏa, Tư Lịnh Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ vào lúc 0950H ngày 19-1 lập tức gởi công điện ra lịnh cho các chiến hạm Hoa Kỳ tránh xa khỏi khu vực sắp giao chiến và tránh các hành động có thể được xem như là tham dự vào hay cung cấp sự yểm trợ cho miền Nam.

Đồng thời Tư Lịnh Không Quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương cũng ra lịnh cấm tất cả các phi cơ thuộc Không Lực Hoa Kỳ bay trên không phận quần đảo Hoàng Sa ở bất cứ cao độ nào.

Nhật báo The New York Times ra ngày 19-1 có đăng lời Phát Ngôn Viên Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tuyên bố “Chúng tôi không đứng về bất cứ phe nào”. Ngoài ra John F. King viên chức Giao Tế thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã phát biểu khi trả lời các câu hỏi: ”Lẽ dỉ nhiên, chúng tôi hết sức mong muốn một sự dàn xếp êm đẹp”, nhưng “chúng tôi không can dự vào

Vào buổi tối ngày 20-1, Ngoại Trưởng VNCH đã yêu cầu Đại Sứ Martin chuyển đạt lời yêu cầu đến chánh phủ Hoa Kỳ để nhờ họ đề nghị với TC đồng ý hưu chiến trong 48 giờ, đủ thời gian để chánh phủ VNCH có thể di tản những người chết và bị thương ra khỏi quần đảo HS (5)

Lời đề nghị hợp lý và nhân đạo này đã không được chánh phủ Hoa Kỳ chuyển đến Bắc Kinh.

Trước thái độ dửng dưng của Hoa Kỳ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi cân nhắc lợi hại đã từ bỏ ý định dùng võ lực tái chiếm Hoàng Sa. Vì vậy các giới chức thẫm quyền đã nghĩ ngay đến việc cứu cấp các chiến sĩ HQ10 đào thoát trên bè sau trận hải chiến.

Trưa ngày 22-1 lúc 1 giờ 05 phút, Toà Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã gởi điện thư về Bộ Ngoại Giao báo cáo là vào buổi sáng, dinh Độc Lập, Bộ Ngoại Giao và Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH đã thông báo với họ là Chánh Phủ Việt Nam cảm thấy bắt buộc phải mở ra cuộc hành quân không/hải để tìm kiếm những người hy vọng sống sót trên mặt biển trong khoảng giữa Hoàng Sa và Đà Nẵng.

Tiếp theo đó lúc 1 giờ 31 trưa ngày 22-1, Tòa Đại Sứ lại gởi tiếp bản văn từ Bộ Ngoại Giao VNCH mới vừa được Phát Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao VNCH phổ biến đến báo chí, nội dung bản văn loan báo cấp chỉ huy quân sự Việt Nam đang mở ra cuộc hành quân cứu cấp trong vòng 48 giờ để cứu vớt những người sống sót trên Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, chiến hạm này đã được báo cáo mất tích sau trận hải chiến với Hải Quân TC tại quần đảo Hoàng Sa.

Lực lượng tham dự cuộc tìm kiếm gồm có Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6, hai chiếc Tuần Duyên Đỉnh (WPB) và 1 phi cơ C-119.

Khu vực tìm kiếm nằm trong giới hạn bởi các tọa độ dưới đây :
- A. 15 độ 30 phút 28 giây Bắc - 110 độ 00 phút 18 giây Đông
- B. 14 độ 50 phút 30 giây Bắc - 110 độ 40 phút 27 giây Đông
- C. 15 độ 30 phút 36 giây Bắc - 111 độ 10 phút 00 giây Đông
- D. 16 độ 00 phút 00 giây Bắc - 110 độ 40 phút 48 giây Đông

Bản văn từ Tòa Đại Sứ Mỹ cũng cho biết là các giới chức thẫm quyền VNCH quan tâm đến số phận của thủy thủ đoàn HQ10 mà lần sau cùng đã được thấy không người điều khiển gần đảo Vĩnh Lạc (Money). Với dòng nước biển chảy bình thường sẽ đưa HQ10 hoặc là nếu chiến hạm bị chìm sẽ đưa những người sống sót đến khoảng 70 hải lý về hướng Tây Nam của khu vực nằm trong các tọa độ A, B, C và D.

Bản văn còn cho biết là chánh phủ VNCH chỉ thị phái đoàn VN ở Geneva lập tức thông báo cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế những điều đã đề cập ở trên và yêu cầu Hội thông báo Bắc Kinh về bản chất và phạm vi của cuộc hành quân, ngoài ra còn yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ xử dụng các phương tiện thông tin trực tiếp với Bắc Kinh trong nỗ lực để đảm bảo là Bắc Kinh cũng biết rõ về chiến dịch hoàn toàn có tính chất nhân đạo này.

Về phần Đại Sứ Martin, ông cũng khuyến cáo Bộ Ngoại Giao Mỹ nên tiếp xúc với Phái đoàn liên lạc TC ở Hoa Thịnh Đốn hoặc Văn phòng Liên Lạc Hoa Kỳ ở Bắc Kinh để yêu cầu TC thông báo đến các giới chức thẫm quyền quân sự của họ về chiến dịch này và Bộ Ngoại Giao có thể chỉ thị Phái Đoàn Hoa Kỳ ở Geneva tạo điều kiện để Phái đoàn Việt Nam tại Geneva và Hội HTT quốc tế gặp gỡ nhau.

Những lời khuyến cáo của Đại Sứ Martin đã được Ngoại Trưởng Kissinger chấp thuận, vì vậy ngay sau đó Ngoại Trưởng Kissinger đã gởi điện thư cho Văn Phòng Liên Lạc Mỹ ở Bắc Kinh yêu cầu họ thông báo với Bộ Ngoại Giao TC về cuộc hành quân cứu cấp này. Ngoài ra cũng giải thích cho Bắc Kinh biết là Mỹ làm việc này theo sự yêu cầu của chánh phủ VN và với tính cách nhân đạo, còn việc đề nghị Bộ Ngoại giao TC thông báo cho cấp chỉ huy quân sự TC là tùy ở Văn Phòng Liên Lạc.

Trong khi các chiến hạm và phi cơ VNCH đang bắt đầu việc tìm kiếm thì vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 22-1-1974 tàu dầu Kopionella thuộc hảng Shell mang quốc tịch Hòa Lan đã tìm thấy và vớt tất cả 22 người (5) thuộc HQ10 còn sống sót lên tàu tại toạ độ 16 độ 10’ N và 110 độ 46’ E cách Đà Nẵng khoảng 287 km về hướng Đông, như vậy toán đào thoát đã trôi trên biển trong khoảng 78 giờ với khoảng cách độ 110 km.

Sau khi lên tàu Thượng Sĩ Châu vì quá kiệt sức nên đã trút hơi thở cuối cùng, ngoài ra có 4 người bị thương nặng. Tất cả đã được từ Thuyền Trưởng, Thuyền Phó và phu nhân của các vị này cùng thủy đoàn tàu dầu Kopionella tận tình chăm sóc. Với tư cách Sĩ quan thâm niên hiện diện, HQ Trung Úy Phạm Văn Thì đã được Thuyền Trưởng đưa vào phòng của ông để liên lạc với cấp chỉ huy Hải Quân Việt Nam.

Sáng ngày 23-1 lúc 5 giờ 15 tất cả đã được chuyển sang Tuần dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6 để đưa về Đà Nẵng.

Qua lời thuật lại của các chiến sĩ sống sót, cuộc hành quân cứu vớt tiếp tục sang ngày 23-1 với hy vọng tìm thấy bè bằng cây trên đó có TS/VC Đa và TS/TP Nam, nhưng đến 6 giờ 15 phút chiều cùng ngày phi cơ tuần tiểu đã phát giác hai mãnh ván tại tọa độ 15 độ 43’ Bắc – 110 độ 02’ Đông, nhưng khi chiến hạm được điều động đến nơi mọi người đều thất vọng vì chỉ thấy 2 miếng ván không người.

Cuộc hành quân tìm kiếm và cấp cứu đã được chấm dứt ngay sau đó.

Để kết luận, trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974 như là một định mệnh đã sẵn dành cho Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10 một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử chống ngoại xâm để gìn giữ cõi bờ hùng vĩ do tổ tiên truyền lại. Tuy mất Hoàng Sa nhưng gương sáng về những sự hy sinh cao qúy, về tinh thần chiến đấu cao độ, liều chết tử thủ trước giặc thù, về lời nói đầy hùng khí ngay cả khi lâm vào tình thế nguy khốn sẽ mãi mãi được nhớ đến trong lịch sử oai hùng ngàn đời của con dân nước Việt.

Xin cho một lần tất cả những người dân nước Việt, không phân biệt Nam, Trung, Bắc không phân biệt lý thuyết, chủ nghĩa hãy cúi đầu khâm phục tinh thần bất khuất và sự hy sinh cao cả của 54 chiến sĩ HQ10 đã hy sinh tại chiến trường, 7 chiến sĩ hy sinh trên đường đào thoát cũng như 21 chiến sĩ còn lại đã thoát chết trong lúc chiến đấu với giặc thù, đã sống sót trong 3 đêm và 4 ngày gian khổ cùng cực trên biển khơi.

Các anh còn sống để có ngày chứng minh cho cả thế giới biết sự chiến đấu hào hùng của dân Việt cũng như sự nhẫn tâm của giặc thù Trung Cộng.


Sơ đồ cuộc hành quân tìm kiếm và cứu vớt các chiến sĩ thuộc HQ 10.



Tàu dầu Kopionella


Chuyện bên lề:
Trong bài “Nhật ký bên lề trận hải chiến Hoàng Sa”, HQ Đại Tá Võ Sum TP6/BTL/HQ (Phòng Truyền Tin) đã viết là vì muốn biết số phận cuả HQ10 nên trong ngày 20 tháng 1, ông đã dùng phương pháp cảm xạ học để tìm vị trí của chiến hạm xấu số này.

Ông đã tiên đoán số phận HQ10 “không bao giờ trở lại” và các bè trôi theo hướng 240 độ thật là chính xác. Vị trí cuối cùng của các bè đào thoát do Ông tìm được lần sau cùng vào lúc 10 giờ đêm ngày 22 tháng1 là điểm E tọa độ 16 độ 17’ Bắc và 110 độ 58’ Đông.

Ngoài ra cũng theo bài viết thì chính HQ Trung Tá Lê Thành Uyển đã thiết lập khu vực tìm kiếm cho các chiến hạm và phi cơ.

Phần dẫn chứng:
Trong bài viết “ On January 19, 1974 Xisha naval battle detailed solution” tác giả TC đã diển tả về chiếc 389 như sau: ”...chiếc 389 bị trúng đạn nước tràn vào trong hầm đạn dược…..ngoài ra 5 binh sĩ cũng hy sinh trong lúc sửa lại máy phát điện. Tất cả thủy thủ chiếc 389 chiến đấu một cách dũng cảm ném từng quả lựu đạn, xử dụng súng tiểu liên, súng bazooka bắn qua chiếc HQ10 gần sát đó. Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh trong trận chiến xáp lá cà này.

Lúc bấy giờ chiếc HQ 16 trở lại giao chiến với chiếc 389 để tiếp cứu chiếc HQ10 đang cháy bừng bừng. Đại Úy Nguyễn (ám chỉ Nguyễn Thành Trí) trên chiếc HQ10 thay thế Thiếu Tá Thà đã hy sinh, dốc toàn lực định húc ngay phía sau chiếc 389 thì chiếc 396 đến kịp để cản trở chiếc HQ 16 yễm trợ cho chiếc 389 thoát hiểm…………….12 giờ 12 phút, phân đội 74 nhận lịnh công kích, chiến hạm 281 bắn xối xả lên chiến hạm Nhật Tảo, tuy thủy thủ đoàn chiến hạm Nhật Tảo chống trả mãnh liệt, đến 14 giờ 52 phút chiến hạm Nhật Tảo chìm tại địa điểm phía Nam bãi Ninh Dương (bãi đá Hải Sâm – Antelope reef) cách 2,5 cây số...
”.

Ngoài ra bài này đã viết về chiếc 389 sau khi bị HQ10 đụng vào phía sau lái: ”…chiến hạm số 389 của ta có hơn 10 người chết, đã bị chiến hạm VNCH bắn trúng nhiều lần và bị thiệt hại rất nặng. Khi chiếc 396 chạy đến cứu, hầm máy chiếc 389 đã bị phát nổ, lửa đang cháy lớn, tàu có thể bị chìm bất cứ lúc nào. Hai chiếc tàu đánh cá số 402 và 407 cũng đang bị tấn công nhưng đã cố sức chạy đến cứu và cuối cùng đã thành công đưa chiếc 389 ủi vào bãi.

Ba chiến hạm khác của ta tất cả đều hư hại, chiếc 274 bị thiệt hại rất nặng phải rởi khỏi vùng trở về đảo Phú Lâm, tại đây chiếc này đã được sửa chửa và đã trở lại căn cứ hải quân Yulin ngày hôm sau
”.

Có thể nói một phần trong bài này đã được phía TC viết gần đúng sự thật. Đoạn viết này đã cho thấy vài sự kiện rất quan trọng và từ đó sau khi kiểm chứng và tổng hợp với các tài liệu từ phiá VNCH ta có thể làm sáng tỏ 1 vài sự kiện mà từ trước đến nay chưa giải thích được, ngay cả các nhân chứng còn sống sót trên HQ10 cũng không biết về các hành động rất dũng cảm và rất oai hùng của các chiến sĩ trên HQ10.

- Điểm thứ nhất bài viết đã xác nhận là chiếc 389 đã tiến sát vào HQ10 qua việc chúng ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên.

- Điểm thứ 2 là vì tiến vào quá gần nên chúng đã quan sát thấy HT Ngụy Văn Thà đã tử trận.

- Điểm thứ 3 là vì ở quá gần nên chúng đã quan sát thấy HP Nguyễn Thành Trí dốc toàn lực định húc ngay phiá sau chiếc 389.

- Điểm thứ 4 là chúng đã công nhận khi 281 và 282 nhập vùng tác xạ vào HQ10 thủy thủ đoàn trên HQ10 đã chống trả mãnh liệt, điều này chứng tỏ là 2 chiến sĩ Lê Văn Tây và Ngô Văn Sáu đã can trường liều chết tử thủ, chống trả dữ dội khiến chúng không dám xáp lại gần, vì thế phải mất gần 2 tiếng đồng hồ, chúng mới đánh chìm HQ10

Bài viết của TC dĩ nhiên là không hoàn toàn đúng sự thật vì không có can đảm viết rõ là HQ10 do chính Đại Úy Trí điều khiển đã đâm mạnh vào phần lái tả hạm và đã gây nên tổn thất nặng nề cho chiếc 389. Nếu 389 không bị đụng thì tại sao chúng lại bỏ cơ hội hiếm có để đổ bộ lên chiếm đoạt HQ10 và tại sao tàu lại bị nghiêng và phần lái bị chìm xuống. Tại sao 2 tàu đánh cá 402 và 407 phải chạy đến để tiếp cứu? (hình chụp chiếc 389 trích trong www.military.china.com)

Tài liệu “On January 19, 1974 Xisha defended the war” trong phần tổng kết thiệt hại về phía TC có viết là chiếc 389 bị tổn thất nặng nề và 2 tàu đánh cá 402, 407 từ các vị trí ẩn núp an toàn lúc xảy ra trận hải chiến đã chờ cho đến khi các chiến hạm ta rút ra khỏi vòng chiến chúng mới dám chạy đến yểm trợ để đưa 389 ủi vào bãi san hô tránh chìm, nếu không chiếc 389 sẽ chịu chung số phận như HQ10.

Đoạn viết này không nói đến 396 lại yểm trợ cho 389 chứng tỏ là 396 cũng đang bị thiệt hại nặng phải tự cứu. Ngoài ra khi 281 và 282 đến nơi hầu hết các chiến sĩ trên HQ10 còn sống sót đang ở trên các bè đào thoát, TC đã biết rõ điều này nhưng trong bài viết chúng cho là “thủy thủ đoàn” HQ10 chống trả mãnh liệt để tô đậm thành tích đánh chìm HQ 10 của chúng.

Về việc HQ 10 đụng mạnh vào tàu TC, một số bài viết về phía VNCH như Hải Chiến Hoàng Sa của HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê đăng trong HSTT và bài viết Lần đào thoát ở Hoàng Sa của HQ Tr/U Nguyễn Đông Mai (6) cho là chiếc 396 của TC đụng vào HQ10, nhưng dựa theo các tài liệu TC thì đây là chiếc 389 trùng hợp với Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San & Trần Đỗ Cẩm.

Hà Đăng Ngân trong Hoàng Sa và HQ10 (7) viết: ”…Vài phút sau mục tiêu 2 cũng bốc khói, mục tiêu 1 tuy còn chút khói bốc lên, chạy trở vào gần HQ10, bắn trả lại HQ10 và HQ10 bắt đầu trúng đạn của tàu Trung Quốc…”.

Tuy không nhớ rõ số của mục tiêu 1 và mục tiêu 2, nhưng qua bài viết của TC ta có thể suy ra mục tiêu 1 là chiếc 389 và mục tiêu 2 là chiếc 396.

Các bài viết của các SQ và nhân viên còn sống sót trên HQ10 đã xác nhận sự kiện một chiến hạm TC đụng vào HQ 10 và ý định của chúng định cặp vào đổ bộ lính qua HQ10 mặc dù con số chiến hạm có khác đi. HQ Tr/Úy Nguyễn Đông Mai trong bài ‘Lần đào thoát ở Hoàng Sa’ đã viết: ”...chiếc 396 như tiến lại gần tôi hơn từ phía lái…rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va chạm mạnh làm chúng tôi té nhào trên sân tàu. Tôi chợt nghĩ đến chuyện tàu lên cạn vì vùng này có nhiều san hô. Sau này khi đào thoát tôi mới biết HQ10 đâm vào tả hạm chiếc 396.”

HQ Ch/Úy Tất Ngưu (8) đã cho thấy một sự kiện hiển nhiên là chiến hạm của chúng tiến vào quá gần và các chiến sĩ trên HQ10 có cảm tưởng là chúng sẽ cặp vào để đưa lính sang chiếm tàu, bài ‘Trận hải chiến Hoàng Sa dưới mắt một người còn sống sót’ đã viết: "…Có giọng nói giữa đám anh em đang hỗn loạn :” tàu TC đổ bộ, anh em cẩn thận”. Một loạt đạn M16 túa bay ra từ đài chỉ huy. Nhìn phía trước, tôi thấy mũi tàu của ta đâm vào tàu địch. Thế rồi hai tàu từ từ dang ra. Tàu ta bất khiển dụng cả hai máy chánh, cứ vậy mà trôi lênh đênh. Sau khi hai chiếc tàu đụng nhau, tiếng súng lớn dường như im bặt, chỉ còn nghe những tiếng súng nhỏ. Giai đoạn hải chiến hình như chấm dứt."

Hạ Sĩ Trọng Pháo Vương Văn Hà (9) qua bài “Người về từ Hoàng Sa” cũng xác nhận cú đụng này: ”…HQ10 bị bất khiển dụng khiến cho tàu địch đã bị bắn ở phía tả hạm đụng vào tàu chúng tôi.”

HSTT cũng viết: ” …tuy chiến hạm đang cháy nhưng vẫn tiến từ từ, sau đó ngừng lại khi đụng vào lái tàu địch 396….”

Các bài viết trích dẫn ở trên đã xác nhận sự việc HQ10 và chiếc 389 đụng vào nhau, nhưng vì lúc bấy giờ trên ĐCH và phòng lái không còn ai sống sót, ngoại trừ HP Nguyễn Thành Trí do đó không ai biết được lý do chính xác và nếu không nhờ những chi tiết từ bài viết của TC, chiến công oanh liệt và oai hùng của HP Nguyễn Thành Trí sẽ không được biết đến.

Qua các dẫn chứng trên đã chứng minh một sự thật hiển nhiên là HQ10 và chiếc 389 không phải vì đã: ”…trôi nổi không kiểm soát được trên mặt biển, đã đụng vào nhau” như trong Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa đã viết mà cú đụng này là do chủ ý của Đại Úy Trí đã đơn độc vận chuyển chiến hạm liều chết hy sinh cả chiến hạm và mạng sống đâm mạnh vào phần lái tàu địch.

Chiếc 389 có lẽ không ngờ được là trên đài chỉ huy còn Đ/U Trí vì thế chúng không thể nào tránh né được cú đụng này và có lẽ chúng đã quan sát một cách rõ ràng những diển tiến trên ĐCH nên trong bài viết chúng đã nêu rõ là Đ/U Trí “dốc toàn lực định húc vào tàu chúng”.

Dựa theo bài viết trên thì sự thiệt hại nhân mạng về phía TC trong trận hải chiến HS là 18 người chết và 67 người bị thương (chưa được kiểm chứng) trong số đó chiếc 389 trực chiến với HQ10 có số thương vong cao nhất là 10 người chết, như vậy đã chứng tỏ mức độ giao chiến rất khốc liệt giữa HQ10 và 389.

Tuy dáng người vạm vỡ, nhưng với vết thương quá nặng có lẽ HP Nguyễn Thành Trí biết là mình sẽ không thể nào sống sót được lâu, nên sau khi tất cả nhân viên đã xuống bè Ông quyết định ở lại chết với chiến hạm, nhưng các nhân viên đã bắt buộc Ông phải xuống bè với họ. Việc Đ/U Trí quyết định ở lại tàu có 2 tài liệu viết trong khoảng thời gian ngắn sau biến cố HS đã chứng minh một cách rõ rệt.

Tài liệu “Đêm Xuân trên vùng biển chết” của tác giả Thanh Chương trong Lướt Sóng đã viết: ”Người đã bị thương nhiều nhưng quyết ở lại cùng HT…Một nhân viên đã phải vực Người nhẩy xuống cùng bè với tôi, bè cấp cứu sau cùng rời chiến hạm.”

Tài liệu của tác giả ẩn danh viết: ”… Hạ Sĩ Trọng Pháo Trần Ngọc Sơn và Thủy thủ Thám Sát Trương Văn Long, 2 người này đã cặp Đ/U Hạm Phó và lôi xuống bè.”

(2) Dựa trên tài liệu của TC/CTCT thì: ”Chiến hạm cùng thủy thủ đoàn gồm 82 người đã bị mất liên lạc”, như vậy số quân nhân chết theo chiến hạm là 54 người. Tuy nhiên theo TTHS thì số quân nhân chết theo chiến hạm là 55 người.

(6) Tài liệu của TC/CTCT viết: ”…thương thuyền Kopionella quốc tịch Hòa Lan đã vớt được 23 thủy thủ của Hộ tống hạm HQ10……Trong số này có 2 quân nhân bị tử thương ( gồm có 1 Đại Úy Hạm Phó)…” Chi tiết này không đúng vì Đ/U Hạm Phó đã hy sinh trên bè đào thoát và tàu dầu Hòa Lan chỉ vớt được tổng cộng có 22 người.


Đặc Tính Hộ Tống Hạm Nhật Tảo :

Hộ Tống Hạm Nhật Tảo thuộc loại Admirable Class Minesweeper (AM) do hảng tàu Winslow Marine Railway and Shipbuilding Co ở Winslow tiểu bang Washington đóng.

Chiến hạm được hạ thủy ngày 31 tháng 10 năm 1943 và được đăt tên là USS Serene (AM 300).

Ngày 7 tháng 2 năm 1955 đổi thành loại Fleet Minesweeper MSF 300.

Ngày 24 tháng 1 năm 1964 chuyển giao cho Hải Quân VNCH và được đặt tên là Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10.

Trọng tải:
650 tấn (tiêu chuẩn) – 945 tấn (tối đa)

Kích thước:
Dài 184,5 ft – ngang 33 ft - tầm nước 9,75 ft

Máy chánh:
2 máy dầu cặn (Cooper Bessemer), 2 trục chân vịt, 1710 mã lực

Vũ khí:
- 1 khẩu đại bác 76,2 ly phía sân trước có tầm tối đa 14,000 yds, tầm hữu hiệu 7,500 yds, tác xạ với tốc độ nhanh 50 phát/phút, với tốc độ thích ứng 20 phát/phút.
- 2 khẩu đại bác 40 ly (tả và hữu) phía sân sau có tầm tối đa 11,000 yds, tầm hữu hiệu 4,000 yds, tác xạ với tốc độ 140 phát/phút
- 4 khẩu đại bác 20 ly đôi bao quanh phòng lái có tầm tối đa 4,800 yds, tầm hữu hiệu 2,000 yds, tác xạ với tốc độ 450 phát/phút
- 2 khẩu đại liên 30
- Có trang bị súng cối 81 ly ( không rõ số lượng)
- Vũ khí chống tàu ngầm: với nhiệm vụ tuần tiểu và hộ tống các dụng cụ rà mìn đã được tháo gỡ và thay vào đó là 2 dàn thủy lựu đạn ( depth charge rack) đã được thiết trí ở phía sau lái, ngoài ra còn có 1 dàn phóng thủy lựu đạn hedgehog ở phía sân trước.

Vận tốc:
Tối đa 14,5 knots, có tầm hoạt động 6,500 miles với vận tốc tiết kiệm là 8 knots

Thủy thủ đoàn:
82 người



Tài liệu dẫn chứng :
- Công điện với nhóm ngày giờ 190150Z JAN 74 (giờ Sài Gòn 0950H) của Tư Lịnh Đệ 7 Hạm Đội Hoa Kỳ.
- Công điện với nhóm ngày giờ 190420Z JAN 74 (giờ Sài Gòn 1220H) của Tư Lịnh Không Quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương (Click vào xem tài liệu 2 công điện trên)
- Điện thư số 075995 ngày 22-1- 1974 của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ gởi Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn.
- Điện thư số 01000 ngày 22-1- 1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ (Click vào xem tài liệu này)
- Điện thư số 01006 ngày 22-1-1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Sòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ
- Điện thư số 013552 ngày 22-1-1974 của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ gởi Văn Phòng Liên Lạc Hoa Kỳ ở Bắc Kinh
- Điện thư số 014042 ngày 22-1-1974 của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ gởi Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn
- Điện thư số 01026 ngày 23-1-1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ
- Hà Văn Ngạc “Trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa” trong Tuyển Tập Hải Sử (TTHS) - Tổng Hội Hải Quân&Hàng Hải (THHQ&HH) ấn hành 2004
- Jane’s Fighting Ships
- Lê Văn Thự “Sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa” – Calitoday, March 08, 2004
- Liu Bingfeng “On January 19, 1974 Xisha defended the war” – Military.china.com
- Nguyễn Thị Thanh Thảo : ”Tài liệu mới HQ10 –Hoàng Sa” www.hqvnch.net
- Phạm Mạnh Khuê “Hành quân Trần Hưng Đạo 47” (TTHS-THHQ&HH 2004)
- Thanh Chương “Đêm Xuân trên vùng biển chết”- Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến thắng Hoàng Sa ,Cục Tâm Lý Chiến/K.CTCT/BTL/HQ ấn hành 2004
- The Vietnam Center and Archive (Vietnam.edu.ttu) – tài liệu về đặc tính chiến hạm thuộc Hạm Đội Hải Quân VNCH
- Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị/Cục Tâm Lý Chiến “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của VNCH” ấn hành 1974
- Vũ Hữu San&Trần Đỗ Cẩm “Tài liệu Hải Chiến Hoàng Sa” ấn hành 2004
- Xisha naval battle detailed solution – Militarychina.com
- Võ Sum “Nhật ký bên lề cuộc hải chiến Hoàng Sa”- Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến thắng Hoàng Sa, Cục TLC/Khối CTCT/BTL/HQ ấn hành 1974
- Xisha naval battle detailed solution – Militarychina.com
- (1) Theo lời thuật lại của chị Nguyễn Thành Trí trong lần đến thăm chị ở Sài Gòn vào tháng 10/2006.
- (3) HQ Đại Úy Lê Văn Thự Trung Tâm Trưởng TTHQ/VIDH lúc xảy ra biến cố HS “Trận hải chiến Hoàng Sa và nước mắt của vị Tư Lịnh Hải Quân” phổ biến vào năm 1997 tại Yukon – Oklahoma (Câu nói này chính Đ/U Thự đã nghe nhân viên HQ10 trên cùng bè đào thoát với Đ/U Trí kể lại sau khi HQ6 đưa họ về Đà Nẵng)
- (4) Phiếu Tường Trình Ủy Khúc số 121 ngày 16 tháng 2 năm 1974 của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội (Tài liệu do phu nhân cố HQ/Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí cung cấp)
- (5) điện thư số 0869 ngày 20-1-1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ
- (7) Nguyễn Đông Mai “Lần đào thoát ở Hoàng Sa” (TTHS-THHQ&HH 2004)
- (8) Hà Đăng Ngân “Hoàng Sa và HQ10” trong www.hqvnch.net
- (9) Tất Ngưu “Trận hải chiến Hoàng Sa dưới mắt một người còn sống sót” – www.sqhq25.org
- (10) Vương Văn Hà “Người về từ Hoàng Sa” – TTHS-THHQ&HH, 2004