Friday, August 06, 2010

CÔNG GIÁO KHÔNG THAM GIA CHÁNH TRỊ ?

Hà Minh Thảo


Ngày 21.05.2010, Radio Vatican truyền thanh bài 'Đức Thánh Cha khuyến
khích Giáo dân dấn thân chính trị' bằng kêu gọi các tín hữu Công giáo
dấn thân trong lãnh vực chính trị và chứng tỏ rằng đức tin giúp họ đọc
các thực tại một cách mới mẻ và biến đổi chúng. Đức Thánh Cha Biển Đức
16 khẳng định rằng: Giáo hội không có sứ mạng huấn luyện chuyên môn
cho các nhà chính trị. Đã có nhiều tổ chức khác theo đuổi mục đích ấy.
Sứ mạng của Giáo hội là « đưa ra một phán đoán luân lý cả về những
điều liên quan tới lãnh vực chính trị, khi các quyền căn bản của con
người và phần rỗi các linh hồn đòi hỏi.. và Giáo hội chỉ sử dụng những
phương thế phù hợp với Tin Mừng và thiện ích của mọi người, theo thời
đại và hoàn cảnh khác nhau » (GS, 76).

Trong khi đó, lang thang trên xa lộ thông tin, chúng tôi đọc được câu sau:

« Mới đây trên DVD Thúy Nga Paris By Night, MC Nguyễn Ngọc Ngạn đã có
cuộc phỏng vấn với vị Tân Giám mục người Việt tại Toronto (Canada) là
Đức cha Vincent Nguyễn Mạnh Hiếu. Trong cuộc phỏng vấn này, Đức cha
Hiếu có nói rằng: 'Người Công giáo không làm chính trị!' »

Nếu chúng ta thông biết Hiến Chế Vui mừng và Hy vọng (Gaudium Et Spes)
và Giáo luật thì hai lời nói trên hoàn toàn không có gì mâu thuẫn, xin
mời chúng ta cùng phân tích.

I. KHÁI NIỆM VỀ CHÁNH TRỊ.

A. Công dân Việt-Nam.

Mọi người trong chúng ta khi sinh ra đã có quốc tịch Việt-Nam và là
công dân nước Việt, có nhiệm vụ tôn trọng luật lệ Việt-Nam và được
luật lệ Việt-Nam bảo vệ. Tham gia sinh hoạt chánh trị là quyền bẩm
sinh của mỗi công dân.

B. Hành vi Chánh Trị.

Trên Quê Hương Việt-Nam, người cộng sản gieo vào đầu óc đồng bào một
hiểu biết sai lầm về chánh trị, luôn phải sợ hãi khi nghe đến từ
'chính trị' hay khi không ưa ai thì cứ gắn cho người đó 'làm chánh
trị' một cách vô trách nhiệm và bất công.

Ở đây, chúng tôi đề nghị chúng ta đơn giản vấn đề như thế nầy:

Chế độ cai trị nào cũng cũng tự hào là Dân Chủ, tức là dân làm chủ Đất
Nước. Như vậy, Chủ quyền Đất Nước thuộc về toàn dân, tức mỗi công dân
sở hữu 1/56.252.543 Chủ quyền Đất Nước (đây là số cử tri ghi danh bầu
cử Quốc hội khóa 2007-2011). Thí dụ, quyền Lập pháp được giao cho Quốc
hội. Trong tòa nhà Quốc hội cũng như việc thảo luận và biểu quyết dự
luật rất không thể thực hiện được, nên phải tổ chức bầu cử 493 đại
biểu.

Khi tham gia tuyển cử, mỗi công dân dùng lá phiếu, tương đương với
1/56.252.543 quyền làm luật của mình, chọn và ủy quyền cho các ứng cử
viên trong đơn vị mình đầu phiếu để, khi đắc cử, trở thành đại biểu,
thay mình làm luật tại Quốc hội. Rất tiếc, vì số ứng cử viên bị giới
hạn bởi Mặt trận Tổ quốc khiến vô số người tài đức không thể hiện diện
tại Nghị trường.

Trong trường hợp nầy, những cử tri làm một hành vi chính trị công dân.
Tại Quốc hội, người đại biểu cần phải thảo luận và biểu quyết các dự
luật theo như họ đã hứa với cử tri. Đó là một hành vi chánh trị Lập
pháp cho quốc gia, nhằm phụng sự Công Ích, chứ không vì mị dân hay
đảng phái.

II. TÍN HỮU CÔNG GIÁO.

Người công dân Việt-Nam trở thành người Công giáo Việt-Nam sau khi tự
do xin lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Kết quả tức thì, người công dân có
quyền có những hành vi chánh trị dựa theo những qui chiếu do Phúc Âm
Đức Kitô, Giáo huấn xã hội Công giáo và Giáo Luật mang lại.

Ngày 05.07.2003, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong sứ điệp gởi cho
tổ chức Vatican 'Centesimus Annus-Pro Pontifice', đã nhắc người giáo
dân: « Những hoàn cảnh thê thảm thế giới ngày nay phải chịu chứng tỏ
tính thời sự thường trực của Học thuyết Xã hội của Giáo hội và sự cần
thiết khởi sự từ một viễn ảnh đúng, tập trung vào sự thật con người,
một sự thật do lý trí khám phá và được Tin Mừng Chúa Giêsu củng cố và
cổ võ giá trị chân chính và ơn gọi xã hội tự nhiên của con người ».

Về vấn đề này, Đức Gioan Phaolô II giải thích rằng Giáo huấn Xã hội
của Giáo hội cống hiến những chỉ dẫn cho 'sự cổ võ những nhân quyền,
sự bảo vệ gia đình, sự phát triển những cơ chế dân chủ đích thực và
góp phần chính trị, một nền kinh tế phục vụ con người, một trật tự
quốc tế mới bảo đảm công lý và hoà bình, và một thái độ trách nhiệm
đối với tạo vật.'

1. Tin Mừng Đức Kitô cần được chấp nhận như là Đại Hiến chương của
những Kitô-hữu hợp thành Giáo hội Công giáo, gồm bốn sách đầu tiên của
Tân Ước theo các Thánh Sử Matthêu, Máccô, Luca và Gioan, có tính ưu
việt trên hết, vì là những chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo
huấn của Ngôi Lời nhập thể, Đấng Cứu Độ chúng ta.

Công đồng Vaticanô II đã coi các sách Tin Mừng như những chứng từ
thành văn của các Tông Đồ hay của những vị đã sống bên các Tông Đồ ghi
chép lại do ơn linh hướng của Thánh Thần và đã long trọng khẳng định
lịch sử tính của các sách Tin Mừng vì trung thành truyền lại những gì
Đức Giêsu thực sự đã làm và đã dạy, luôn truyền đạt cho chúng ta những
điều chân thật về Đức Giêsu. Phúc Âm vừa là chứng từ về Đức Giêsu lịch
sử, vừa là chứng từ về niềm tin của các Tông Đồ sau Chúa phục sinh.

2. Giáo huấn xã hội Công giáo.

Ngày 01.05.2000, Lễ kính Thánh Giuse Thợ, với trách vụ Chủ tịch Hội
đồng Giáo Hoàng Công lý và Hoà bình, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn văn
Thuận, Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, đã ký ban hành 'Sưu Tập những
Bản Văn của Huấn Quyền về Học thuyết Xã hội Công giáo'. Trong đó, Đức
cha đã thu nhặt từ các văn kiện đang có trong kho tàng Giáo huấn về xã
hội và viết thành 11 chương về các đề tài: Bản chất Học thuyết Xã hội
Công giáo, Con Người, Gia Đình, Trật tự Xã hội, Vai trò Nhà Nước, Kinh
tế, Lao Động và Tiền Lương, Sự Nghèo đói và Đức Bác ái, Môi trường,
Cộng Đồng Quốc tế và Chương Kết. Văn kiện này được dùng làm căn bản
cho việc hoàn thành « Toát yếu về Học thuyết Xã hội Giáo hội ».

Qua 'Lời Giới Thiệu' của Đức Hồng y Angelo Sodano, Quốc vụ khanh Tòa
Thánh, gởi Đức Hồng y Renato Raffaele Martino, Chủ tịch Hội đồng Giáo
Hoàng Công lý và Hoà bình, đã viết: « … 2. Tài liệu này cũng trình bày
giá trị của Học thuyết Xã hội Công giáo như một phương tiện để rao
giảng Tin Mừng (x. Centesimus Annus, số 54), vì tài liệu này đặt con
người và xã hội trong mối tương quan với ánh sáng Tin Mừng. Những
nguyên tắc của Học thuyết Xã hội Công giáo đặt nần tảng trên luật tự
nhiên, vì thế được xác nhận và cũng cố trong niềm tin của Giáo hội nhờ
Tin Mừng của Đức Kitô… »

Khi khai mạc một cuộc hội thảo quốc tế về 'Chính trị, hình thức đòi
hỏi của đức ái' (La politique, forme exigeante de la charité) ngày
20.06.2008 qui tụ khoảng 60 chuyên viên tại Roma, Đức Hồng y Renato R.
Martino nói: « Giáo hội không làm chính trị, nhưng có một học thuyết
về chính trị, hầu có thể chu toàn sứ mệnh của mình, để phục vụ công
thiện công hảo… Duy trì và cổ võ nơi lương tâm mọi người, ý thức về
phẩm giá siêu việt của nhân vị: đó là sự đóng góp đầu tiên và cốt yếu
mà Giáo hội cống hiến cho cộng đồng chính trị. Trong 'sứ điệp' của Đức
Ki-tô do Hội thánh loan truyền, cộng đồng nhân loại có thể tìm thấy
sức mạnh để yêu tha nhân như chính mình, để chiến đấu chống lại tất cả
những gì phản nghịch sự sống, để chấp nhận sự bình đẳng căn bản giữa
mọi người, để tranh đấu chống lại mọi hình thức kỳ thị, để vượt qua
một nền luân lý hoàn toàn cá nhân… Nếu chính trị có tham vọng hành
động như Thiên Chúa không hiện hữu thì cuối cùng chính trị sẽ trở nên
cằn cỗi và mất ý thức về tính bất khả xâm phạm của nhân vị. »

Đề cập về đa nguyên dân chủ và những giá trị căn bản, Đức Hồng y đã
nhắc lại rằng những quyền lợi mang tính cá nhân và ích kỷ, ở ngoài
khung cảnh sự thật, tình liên đới và trách nhiệm, sẽ phá hủy nền dân
chủ và đưa vào những yếu tố phân tán và đối đầu nhau. Vào một thời đại
như thời đại chúng ta bị ghi dấu bởi những thái độ phản chính trị. Một
nền dân chủ chân chính phải cần đến sự trợ lực của tâm hồn, một giá
trị vô điều kiện của nhân vị hướng về tha nhân và Thiên Chúa trong sự
thật và sự thiện.

3. Giáo Luật.

Tông hiến "Sacrae Disciplinae Leges", được Đức Gioan Phaolô II ký ngày
25.01.1983 để ban hành Bộ Giáo Luật hiện hành.

… Thực vậy, Chúa Kitô không muốn phá hủy gia sản kỳ cựu của lề luật và
các tiên tri đã được thành hình dần dần qua giòng lịch sử và kinh
nghiệm của dân Chúa trong Cựu Ước. Đúng ra, Ngài đã kiện toàn nó (xem
Mt 5,17), để cho gia sản ấy trở thành, dưới một hình thức mới mẻ và
cao thượng hơn, một phần của gia sản Tân Ước…

… Bộ Giáo Luật này hoàn toàn phù hợp với bản chất của Giáo hội, cách
riêng đã được trình bày do giáo huấn chính thức của Công đồng Vatican
II xét trong toàn bộ và nhất là trong học thuyết về Giáo hội. Thực
vậy, phần nào Bộ Giáo Luật mới có thể được coi như một cố gắng phi
thường để diễn dịch đạo lý của Công đồng về Giáo hội ra ngôn từ pháp
lý…

Trong điều 207 Giáo Luật, số 1 phân biệt tín hữu Giáo dân với Giáo sĩ
và Tu sĩ như sau: « Do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu
trong Giáo hội, có các thừa tác viên có chức thánh, trong luật được
gọi là các Giáo sĩ; còn các người khác được gọi là Giáo dân. »

Số 2 của điều luật trên phân biệt Giáo dân với Tu sĩ như sau: « Trong
cả hai thành phần vừa nói, có những tín hữu tận hiến cho Thiên Chúa
một cách đặc biệt và đóng góp vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo hội bằng
việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm qua lời khấn hoặc qua mối giây
ràng buộc thánh thiện khác, được Giáo hội công nhận và phê chuẩn. Hàng
ngũ của họ tuy không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, nhưng
thực sự thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội. »

Như vậy:

- Giáo sĩ là tín hữu có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục.
Nhưng chỉ có Linh mục và Giáo mục được gọi là tư tế thừa tác và được
quyền Tế Lễ. Phó tế là những thừa tác viên được truyền chức thánh để
lo công tác phục vụ trong Giáo hội.

- Tu sĩ là người tín hữu nam nữ đã quảng đại đáp lời mời gọi của Chúa
để tự nguyện khấn và sống ba lời khuyên Phúc Âm (khiết tịnh, khó nghèo
và vâng phục) hoặc có giây ràng buộc thánh thiện khác được Giáo hội
công nhận và phê chuẩn. Đây là bậc sống thánh hiến dành cho những
người có ơn gọi sống những linh đạo hay đặc sủng đặc biệt của nhiều
Dòng Tu hay Tu Hội khác nhau.

- Giáo dân được Giáo Luật định nghĩa theo tinh thần Hiến Chế Tín Lý về
Giáo hội 'Aùnh Sáng Muôn Dân' số 31, như sau: « Danh hiệu Giáo dân, có
nghĩa là tất cả các Kitô hữu không thuộc thành phần chức thánh, hay
bậc tu trì được Giáo hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đã được phép
Rửa Tội sáp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được nhập tịch Dân Chúa, được
trở thành người tham gia, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế, chức
vụ rao giảng Lời Chúa, và chức vụ vương giả của Chúa Kitô, là những
người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Giáo hội và giữa
trần thế theo nhiệm riêng của mình. » Do đó, chỉ Giáo dân là những
người có phận vụ không ai có thể thay thế trong môi trường chính
trị-xã hội.

Như vậy, Giáo hội thật rõ ràng: Giáo sĩ không phận vụ trong môi trường
chính trị-xã hội. Do đó, Giáo Luật ấn định:

Điều 285: (1) Các Giáo sĩ nên xa tránh tất cả những gì không xứng hợp
với bậc mình, theo như những qui định của luật địa phương.

(2) Giáo sĩ nên tránh tất cả những gì, cho dù không xấu xa, nhưng xa
lạ không thích hợp với bậc Giáo sĩ.

(3) Cấm các Giáo sĩ đảm nhận những chức vụ công quyền có kèm theo việc
hành sử quyền bính dân sự.

(4) Nếu không được phép của Bản Quyền riêng, Giáo sĩ không được nhận
làm Quản Lý những tài sản thuộc các giáo dân hoặc những chức vụ trần
thế kèm theo nghĩa vụ phải kế toán sổ sách; cũng không được làm bảo
chứng cho dù dựa vào tài sản riêng của mình nếu không tham khảo ý kiến
của Bản Quyền riêng; phải tránh không nên cam kết những khế ước bảo
lãnh trả một món nợ mà không định rõ căn nguyên.

Điều 287: (1) Các Giáo sĩ hãy tận lực cổ võ duy trì hòa bình và hòa
đồng giữa mọi người, dựa trên nền tảng công bằng.

(2) Các Giáo sĩ không được tham gia tích cực vào các đảng phái chính
trị, hoặc dự phần lãnh đạo trong các nghiệp đoàn, trừ khi nào, theo
phán đoán của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo hội, việc bảo vệ
quyền lợi của Giáo hội và cổ võ công ích đòi hỏi như vậy.

III. GIÁO DÂN DẤN THÂN CHÍNH TRỊ.

1.- Đức Phaolô VI, Giám mục Giáo hội Công giáo và các Giám mục khác,
họp Công Đồng Chung Vaticanô II, ngày 07.12.1965, ký ban hành Hiến Chế
'Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium Et Spes', chúng ta
đọc nơi số 76:

Cộng đoàn chính trị và Giáo hội. Điều rất quan trọng là cần nhận thức
chính xác về mối tương quan giữa cộng đoàn chính trị và Giáo hội, nhất
là trong một xã hội gồm nhiều thành phần. Cũng cần phải phân biệt minh
bạch giữa những hành động của các tín hữu hoặc cá nhân hoặc đoàn thể
với danh nghĩa công dân dưới sự hướng dẫn của lương tâm Kitô giáo và
những hành động của các tín hữu khi họ nhân danh Giáo hội và hợp nhất
với các vị chủ chăn của họ.

Vì lý do chức vụ và thẩm quyền của mình, Giáo hội không cách nào bị
đồng hóa với một cộng đoàn chính trị, và cũng không hề cấu kết với bất
cứ hệ thống chính trị nào vì Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là đảm bảo
cho tính cách siêu việt của con người.

Cộng đoàn chính trị và Giáo hội, mỗi bên với lãnh vực riêng của mình,
đều độc lập và tự trị. Tuy nhiên, dầu dưới danh hiệu khác nhau, cả hai
cũng đồng phục vụ cho con người trong sứ mệnh cá nhân và xã hội. Tùy
theo hoàn cảnh và địa phương, nếu cả hai càng duy trì được sự cộng tác
lành mạnh, thì cả hai càng phục vụ lợi ích của con người một cách hữu
hiệu hơn. Bởi vì con người không phải chỉ thu hẹp trong nhãn giới trần
gian. Nhưng tuy sống trong lịch sử nhân loại, con người vẫn mang một
sứ mệnh trường cửu. Được thiết lập trong tình yêu của Chúa Cứu Thế,
Giáo hội có sứ mệnh làm cho công bằng và bác ái lan tràn trong mỗi dân
tộc và giữa các dân tộc. Khi rao giảng chân lý Phúc Âm và lấy giáo lý
và chứng tá của cuộc sống các Kitô hữu soi sáng mọi lãnh vực của sinh
hoạt con người, Giáo hội cũng tôn trọng và cổ võ tự do chính trị cũng
như trách nhiệm của các công dân.

Và được sai đi để loan báo Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế cho mọi người,
các Tông Đồ và các Đấng kế vị cũng như những cộng tác viên của các
ngài đều dựa vào quyền lực của Thiên Chúa để làm việc tông đồ; còn
Thiên Chúa thường tỏ rõ sức mạnh của Phúc Âm trong chính sự yếu hèn
của các chứng nhân. Vậy bất cứ ai hiến thân phục vụ lời Chúa đều phải
dùng đến đường lối cũng như phương thế riêng của Phúc Âm. Những đường
lối và phương thế này khác biệt ở nhiều điểm với đường lối và phương
thế của trần gian.

Thực thế, các thực tại trần thế và những thực tại siêu phàm nơi con
người đều liên kết mật thiết với nhau. Giáo hội cũng xử dụng các thực
tại trần thế tùy mức độ mà sứ mệnh riêng của mình đòi hỏi. Tuy nhiên,
Giáo hội không cậy nhờ vào những đặc ân của thế quyền. Hơn thế nữa,
Giáo hội cũng sẽ từ chối việc xử dụng một số quyền lợi đã được hưởng
một cách chính đáng khi thấy rằng việc xử dụng những quyền lợi đó làm
cho người ta nghi ngờ về lòng thành thực muốn làm chứng nhân của mình,
hoặc trước những hoàn cảnh mới đòi hỏi phải xử sự cách khác. Tuy
nhiên, bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào, Giáo hội cũng phải được tự do
rao giảng đức tin, truyền bá học thuyết xã hội của mình cũng như được
dễ dàng chu toàn sứ mệnh của mình giữa loài người. Giáo hội cũng phải
được quyền nói lên nhận định luân lý của mình về cả những vấn đề liên
quan đến lãnh vực chính trị khi quyền lợi căn bản của con người hay
phần rỗi các linh hồn đòi hỏi. Nhằm mục đích trên, Giáo hội xử dụng
mọi phương tiện và chỉ những phương tiện nào phù hợp với Phúc Âm và
lợi ích của mọi người tùy theo thời đại và hoàn cảnh khác nhau.

Trung thành theo sát Phúc Âm và thi hành sứ mệnh của mình trong thế
giới, Giáo hội phải cổ võ và nâng cao bất cứ điều gì là chân, thiện,
mỹ trong cộng đoàn nhân loại. Làm như thế tức là Giáo hội xây dựng hòa
bình cho con người để làm vinh danh Thiên Chúa.

Tinh thần của số 76 này đã được Đức Gioan Phaolô II nhắc lại nhiều lần
và Đức Biển Đức XVI nói với các Giám mục Việt-Nam trong các lần tiếp
kiến chung mỗi dịp Ad Limina trong các lần cuối vừa qua [hy vọng chúng
ta sẽ có dịp xem lại trong một lần khác.]

Đối với Giáo dân, điều 76 này nhắc: Giáo hội Công giáo, vì chức vụ và
thẩm quyền của mình, không thể bị đồng hóa với một cộng đoàn chính trị
(Nhà nước, chính đảng…) và không hề cấu kết với bất cứ chế độ chính
trị nào vì Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là đảm bảo cho tính cách siêu
việt của con người, được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người và
được cứu chuộc bởi sự chết và sống lại của Ngôi Hai Thiên Chúa. Nhưng
vì Giáo hội và Nhà nước đều phục vụ cho con người trong sứ mệnh cá
nhân và xã hội, nên nếu cả hai càng duy trì được sự cộng tác lành
mạnh, thì cả hai càng phục vụ lợi ích của con người một cách hữu hiệu
hơn. Tuy sống trong lịch sử nhân loại, con người vẫn mang một sứ mệnh
trường cửu.

Khi dấn thân chính trị, Giáo dân có những qui chiếu do Phúc Âm Đức
Kitô và Giáo huấn xã hội Công giáo thêm vào các luật lệ Việt-Nam.
Người Giáo dân không cần xưng danh tôn giáo, tinh thần phục vụ và khả
năng của mình mới là điều kiện để đồng bào, cử tri tín nhiệm chúng ta.

2.- Một Kinh nghiệm.

Ngày 01.04.1967, Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa Việt-Nam được ban hành với
các đặc điểm:

- Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp được phân nhiệm và phân
quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền được phối hợp và
điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản
Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội (Điều 3).

- Quyền Tư pháp được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp viện và được hành xử
bởi các Thẩm Phán xử án (Điều 76). Tối cao Pháp viện có thẩm quyền
giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tiùnh cách hợp hiến hay bất hợp
hiến của các đạo luật, sắc luật; tính cách hợp hiến và hợp pháp của
các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh (Điều 81 khoản 1).
Nhờ thế, giới cầm quyền không thể hình thành một Hiến Pháp với những
điều khoản đầy hứa hẹn dân chủ, pháp trị, nhưng, trong thực tế, Quốc
hội biểu quyết các đạo luật bất hợp hiến hay Chính phủ ban hành các
nghị định và quyết định hành chánh bất hợp hiến hay/và bất hợp pháp
như ngày nay.

- Người dân có quyền tự do giáo dục và được hưởng 'nền giáo dục cơ bản
có tính cách cưỡng bách và miễn phí'. Nếu công dân có khả năng theo
học cao hơn mà không có phương tiện, quốc gia sẽ nâng đỡ (Điều 10).

Căn cứ vào Hiến pháp, cuộc tuyển cử Nghị sĩ Thượng nghị viện đã được
tổ chức ngày 03.09.1967. Có 48 liên danh với 480 ứng cử viên thuộc các
chánh đảng (Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Duy Dân…), tôn giáo (Cao
đài, Hòa hảo, Phật giáo, Công giáo), xã hội (quân nhân, trí thức, khoa
bảng…) hiện diện tranh cử.

Kết quả, 6 liên danh đắc cử: về đầu, liên danh 'Nông Công Binh' do cựu
Tướng Trần văn Đôn làm thụ ủy gồm các quân nhân và nghiệp đoàn viên;
liên danh Bông Lúa, do ông Nguyễn ngọc Kỷ, tín hữu Cao đài, làm thụ ủy
về hạng 5; các liên danh 'Công Ích và Công Bình Xã Hội', 'Đại Đoàn
Kết', 'Trời Việt' và 'Đoàn kết để Tiến bộ' do các ông Nguyễn văn
Huyền, Nguyễn gia Hiến, Huỳnh văn Cao và Trần văn Lắm đứng thụ ủy đều
là những Giáo dân Công giáo chiếm các hạng còn lại.

Thượng nghị viện khóa đầu tiên có 26 người Công giáo trong số 60 Nghị
sĩ, có 11 Công giáo trong số 13 luật gia trong Viện Lập pháp này. Đặc
biệt, luật sư Nguyễn văn Huyền, một nhân sĩ danh tiếng trong giới Công
giáo và giới chánh trị, một chánh khách hiếm hoi của nền Đệ Nhị Cộng
hòa, đã được bầu vào chức Chủ tịch Thượng nghị viện. Ông đã xây dựng
uy tín cho Thượng nghị viện, xứng đáng với lòng kính nể của người dân
Việt trong việc phát biểu về các vấn đề: tướng lãnh tham nhũng (ngày
20.04.1970), chống độc diễn của liên danh Nguyễn văn Thiệu - Trần văn
Hương (ngày 22.09.1971). Ngoàụi ra, chúng ta còn nhớ một tối trong
tháng 05.1970, sau khi Thượng nghị viện phản đối 'Sắc luật Thuế kiệm
ước' của Chánh phủ, Chủ tịch Nguyễn văn Huyền đã lên án sự vi hiến của
Sắc luật này trên màn ảnh Truyền hình Việt-Nam. Sau đó, nhờ tài hùng
biện của một Nghị sĩ Công giáo khác, luật sư Nguyễn văn Chức, ngày
30.06.1970, Tối cao Pháp viện tuyên bố tiêu hủy 'Sắc luật Thuế kiệm
ước' vì vi hiến.

Tuy nhiên, năm 1974, sau khi một số Nghị sĩ Công giáo thuận theo ý
Tổng thống Nguyễn văn Thiệu để tu chính cho phép ông ứng cử nhiệm kỳ
thứ ba, luật sư Nguyễn văn Huyền từ chức Nghị sĩ bằng đăng báo xin
phép cử tri đã tín nhiệm ông. Khi người Công giáo không đồng tâm, đại
sự gặp nguy.


Hà Minh Thảo

http://vietcatholic.net/News/Html/82559.htm

Sunday, August 01, 2010

HỢP TÁC HAY KHÔNG HỢP TÁC ?

Cố Lm. OP Đỗ Văn Lực/Viết ngày: 29.07.2007

Thế kỷ 20 ít có vĩ nhân nào có thể sánh với Mẹ Têrêsa Calcutta. Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Javier Pérez de Cuéllar từng vinh danh Mẹ : "Bà là Liên Hiệp Quốc. Bà là hòa bình thế giới." Năm 1985, trong Đại Sảnh Đường LHQ, trước khoảng một ngàn cử tọa nổi tiếng, ông TTK trịnh trọng tuyên bố về Mẹ : "Tôi xin giới thiệu với Quý Vị người phụ nữ quyền lực nhất thế giới." [1]

Ai cũng biết Mẹ Têrêsa là một phụ nữ nhỏ nhắn và ốm yếu. Nhưng sự nghiệp của Bà vượt ngoài sức tưởng tượng. Năm 1979, Mẹ Têrêsa đã lãnh giải Hòa Bình Nobel, "vì đã hoạt động để khắc phục sự nghèo khổ và khốn cùng, nguyên nhân đe dọa nền hòa bình." Lúc qua đời, Mẹ Têrêsa đã trối lại một gia tài kếch sù cho Giáo Hội để phục vụ nhân loại : hơn 4,000 nữ tu Thừa Sai Bác Ái, nhóm liên hiệp huynh đệ với 300 thành viên, và trên 100,000 thiện nguyện giáo dân, hoạt động trên 610 tụ điểm truyền giáo trong 123 quốc gia.[2]

Đứng trước những những công việc và thành quả lớn lao đó, ĐGH Gioan Phaolô II tự hỏi và trả lời : "Bởi đâu Mẹ Têrêsa tìm thấy sức mạnh và bền chí hiến mình hoàn toàn phục vụ tha nhân ? Trong thầm lặng, Mẹ đã tìm thấy sức mạnh trong lời cầu nguyện và chiêm niệm Đức Giêsu Kitô, Dung nhan Chí Thánh, Trái Tim Cực Thánh của Chúa."[3] Đức Hồng Y O'Connor, Tổng Giám Mục Nữu Ước, cũng công nhận : "Đối với Mẹ, tất cả quyền lực đều ở nơi Chúa Giêsu, qua Chúa Giêsu, cho Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu. Sức mạnh của Mẹ chính là sức mạnh của cầu nguyện , của hoàn toàn tuân phục thánh ý Thiên Chúa, của tình yêu dành tất cả cho đời sống con người."[4]

Gương Mẹ Têrêsa Calcutta có giúp GHCGVN tìm một hướng đi mới cho công cuộc phục vụ dân tộc không ? Nếu xác tín và sống như Mẹ, chúng ta có đủ ánh sáng cần thiết để chọn lựa con đường hợp tác hay không hợp tác với chế độ hiện tại không ? Làm sao có đủ sức mạnh thi hành sứ mệnh giữa bao nhiêu thách đố hôm nay ?

CẦU NGUYỆN LÀ LẼ SỐNG

Trong đêm tối trần gian, Chúa Giêsu chiếu sáng lên hình ảnh Thiên Chúa như vị Từ Phụ ân cần lắng nghe và đáp cứu con người khi họ cầu nguyện. Cầu nguyện là lẽ sống. Kết quả không phải là những ân huệ vật chất, nhưng là chính Thánh Linh (x. Lc 11:13). Có Thánh Linh là có tất cả. Chính nhờ Người, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và cứu độ nhân loại. Người là tất cả sức mạnh của Thiên Chúa. Thánh Linh là món quà tuyệt vời Chúa Cha ban cho những ai tin tưởng và kiên trì cầu nguyện. Nhận được món quà vô cùng quý giá này, con người sẽ có thể làm mọi sự.

Không cầu nguyện, con người không thể làm gì trên trần gian. Quả thế, "cầu nguyện là một nhu cầu sống còn. Bằng chứng, nếu không để Thánh Linh hướng dẫn, chúng ta sẽ rơi vào ách nô lệ tội lỗi. Làm sao Thánh Linh có thể trở thành 'sự sống' chúng ta, nếu lòng ta xa Người ?"[5] Không có Thánh Linh, tất cả ngôn hành đều là những trò múa rối. Không cầu nguyện, chúng ta không thể nào tồn tại, chứ đừng nói làm được việc gì. Nhưng làm sao cầu nguyện, nếu không có đức tin. Do đó, Chúa Giêsu đưa hai dụ ngôn về người bạn quấy rầy ban đêm và về người cha trần gian so sánh với Cha trên trời. Cả hai dụ ngôn đều ngầm khuyến khích chúng ta phải có lòng kiên nhẫn và tin tưởng vào lòng từ phụ của Thiên Chúa. Đúng như thánh Giacôbê nói : "Đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn." (Gc 1:3)

Trong thực tế, nhiều lúc chúng ta thiếu kiên nhẫn, vì đức tin không đủ mạnh. Nếu đức tin mạnh đủ, chúng ta có thể thưởng thức được tất cả hương vị ngọt ngào và sự sống chan hòa trong lời cầu nguyện. Có thể hiểu phần nào bản chất lời cầu nguyện, vì cầu nguyện có nhiều nét giống chiêm niệm. Mẹ Têrêsa nói : "Theo tôi, chiêm niệm không phải là im lặng trong đêm tối, nhưng là để Chúa Giêsu sống cuộc khổ nạn, tình yêu, và đầy khiêm tốn trong chúng ta, cầu nguyện với chúng ta, hiện hữu với chúng ta, thánh hóa qua chúng ta." [6]

Như vậy, cầu nguyện và chiêm niệm làm cho con người ngày càng giống và nên một với Chúa Kitô. Không sống với Người, chúng ta không thể thấu hiểu bản chất và những đòi hỏi của tình yêu. Tất cả bản lãnh và sức mạnh phục vụ đều bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ Chúa Kitô trong lời cầu nguyện. Cầu nguyện là bước vào cuộc sống của Chúa, để có thể nhìn thấy và phục vụ anh chị em đang đau khổ trong mọi cơ chế bất công.

CÁCH MẠNG NHUNG

Bất công là nguyên nhân sinh ra mọi tệ trạng xã hội. Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới từng nhận định : "Mặc dù không phân tích sâu xa hiện trạng thế giới, nhưng chúng tôi có thể nhận thấy những bất công nghiêm trọng đang thiết lập một hệ thống khống chế, đàn áp và lộng hành khắp nơi để bóp nghẹt tự do và làm cho phần lớn nhân loại không thể tăng trưởng và không có một thế giới công bình và huynh đệ hơn." [7]

Cũng như Mathêu, Luca đặt ở phần mở đầu Kinh Lạy Cha lời cầu xin cho "Triều Đại Cha mau đến." (Lc 11:2) Đây là cốt lõi mọi vấn đề trong Kinh Lạy Cha và là sứ điệp căn bản của Chúa Giêsu và các môn đệ trong Tin Mừng Nhất Lãm. Đó cũng là chủ đề nòng cốt trong lời giảng các Tông đồ (ví dụ Cv 8:12; 19:8). Nước Thiên Chúa không phải chỉ là chủ đề duy nhất được đề cập đến trong Tin Mừng Mathêu, nhưng còn là chủ đề quan trọng trong Tin Mừng Luca nữa.

Dưới ngòi bút Luca, con cháu Abraham (ví dụ Lc 13:10-17; 19:1-10) và những người thừa hưởng lời hứa của Thiên Chúa là chính những "người nghèo của Thiên Chúa," nạn nhân của những cơ chế bất công trong đạo cũng như ngoài đời. Mối phúc thứ nhất dành cho người nghèo Nước Thiên Chúa. Họ nghèo thực sự, chứ không phải chỉ có tinh thần nghèo khó. Nhờ gặp gỡ Chúa Kitô trong lời cầu nguyện các Kitô hữu tiên khởi đã chia sẻ tài sản với những người túng bấn (Lc 6:17-49). Như thế, rõ ràng Nước Thiên Chúa đã có ảnh hưởng sâu xa tới nước trần gian. Giáo hội đã phục vụ Nước Thiên Chúa một cách hữu hiệu trong việc biến cải và thay đổi xã hội.

Khi cầu nguyện cho "Triều Đại Cha mau đến," môn đệ Chúa Kitô đang thực hiện một cuộc cách mạng biến đổi thế giới.[8] Quả thế, "thế giới hôm nay nổi bật với tội bất công nặng nề. Chúng ta vừa nhận thức trách nhiệm, vừa thấy mình không thể lấy sức mạnh chế ngự tội bất công đó. Tình hình đó thúc đẩy chúng ta phải lắng nghe lời Thiên Chúa với tâm hồn khiêm tốn và mở rộng."[9] Bởi đấy, Kinh Lạy Cha đòi chúng ta phải lật đổ bất cứ thứ bất công nào trên thế giới.

Hơn nữa, Kinh Lạy Cha cũng thúc đẩy chúng ta thành lập những cộng đoàn phản ánh trung thực những giá trị Tin Mừng. Vì đã thinh lặng trước sự bất công trong đạo và bị những hứa hẹn sai lạc của đế quốc trần gian quyến rũ, chúng ta không thấy nhu cầu liên kết để hỗ trợ nhau và bàn thảo kế hoạch thay đổi những chế độ tội lỗi. Liên đới với những người đang sống trong hoàn cảnh không thể thực hiện ước nguyện giữa những tương quan cá nhân, phe nhóm và cơ chế. Đó là thách đố đối với những ai đang hưởng lợi từ sự bất công. Đó cũng là đề nghị hay nhất của Kinh Lạy Cha. Bởi thế, càng cần phải thành lập gấp những cộng đoàn đối kháng, đặt nền trên lời cầu nguyện, lời thề sống chết theo công lý và đầy cảm thông. Cộng đoàn như thế sẽ thay thế trật tự xã hội hiện tại.[10]

Khi quy tụ thành cộng đoàn, chúng ta có Chúa Giêsu ở giữa (x. Mt 18:20) để soi sáng cho chúng ta thấy những lý thuyết cực đoan ảnh hưởng tới đời sống trong bốn cấp độ : cá nhân, liên vị, hạ tầng kiến trúc và môi trường. Chúng ta tự hỏi các đường lối hiệp thông khác nhau trên thế giới có phản ánh sự hiệp thông mà Thiên Chúa đòi phải có trong các tương quan giữa con người và các nguồn tài nguyên trên trái đất không. Vấn đề sẽ nổi cộm và làm nhức nhối lương tâm. Cuối cùng chúng ta sẽ đi đến quyết định tìm đường lối nào tốt nhất để sám hối trong mọi lãnh vực đời sống.[11] Sám hối sẽ thay đổi tận nền tảng mọi cơ chế bất công trong xã hội và Giáo hội.

Như thế, Kinh Lạy Cha cổ động công lý trong một thế giới đầy bất công. Bất công đã bóp nghẹt tự do giữa con người và tạo nên chướng ngại cho việc xây dựng một thế giới liên đới hay đầy tình huynh đệ hơn. Bất công làm cho phần lớn nhân loại không được chia sẻ những tài nguyên trái đất. Nếu Kinh Lạy Cha thực sự phát xuất tận đáy lòng, người tín hữu không thể không thấy mọi người đều bình đẳng trước Thiên Nhan. Trong mỗi lời cầu xin, Kinh Lạy Cha đều đảo lộn sâu xa những động lực trần gian. Bởi thế, chỉ khi nào có cái nhìn của Chúa, chứ không phải của thế gian, Kitô hữu mới có thể thực sự đọc Kinh Lạy Cha một cách có ý nghĩa và hiệu lực. Nếu không, dù có đọc cả triệu lần Kinh Lạy Cha, mọi sự vẫn chẳng có gì biến đổi. Cái khó biến đổi nhất là cái tôi, cá nhân hay tập thể cũng vậy. Có bước đầu tiên đó mới có những bước kế tiếp.

ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI

Có một số người vẫn sống trong mơ. Theo họ, cầu nguyện là gặp gỡ Chúa. Đó là lối sống đạo. Đời là đấu tranh, giành dựt, mưu mô. Có lằn ranh rõ rệt. Không thể đem Chúa ra khỏi nhà thờ. Ra khỏi nhà thờ, Kitô hữu cần khoác bộ áo và khuôn mặt khác. Nếu không, họ sẽ thất bại thê thảm. Giữa cầu nguyện và cuộc sống cần phải có một bước nhảy vọt.

Có đúng như thế không ? Nếu đúng, vô tình họ tự đứng vào phe những người không chung đất đứng với Chúa Giêsu. Những người đó vẫn có mặt trong đạo và ngoài đời. Khi tách biệt đạo đời quá kỹ, con người không còn sống thật với chính mình. Bởi đó, họ dễ trở thành mồi ngon cho đủ thứ chủ nghĩa, từ tình dục đến quyền lực, từ tiền tài đến danh vọng v.v.

Chỉ có đức tin mới giúp chúng ta thấy được mạch nối giữa cầu nguyện và cuộc sống. Thực vậy, "cầu nguyện và sống đạo là hai việc không thể tách rời. Cả hai cùng xuất phát từ tình yêu và sự quên mình vì yêu. Cả hai cùng nhắm đến chỗ hòa hợp với ý định yêu thương của Chúa Cha trong tâm tình mến yêu của người con thảo. Cả hai cùng giúp tín hữu hiệp thông với Thánh Linh để được biến đổi ngày càng nên giống Đức Giêsu Kitô. Cả hai cùng thể hiện tình thương yêu mọi người, bắt nguồn từ tình yêu Đức Kitô đã yêu thương ta."[12]

Thiên Chúa muốn cuộc sống Kitô hữu phải thống nhất. Hơn nữa, Thiên Chúa còn muốn Kitô hữu phải nhập thể và nhập thế như Đức Kitô. Có nhiều người đứng ngoài nhìn vào để lên án những người đang nhập cuộc. Nhập cuộc không chỉ thấy nơi những người trong cuộc. Có khi đang ở trong cuộc mà không nhập cuộc. Chẳng hạn, nhiều người đang sống ở Việt nam cứ tưởng mình đang nhập cuộc và lên án hay thách thức những người đang ở Hải ngoại. Họ tự cho mình là người can đảm vì đã chấp nhận ở lại để sống với chế độ. Họ lên tiếng chê bai những người chỉ biết viết những bài chia sẻ mà không sống Lời Chúa. Họ thách thức những người hải ngoại về Việt nam để tranh đấu cho nhân quyền. Khác với cái nhìn trục lợi về "khúc ruột ngàn dặm," có lẽ họ vẫn coi người Việt Hải ngoại là những kẻ nhát gan, đào tẩu, phản bội tổ quốc và GHCGVN.

Đó có phải là một âm mưu thâm độc nhằm chia rẽ những người ở trong và ở ngoài nước ? Dù sao, cứ giả thiết đó là những vấn nạn thực sự của những người anh em thiện chí, chúng ta cũng cần nhìn nhận một sự thật. Nếu hàng ngày đều đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta đều xác tín mình là anh chị em với nhau, vì cùng chung một Cha trên trời. Những gì đụng tới đồng bào trong nước đều đụng tới đồng bào Hải ngoại. Những dấn thân của tập thể đồng bào trong nước đều là nguồn hứng khởi cho cộng đồng Hải ngoại. Tất cả chỉ là một. Vậy tại sao lại phân biệt và chia rẽ chúng ta ?

Nhiều người tưởng rằng từ quan điểm đến hành động, chúng ta không còn là một nữa. Theo họ, chỉ có những người trong nước mới có những cái nhìn xác đáng và xứng đáng là người con của tổ quốc và GHCGVN. Họ vỗ ngực tự hào chỉ mình mới có bản lãnh sống giữa những thử thách cam go. Trong khi kêu gọi người khác phải "biết tôn trọng nhau và độ lượng hơn,"[13] chính họ lại lên giọng kết án cả một tập thể người Việt Hải ngoại ! Không biết họ có đọc Kinh Lạy Cha hàng ngày không nhỉ ?

Họ còn nói những người bên ngoài đồng hóa quê hương với chế độ. Làm như Việt nam vẫn còn là một xã hội đóng như chế độ Bắc Việt từ 1954-1975 vậy ! Nếu quả thực có cái nhìn thiên lệch đó, hàng năm đã không có hàng mấy trăm ngàn người về Việt nam như thế. Không phải vì yêu chế độ mà chúng tôi về Việt nam đâu !

Riêng về GHCGVN, họ tự cho mình quyền đứng ra bênh vực các GMVN. Đối với họ, những người ngoài nước không biết gì hết. Tất cả mọi việc làm của các GMVN đều đúng cả. Đừng ai đụng chạm tới các đấng bề trên cao cấp của chúng tôi ! Tội chết ! Tất cả hãy đấm ngực ăn năn đi ! Có lẽ họ cần đấm ngực trước, vì đã cố tình "nịnh bợ" quá kỹ khiến các đấng không dám dấn thân đáp ứng nhu cầu bức thiết của đồng bào nữa !

Dựa trên những quyền lợi GHCGVN đang được hưởng từ chế độ, họ hăng say biện hộ cho các GMVN . GHCGVN ngày càng bề thế với đầy đủ vây cánh như vậy, ai chẳng ham ?! Nhưng hiện diện như thế để làm gì ? Sứ mệnh hay phương tiện, thứ nào cần thiết và quan yếu hơn ? Đầy đủ quá có dễ chu toàn sứ mệnh không ? Chúa Giêsu có dạy các môn đệ sắm đầy đủ phương tiện trước khi lên đường truyền giáo không ?

Tại sao cùng sống trong một hoàn cảnh như GHCGVN, nhưng GHPGVNTN lại có hành động khác ? Vấn đề không phải là hợp tác hay không hợp tác. Không thể quay ngược bánh xe lịch sử. Vấn đề là hợp tác tới mức nào và trong những lãnh vực nào, miễn đừng phản bội sứ mệnh Chúa đã trao cho GHCGVN. Giáo hội chỉ là phương tiện phục vụ Nước Trời, chứ không ngược lại. Giáo hội phải hy sinh tất cả để "Triều Đại Cha mau đến." Nếu không, Giáo hội sẽ phản bội Thày mình vì đã không chu toàn sứ mệnh trọng đại đối với dân tộc.

Lạy Cha, xin cho chúng con biết hy sinh cho "Triều Đại Cha mau đến" trên quê hương chúng con. Xin cho chúng con luôn hiệp nhất để chu toàn sứ mệnh lịch sử trong GHVN hôm nay. Amen.


Phụ chú

[1] http://www.famouspeople.co.uk/m/motherteresa.html

[2] ibid.

[3] ĐGH Gioan Phaolô II (2003). Diễn Giảng Cho Khách Hành Hương
Đến Roma Nhân Dịp Phong Chân Phước Cho Mẹ Têrêsa.
http://www.famouspeople.co.uk/m/motherteresa.html

[4](WIL, 31) http://tiengnoigiaodan.net/dacbiet/db_nnqlu.html.

[5] Giáo Lý Công Giáo, số 2744.

[6] Trong trung tâm Thế giới, Thư viện New World.

[7] Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới 1971, "Công Bình Trên Thế Giới."

[8] x. Crosby, M. H., The Prayer That Jesus Taught Us, 2002:23.

[9] Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới 1971, "Công Bình Trên Thế Giới."

[10] x. Crosby, M. H., The Prayer That Jesus Taught Us, 2002:23.

[11] ibid.

[12] Giáo Lý Công Giáo, số 2745.

[13] http://www.vietcatholic.net/News/Html/45891.htm

Tuesday, June 08, 2010

Vote all incumbents OUT of office to save America.

Hôm nay tiểu bang California có cuộc bầu cử sơ bộ để chọn các ứng cử
viên đại diện cho đảng của mình ra tranh cử với đảng khác trong cuộc
tổng tuyển cử tháng 11 và biểu quyết các dự luật 13, 14, 15, 16, 17.

Tui là cử tri thuộc đảng Cộng Hòa, nhưng, kỳ này tui bỏ phiếu chống
lai các ứng viên được sự ủng hộ, thừa nhận của ban lảnh đạo đảng. Tất
cả những ứng viên nào đã nắm chức vụ dân cử như dân biểu, nghị sĩ,
thống đốc, phó thống đốc, bộ trưởng ra tái tranh cử, tui nói KHÔNG.
YES 13 để không tăng thuế
YES 16 nhà nước phải được 2/3 dân chúng trước khi xài tiền hay mượn nợ.

Chọn bà Meg Whitman, cựu tổng giám đốc eBay, làm thống đốc tiểu bang.

Chọn bà Carly Fiorina, cựu tổng giám đốc Hewlett-Packard, làm thượng
nghị sĩ đại diện California tại liên bang

Vote all incumbents OUT of office to save America.

Saturday, May 15, 2010

Vạ Tuyệt Thông của Giáo Hội dành cho người theo Cộng Sản

Tác Giả : Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI
Thứ Sáu, 07 Tháng 5 Năm 2010 03:22

Hợp tác với Cộng Sản là đương nhiên bị khai trừ khỏi Giáo Hội

Học thuyết Cộng Sản (CS) là một quái thai của nhân loại trong thế kỷ 19 và 20. Bất cứ cá nhân nào, tổ chức xã hội nào, quốc gia nào hoặc tôn giáo nào cũng đều có bổn phận và trách nhiệm tiêu diệt cái quái thai này, để bảo vệ thế giới của con người, vì học thuyết CS không nhằm phục vụ con người mà nhằm tiêu hủy con người.

Các quốc gia Đông Âu đã nhận ra điều này và đã thành công trong việc tiêu trừ nó vào trước lễ Giáng Sinh năm 1989. Điều trớ trêu và đáng buồn là hiện nay trên thế giới chỉ còn 4 quốc gia theo chủ nghĩa CS và Việt Nam lại là một trong số những quốc gia ấy: Trung Cộng, Cuba và Bắc Hàn.

Ngay khi tà thuyết CS ra đời, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) là một trong những tôn giáo đã chống lại nó một cách mạnh mẽ nhất. Đức Giáo Hoàng Piô XII vào năm 1949 đã ra Sắc Luật chống chủ thuyết Cộng Sản và tuyên bố áp đặt vạ tuyệt thông cho tất cả những người Công Giáo nào hợp tác với các tổ chức Cộng Sản (The Decree against Communism is a 1949 Catholic Church document (by Pope Pius XII) which excommunicates all Catholics collaborating in communist organizations.) Sắc Luật này đã tạo nên một hậu quả khủng khiếp nhất chưa hề có trong lịch sử GHCG là số người bị khai trừ khỏi GH lên tới cả triệu người. Dù biết rõ hậu quả như vậy, nhưng GH vẫn tiến tới, vì hai học thuyết Công Giáo và Cộng Sản không thể đội trời chung với nhau.

Tưởng cần nhắc lại là Sắc Luật nghiêm khắc này chỉ là để thi hành một Thông Điệp chống Cộng đã có từ năm 1937, với tên là "Divini Redemptoris" (Của Đấng Cứu Thế Thần Linh).

Vào ngày 15-7-1948, báo L'Obsservatore Romano, cơ quan ngôn luận chính thức của Toà Thánh đã đăng tải một Sắc Luật chống Cộng, nhằm công bố vạ tuyệt thông cho tất cả những ai "tuyên truyền các học thuyết Cộng Sản nhằm cổ võ thuyết duy vật và chống báng Kitô giáo". Vào thời điểm đó, Sắc Luật có chủ đích ra vạ tuyệt thông cho các đảng viên Đảng CS Ý.

Có thể nói: ngược dòng lịch sử GHCG suốt 100 năm qua, các vị Giáo Hoàng Piô IX, Lêô XIII, Thánh Giáo Hoàng Piô X, Piô XI, Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI, Công Đồng Vatican II và Đức Gioan Phaolô II đều liên tục lên án chế độ Cộng Sản một cách mãnh liệt. Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII đã ban hành án vạ tuyệt thông cho Fidel Castro, lãnh đạo cuộc Cách Mạng CS Cuba mà CSVN vẫn nhận là anh em nối khố để canh chừng thế giới: "Anh ngủ, em thức". Chỉ có ĐGH Bênêdictô XVI mới lên ngôi được 5 năm và có lẽ đang dồn nỗ lực vào việc phục hồi các Giáo Hội tại Âu Châu và Mỹ Châu, nên đã lơ là trong việc chống lại 3 quái thai CS đang hoành hành tại Á Châu là Trung Quốc, Bắc Hàn và VN thôi.

Các văn kiện của Toà Thánh minh định rằng tất cả những tín hữu nào bảo vệ hay cổ võ học thuyết Cộng sản thì "đương nhiên" bị khai trừ khỏi Giáo Hội. (Q.4 If Christians declare openly the materialist and antichristian doctrine of the communists, and, mainly, if they defend it or promulgate it, "ipso facto", do they incur in excommunication ("speciali modo") reserved to the Apostolic See? R. Affirmative).

Ngoài ra, những tín hữu nào bỏ phiếu cho đảng CS hoặc gia nhập đảng này hoặc viết lách cho các báo chí CS thì cũng cùng chung số phận như vậy.

Tất cả những luật lệ trên cho tới nay vẫn còn hiệu lực, vì chưa hề có một văn thư nào của Toà Thánh hủy bỏ, tu chính hoặc sửa chữa nội dung các Sắc Luật chống Cộng kể trên. Cho nên, một tín hữu Công Giáo - bất kể thuộc thành phần nào: từ Giáo Hoàng, Hồng Y, Tổng GM, Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ nam nữ đến giáo dân - mà hợp tác, ca ngợi, tán đồng học thuyết và chế độ CS dưới bất cứ hình thức nào, đều đương nhiên bị vạ tuyệt thông, tức không còn phải là phần tử trong Giáo Hội Công Giáo nữa.

LẬP TRƯỜNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Thái độ của Hội Đồng Giám Mục VN đối với chế độ CS kể từ khi Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đặt ách thống trị trên Quê Hương Việt Nam như thế nào? Một cách tổng quát, chúng ta có thể tóm lược lập trường chống Cộng khác nhau của HĐGM/VN như sau:

- Dưới thời Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn, Tổng GM Hà Nội, Hội Đồng GMVN không muốn có bất cứ liên hệ nào với Nhà Nước CSVN. Đó là một tinh thần chống Cộng quyết liệt.

- Đến thời Đức Cha Nguyễn Minh Nhật, Giám Mục Xuân Lộc, làm Chủ Tịch HĐGM thì các Giám Mục viết kiến nghị yêu cầu Nhà Nước thỏa mãn các yêu sách của Giáo Hội, ví dụ: xin gia tăng chiêu sinh, tự do truyền chức linh mục, trả lại tài sản cho Giáo Hội, v.v... Các bản kiến nghị đó cũng được gửi cho các cơ quan ngôn luận trong và ngoài nước để tạo sức ép trên Nhà Nước. Kết quả, Giáo Hội không được gì, vì Nhà Nước không bao giờ cứu xét các kiến nghị đó.

- Đến thời ĐC Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Nha Trang, làm Chủ Tịch HĐGM thì cũng có kiến nghị, nhưng không công bố mà đến gặp thẳng các viên chức Nhà Nước để đặt vấn đề. Nói cách khác, HĐGM tìm cách đối thoại thay vì đối đầu. Kết quả là Nhà Nước áp dụng chế độ "Xin-Cho". Trên thực tế, có một vài kết quả trong chế độ "Xin - Cho" này. "Xin" có điều kiện thì "Cho" cũng có điều kiện. Hai bên đều có lợi.

- Khi ĐC Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Đà Lạt, làm Chủ Tịch HĐGM thì chính sách đối thoại vẫn được duy trì và còn được thăng hoa bằng "lý thuyết thực dụng" nữa.

Kể từ khi Hoa Kỳ - Trung Cộng bắt tay nhau và thoả thuận cho Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam và đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ VN, Vatican vẫn thường xuyên gửi các phái đoàn đến thương thuyết với Hà Nội, mặc dù hai quốc gia Vatican và VN chưa thiết lập quan hệ ngoại giao.

Giai đoạn đầu, với Trưởng phái đoàn là Đức Ông Celli, cuộc gặp gỡ đôi lúc rất căng thẳng, đến nỗi có lần đã phải đập bàn đập ghế. Nhưng đến thời Đức Ông Migliore làm trưởng phái đoàn thì bầu không khí có vẻ dịu hơn và cho đến thời Đức Ông Parolin thì cuộc đối thoại mang nhiều nụ cười cởi mở. Mới đây nhất, khi Đức Ông Nguyễn Văn Phương - người liên tục có mặt trong phái đoàn Vatican đối thoại với Ủy Ban Tôn Giáo Nhà Nước - chuẩn bị về hưu thì xuất hiện một khuôn mặt mới, trẻ trung, hoạt bát hơn. Đó là Đức Ông Cao Minh Dung. Có người để ý theo dõi và ghi nhận rằng: Nhà Nước tiếp đãi phái đoàn cũng như cá nhân Đức Ông Dung một cách nồng hậu khác thường. Qua cách ứng xử của Đức Ông Dung với Đức Tổng Kiệt trong những ngày qua, có dư luận còn cho rằng CSVN đã "cài" được Đức Ông vào trong guồng máy của Vatican rồi. Dư luận đúng sai tới đâu thì chưa rõ, nhưng xưa nay, những trò tiểu xảo cài gián điệp của Bắc Việt vào guồng máy VNCH vẫn còn làm nhiều người khiếp sợ!

Người ta thấy rõ bầu khí "đối thoại" giữa Vatican và CSVN cùng chung một nhịp với mối quan hệ giữa HĐGMVN và guồng máy cai trị của Hà Nội.

Tưởng cần phải ghi nhận một điểm khá đặc biệt và rất nghịch thường ở đây là Giáo Hoàng vừa là Giáo Chủ Đạo Công Giáo, kế quyền Thánh Phêrô và Đại Diện Đức Kitô trên trần gian này vừa là Quốc Trưởng của quốc gia Vatican, một quốc gia mà diện tích chỉ rộng bằng khuôn viên Dinh Độc Lập của VNCH thôi. Với quyền uy Giáo Hoàng, các ngài có hàng trăm triệu tín đồ trên khắp thế giới và đã ra vạ tuyệt thông cho hàng triệu tín đồ "thiên Cộng". Nhưng với tư cách Quốc Trưởng Vatican, các ngài chỉ có khoảng 800 công dân mang quốc tịch Vatican, nhưng Sứ Thần Toà Thánh hiện diện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cho nên, mặc dầu Fidel Castro đang mang án vạ tuyệt thông mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn đến thăm, bắt tay Fidel Castro, cử hành Thánh Lễ công khai mà không ai phân biệt được ngài đến Cuba trong tư thế Giáo Hoàng hay Quốc Trưởng Vatican. Biết được điểm nghịch thường này, người ta mới hiểu được tại sao Giáo Hoàng có lúc quyết liệt ngoảnh mặt đi, nhất định không nói chuyện với CS, nhưng có lúc lại tay trong tay, niềm nở với Cộng Sản. Hiểu được nét độc đáo này, người ta mới không thắc mắc tại sao trong khi các giáo dân VN đọc câu kinh của cha Trinh Cát: "Xin cho gia đình con thoát ách Cộng Sản vô thần" thì Chủ Tịch Nhà Nước CS và Thủ Tướng CSVN vênh váo bước vào Điện Vatican bắt tay Đức Giáo Hoàng.

VÀI TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ Ở VIỆT NAM

Lệnh của Giáo Hội cấm hợp tác và ca tụng Cộng Sản vẫn còn hiệu lực, nhưng có vài trường hợp cụ thể đã và đang xảy ra tại VN mà nhiều người vẫn đề cập đến, vẫn thắc mắc, vẫn hoang mang, nhưng rồi vấn đề đâu vẫn còn đó, suốt năm này qua năm khác.

Trường hợp thứ nhất: LM Huỳnh Công Minh là người mang thẻ Đảng CSVN và đã có thời là Dân Biểu trong Quốc Hội của Nhà Nước CS. Theo Luật hiện hành của Giáo Hội, ông Linh Mục Cộng Sản này đương nhiên đã bị dứt phép thông công. Mọi người cùng biết, cả nước đều biết, Giáo Hội La Mã cũng biết. Vậy mà ông vẫn thản nhiên cử hành các bí tích công khai như một linh mục bình thường. Điều đáng nói và quan trọng hơn nữa là ông Huỳnh Công Minh còn được ngồi trong chức vụ quan trọng số 2 của Tổng Giáo Phận Saigon, đó là chức Tổng Quản hay còn gọi là Cha Chính Địa Phận. Chức vụ này quyền uy chỉ sau chức Tổng Giám Mục Saigon thôi. Ở các địa phận khác, chức này được thay đổi thường xuyên, nhưng không hiểu sao ông Huỳnh Công Minh ngồi ở chức này từ suốt 35 năm qua. Đã có người hỏi ĐHY Phạm Minh Mẫn về việc này thì Ngài trả lời: "Khi tôi về nhận chức thì đã có cha Huỳnh Công Minh rồi. Có sao tôi cứ để vậy!" Một câu trả lời được đánh giá là rất "huề vốn"!

Trường hợp thứ nhì: LM Phan Khắc Từ. Ông linh mục này mang biệt danh "linh mục hốt rác", vì ông đã nhân danh những công nhân hốt rác xách động biểu tình gây rối chế độ VNCH để làm lợi cho CS Bắc Việt. Chính ông này đã công khai kể công với Đảng CSVN là ông đã dùng nhà thờ để chế bom đánh Mỹ. Ông cũng có thẻ Đảng CS. Ông đã công khai phế bỏ luật Giáo Hội bắt linh mục phải sống độc thân, vì ông đã có vợ, có con. Ông còn tổ chức ăn thôi nôi con linh đình ngay tại Giáo Xứ Vườn Xoài, nơi ông được bổ nhiệm làm Linh Mục Chánh Xứ. Thời gian ông giữ chức Chánh Xứ cũng lâu như ông Huỳnh Công Minh ngồi ở ghế Tổng Quản vậy. Giáo Xứ Vườn Xoài ở ngay Trung Tâm Saigon và cũng thuộc quyền cai quản của ĐHY Phạm Minh Mẫn.

Không biết đến bao giờ những sự thực chung quanh hai ông linh mục CS bị vạ tuyệt thông mới được phanh phui. Chắc chắn sau lưng hai ông phải có cả một thế lực Búa Liềm, khiến Giáo Hội phải nể sợ. Ngoài ra, các nhà thần học của GHCG sau này phải giải thích làm sao cho những giáo dân đã nhận những phép bí tích từ nơi những ông linh mục đã bị án tuyệt thông này? Những bí tích này có thành không? Tại sao thành? Thành ở chỗ nào? Giá trị của bí tích sẽ phải cắt nghĩa thế nào khi giáo dân cứ lãnh nhận từ tay một người mà họ biết là linh mục đã bị đuổi khỏi Giáo Hội và đã có vợ con? Chính những ông linh mục này cũng biết rõ họ không còn phải là linh mục nữa. Và hơn hết, Tổng Giám Mục Saigon là người đã bổ nhiệm một-linh-mục-không-phải-linh-mục về ban bí tích cho giáo dân, có khác nào Tổng GM Saigon đã cho giáo dân ăn bánh mà biết rằng trong bánh có con bọ cạp. Tổng GM Saigon biết, HĐGMVN biết, Giáo Hội La Mã cũng biết. Nhưng tất cả đều im lặng. Thế nghĩa là sao?

CHÚA THÁNH THẦN SOI SÁNG

Có người giải thích rằng: Mọi việc của Giáo Hội đã có Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối. Các Đấng cầm quyền trong Giáo Hội đều nhận ơn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt. Hãy cứ vâng lời và tuân phục, vì Chúa đã chọn các ngài thì Chúa dẫn đường cho các ngài. Đặt vấn đề này ra làm
chi?

Tôi cho rằng luận cứ này là mê tín, phản đạo, xúc phạm tới Chúa Thánh Thần. Mọi tín hữu, dù ở phẩm trật nào trong Giáo Hội, kể cả giáo dân, đều lãnh nhận MỘT BÍ TÍCH THÊM SỨC, MỘT ƠN CHÚA THÁNH THẦN NHƯ NHAU. Chúa Thánh Thần soi sáng cho hết mọi thành phần dân Chúa, trong đó có cả thành phần chiếm đại đa số là giáo dân. Đừng ai tưởng nhầm là chỉ có các chức sắc Giáo Hội mới có ơn Chúa Thánh Thần. Chính nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, tăng sức mạnh, mà các nạn nhân tình dục của một số giáo sĩ mới có can đảm đứng lên tố cáo, trong lúc vẫn có những chức sắc cao cấp trong GH lại cố tình bao che. Hành động bao che tội ác này
mà lại dám biện minh rằng có Chúa Thánh Thần hướng dẫn thì quả là phạm Thánh, là xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, là gán cho Thiên Chúa đồng hành với tội ác. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các giáo dân mà những mụn ghẻ (tức những giáo sĩ dâm ô) bị trừ khử khỏi Giáo Hội và làm cho bộ mặt Giáo Hội được xinh đẹp trở lại. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các giáo dân mà hình ảnh đẹp của các tu sĩ thanh sạch được rạng ngời, chiếu sáng. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các nạn nhân của những vụ ấu dâm mà họ vẫn còn vững vàng tin yêu Giáo Hội và trung thành giữ đạo Thánh Chúa. Như vậy, Chúa Thánh Thần tác động ở khắp mọi thành phần dân Chúa, không nhất thiết phải là ở các chức sắc cao cấp trong Giáo Hội.

Đối với Đảng CSVN, Hồ Chí Minh tự xưng là một đảng viên CS. Ông đã theo chỉ thị của Cộng Sản quốc tế để thành lập Đảng CSVN, gây nên biết bao hệ lụy tang thương cho đất nước và dân tộc này. Những người cầm quyền hiện tại đều là đảng viên CS. Do đó, Giáo Hội VN không có lý do gì để bắt tay, hợp tác và duy trì chế độ này. Giáo Hội Ba Lan đã có một Tổng GM Stanislaw Wielgus, được Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI tín nhiệm, bổ về cầm quyền giáo phận lớn vào bậc nhất Balan là Warsaw. Vậy mà cuối cùng Chúa Thánh Thần đã không soi sáng cho Đức Giáo Hoàng nhận ra con người thâm hiểm, lang sói này, mà lại soi sáng cho Ủy Ban Nhân Quyền Ba Lan phát giác ra một tin động trời là TGM Wielgus trước đây đã từng là gián điệp cho cơ quan tình báo CS Ba Lan. Sau đó, Chúa Thánh Thần cũng không soi sáng cho Đức Thánh Cha thu hồi lệnh bổ nhiệm tên điệp viên Cộng Sản này về giữ chức Tổng GM Warsaw, mà lại soi sáng cho chính đương sự biết nhận tội và từ nhiệm!

Hầu như chắc chắn rằng trong tương lai gần đây, khi Đảng CSVN sụp đổ, người ta sẽ khám phá ra nhiều chuyện động trời nơi Hội Đồng GMVN. Thực tế tang thương tới đâu, chưa rõ. Nhưng hiện tại, đã có rất nhiều điềm báo khác thường về những nanh vuốt Satan Cộng Sản đang hoành hành nơi các chức sắc của Giáo Hội VN. Điển hình là hai trường hợp cụ thể khó hiểu nhất vừa nói ở trên là Huỳnh Công Minh và Phan Khắc Từ, rồi đến văn thư "Cờ Đỏ, Cờ Vàng" của ĐHY Phạm Minh Mẫn; những lời tuyên bố mang tính cách lạc quan hồ hởi giữa Đạo và Đảng của ĐC Nguyễn Văn Nhơn; bài viết "Sự kiện, thông tin và những góc nhìn" đăng trên Web chính thức của Hội Đồng GMVN. Có tin nói bài viết đó là của Giám Mục này, của GM kia. Sự thực chỉ có ĐC Nhơn và tác giả thật của nó biết, nhưng điều chắc chắn khi đọc lên thì đúng là tư tưởng, lời lẽ và mạch văn của một đảng viên Đảng Cộng Sản, chứ không phải của một giám mục chính danh. Chưa hết, một Chủ Tịch HĐGM, 73 tuổi, được bổ nhiệm về làm phó với quyền kế vị cho một Giám Mục, 58 tuổi, mà rồi lại được chính Hội Đồng GM đăng lời chúc mừng rầm rộ, y như là một "chiến thắng" lừng lẫy của một trận chiến cam go? Trong khi đó, GH không có gì để chiến thắng mà chỉ đang phải đối đầu với nhiều tang thương. Có chăng là Đảng CSVN đang reo mừng chiến thắng và chúc mừng nhau mà thôi.

Phải chờ cho đến ngày những tín hiệu bất thường này được giải mã và sự thật được phơi bày trước công luận.

Và ngày ấy chỉ đến khi Đảng CSVN và các bộ hạ của nó bị khai tử.

KẾT LUẬN:

Biến cố GM Nguyễn Văn Nhơn về làm Giám Mục Phụ tá, bề ngoài tưởng rằng Đức Tổng Kiệt được tăng quyền, nhưng bên trong, đó là một sự tước quyền. Trong lúc tôi ngồi viết những dòng này thì tại nhà thờ Chánh Toà Hà Nội đang diễn ra một cuộc chuyển quyền mặt ngoài tưởng như êm ái, nhưng mặt trong rất ngột ngạt. Sở dĩ tôi mường tượng nó ngột ngạt, căng thẳng vì chưa bao giờ Ban Tổ Chức một Thánh Lễ tôn giáo lại "yêu cầu giáo dân khi đến dự lễ không nên mang theo bất cứ một thứ gì không phù hợp với thánh lễ mừng Đức Tổng Phó Nguyễn Văn Nhơn". Có phải Ban Tổ Chức sợ giáo dân mang cà chua, trứng thối đến hay sao? Thì ra, các giáo dân hôm nay chỉ được quyền "mừng" mà không có quyền "buồn" hay "phẫn nộ".

Là một tín hữu tin Chúa, tôi phải tâm niệm rằng Giáo Hội không phải là Đức TGM Ngô Quang Kiệt này hay Đức GM Nguyễn Văn Nhơn nọ. Giáo Hội chính là Bàn Thánh mà TGM Ngô Quang Kiệt và GM Nguyễn Văn Nhơn đang đứng bên nhau, cùng dự một Bàn Tiệc, cùng ăn một Bánh Thánh, cùng uống một Chén Thánh, cùng tôn thờ một Thiên Chúa và phục vụ một Giáo Hội.

Thế nhưng, chiếc Bàn Thánh hôm nay hình như có những đệ tử của Karl Marx và Lénin đang thập thò đâu đó, khiến cho chiếc bàn có vết nứt ra làm đôi: Một bên cười rạng rỡ, có pha lời chúc mừng. Một bên buồn ray rứt, có dòng lệ hoen mi.

Những Sắc Luật ra vạ tuyệt thông cho tín hữu thiên Cộng nằm ngổn ngang trước mặt đã làm tôi thực sự hoang mang khi nghĩ về Tổng Giáo Phận Hà Nội giờ này. Đức TGM Ngô Quang Kiệt phải "chống Cộng" tới mức nào để Toà Thánh cho là không đi quá đà và khỏi bị thay thế theo yêu sách của Nhà Nước VN? Còn Đức GM Nguyễn Văn Nhơn phải "giao hảo" với CS tới mức nào mới không bị "đương nhiên" mắc vạ tuyệt thông để có đủ tư cách kế vị Đức TGM Kiệt?

Tôi chỉ còn biết ngửa mặt lên Trời cầu xin Thánh Thần Chúa ngự đến, ban cho tôi một Đức Tin bằng nửa hạt cải thôi, để tôi có được một giấc ngủ yên hàn đêm nay.

San Jose, ngày 6 tháng 5, 2010 (8 giờ tối)
Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI
http://saigonecho.com/main/tintuc/74-features/18259-vatuyetthongchocongsan.html

Friday, May 07, 2010

Thư của dân biểu Cao Quang Ánh

Làm dân biểu phải nghe lời dân biểu, phải nói lên được nguyện vọng của
dân. Mời đọc thư trả lời thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn của dân biểu Liên
Bang Hoa Kỳ Cao Quang Ánh.

Tôi đã nhận văn thư của Ông Thứ Trưởng yêu cầu tôi triệu tập buổi gặp
gỡ với phái đoàn của Ông nhằm xoá tan những "ngộ nhận" giữa cộng đồng
người Mỹ gốc Việt và chính phủ Việt Nam. Ở thời điểm này, tôi phải từ
khước.

Tiền đề cho buổi gặp gỡ nhằm giải toả những điều được gọi là "thiếu
thông tin đúng đắn" là tiền đề sai lầm và chắc chắn không phải là khởi
điểm mang tính cách xây dựng cho việc đối thoại. Những người Việt
quyết định đánh đổi mạng sống để rời bỏ quê hương không hề hiểu lầm về
chính phủ Việt Nam. Họ ra đi vì đã không thể sống dưới một chế độ toàn
trị vốn xem thường quyền con người và tự do tôn giáo, và trừng phạt
những công dân can đảm lên tiếng.

Lịch sử của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam hãy còn in sâu trong ký ức
của nhiều người đã đau khổ vì cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu trong
thập niên 1950 và gần đây hơn là chính sách "trại cải tạo". Đó là chưa
nói đến những người bất đồng chính kiến mà chính phủ của Ông tiếp tục
giam cầm vì họ kêu gọi dân chủ và tự do. Người Mỹ gốc Việt đã chọn lựa
không sống trong một đất nước công an trị nơi mà người dân không có
tiếng nói đối với việc điều hành quốc gia. Quả vậy, phần lớn những
người Việt đến đây đã quyết định trở thành công dân Hoa Kỳ chính vì
Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo đảm một cách rõ ràng quyền tự quyết và tự do
thiên phú của mỗi con người.

Tôi, giống như đa số người Mỹ gốc Việt, mong muốn một Việt Nam giàu
mạnh. Chỉ là điều tự nhiên khi người ta có thiện ý đối với quê hương.
Tuy nhiên, tôi tin rằng khi con người được hành xử quyền suy nghĩ cho
chính mình và nói lên những điều mình nghĩ, thì mới bắt đầu có những
phát kiến thực sự và một Việt Nam tự do sẽ càng hùng mạnh và thêm phồn
thịnh. Trong môi trường ấy, nhiều người Mỹ gốc Việt tài giỏi sẽ hăng
hái tìm cách đóng góp để làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia tốt
đẹp hơn.

Có một số bước mà chính phủ Việt Nam có thể thực hiện để đáp ứng những
quan tâm của người Mỹ gốc Việt, bao gồm:

* Trả tự do cho những tù nhân lương tâm như Nguyễn Văn Đài, Vũ Hùng,
Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, và nhiều nữa;
* Trả tự do cho những tù nhân đang bị bắt bớ vì những lý do nguỵ tạo,
như tác giả Trần Khải Thanh Thuỷ;
* Ngưng sách nhiễu những nhà vận động cho dân chủ như Ts. Nguyễn Thanh
Giang và Bs. Phạm Hồng Sơn;
* Hoàn trả tài sản cho các tổ chức tôn giáo và cho phép các tôn giáo
thực hành tín ngưỡng của họ;
* Ngưng mọi hành động phá huỷ các biểu tượng và tài sản tôn giáo, và
những hành động lạm dụng về thể xác và tinh thần đối với các tín đồ;
* Trả tự do cho tất cả các nhà lãnh đạo tôn giáo thuộc các sắc dân
thiểu số đã từng bị giam cầm trong nhiều năm;
* Hơn nữa, bồi thường cho các nạn nhân trong vụ Daewoosa American
Samoa theo phán quyết của Toà Thượng Thẩm American Samoa đối với chính
phủ của Ông sẽ chứng minh rằng Việt Nam sẽ tuân thủ nguyên tắc pháp
trị.

Đấy là những bước cụ thể và hợp lý. Là người Mỹ gốc Việt độc nhất phục
vụ tại Quốc Hội, tôi nhất thiết yêu cầu chính phủ Việt Nam chứng tỏ
thiện chí giải quyết những vấn
đề quan tâm của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Chỉ khi đó chúng ta mới
có thể bắt đầu tiến trình hàn gắn những vết thương sâu đậm đã chia cắt
chúng ta và có những cuộc đối thoại cởi mở và chân thành trên những
vấn đề trọng yếu về lợi ích chung.

Cho đến khi chính phủ Việt Nam nghiêm túc trong vấn đề bảo vệ nhân
quyền và tự do tôn giáo, lời kêu gọi của Ông Thứ Trưởng đến với cộng
đồng người Mỹ gốc Việt sẽ tiếp tục không được đón nhận. Tôi trông chờ
hồi âm của Ông.

Nguồn: http://josephcao.house.gov/News/DocumentSingle.aspx?DocumentID=183777

Wednesday, April 28, 2010

NguoiVietBoston: Ngày 30 tháng 4 Đứng Lên Vì Việt Nam

Dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã phải không ngừng chiến đấu để bảo vệ
quyền tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử. Ở đó, mỗi ngọn núi, mỗi
con sông đã mang đầy chứng tích của những cuộc chiến tranh tự vệ khốc
liệt. Tổ tiên chúng ta đã phải trải qua bao nhiêu chịu đựng gian nan
trong suốt nhiều thế kỷ, sáng xuống biển tìm ngọc trai, chiều lên non
tìm ngà voi châu báu.

Nhưng từ những chịu đựng, từ những máu xương và nước mắt, tinh thần
độc lập, tự chủ đã được khai sinh và lớn lên cùng chiều dài lịch sử.
Nếu không nhờ tinh thần độc lập tự chủ đó, ngày nay Việt Nam không
phải là nước Việt Nam mà là tỉnh Việt Nam, như tỉnh Quảng Đông, Quảng
Tây hay đã chịu chung số phận của Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng.

Với một lãnh hải dài hơn ba ngàn cây số, với một nguồn dự trữ tài
nguyên thiên thiên phong phú, Việt Nam luôn là miếng mồi ngon cho tham
vọng bành trướng của ngoại bang. Họa bắc phương chưa qua, giặt tây
phương đã đến. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng
vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và hy
sinh. Ngoài một Nguyễn An Ninh để lại thịt xương, một Trần Cao Vân,
một Phan Chu Trinh để lại những bài thơ viết bằng máu và mồ hôi trong
những ngày đập đá Côn Luân, còn có hàng ngàn, hàng vạn đồng bào đã
chết trong âm thầm, không để lại họ tên.

Sau khi vừa thoát ra khỏi ách thực dân. Những ngày tháng thanh bình
trên quê hương không được bao lâu, tiếng súng lại nổ vang. Bộ chính
trị đảng Lao Động Viêt Nam, tên đối ngoại của đảng Cộng Sản Việt Nam,
quyết định Cộng Sản hóa miền Nam bằng vũ lực. Từng đoàn thanh niên
miền Bắc lại phải từ giã mái trường, từ giã gia đình thân thuộc, băng
rừng vượt suối vào Nam để hoàn thành giấc mơ nhuộm đỏ toàn cõi Việt
Nam của Hồ Chí Minh và quốc tế Cộng Sản. Chim rừng Trường Sơn bặt
tiếng hót. Màu hỏa châu thay thế ánh trăng vàng. Tiếng đại bác đêm đêm
đã thay cho tiếng ru ngọt ngào của mẹ. Những chiếc bánh vẻ độc lập, tự
do, hạnh phúc lần nữa được trưng bày giữa căn nhà đổ nát và nghèo đói
Việt Nam.

Trong suốt 20 năm từ sau 1954, quân dân miền Nam, không có một con
đường nào khác hơn là phải chiến đấu để bảo vệ quyền được sống trong
một xã hội họ đã chọn lựa, quyền được nói những điều họ nghĩ, quyền
được sống nơi họ muốn sống, quyền đi nhà thờ, đi chùa họ chọn, quyền
được hát bài hát họ thích. Quân dân miền Nam không chỉ phải bảo vệ
miền Nam mà còn phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn để gìn
giữ vùng trời và vùng biển Việt Nam. Hạt cát Hoàng Sa vẫn còn đỏ màu
máu của Ngụy Văn Thà và hàng trăm chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa
đã anh dũng hy sinh.

Việt Nam Cộng Hòa có một quân lực hùng hậu, tinh nhuệ nhất Đông Nam Á
được chứng minh qua những chiến tích lẫy lừng trong việc bảo vệ An
Lộc, tái chiếm Cổ Thành, trấn giữ Bồng Sơn, Thường Đức v.v…Vâng, nhưng
một đạo quân, dù tinh nhuệ bao nhiêu, các tướng lãnh dù tài ba thao
lược bao nhiêu, trong một cuộc chiến chỉ nhằm mục đích tự vệ và kéo
dài quá lâu, cũng không thể thắng một đạo quân xâm lược, cuồng tín và
không từ chối bất cứ một phương tiện gì để đạt được mục đích thôn tính
miền Nam.

Tháng tư đen 1975 đã đến.

Đối với người Việt Tự Do, ngày 30 tháng 4 mang nhiều ý nghĩa. Trên
bình diện lịch sử ngày 30 tháng 4 là một ngày đen. Ngày những chiếc
tăng T54 do Liên-Xô chế tạo nghiền nát đường phố Sài Gòn thân yêu rợp
bóng me xanh. Ngày những chiếc trực thăng cất cánh từ sân thượng của
những cao ốc. Ngày có những tiếng loa phóng thanh ra lịnh các cấp
chính quyền miền Nam tập trung, trình diện vang lên trên đường phố.
Ngày những Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn,
Nguyễn Văn Long và bao nhiêu người con yêu khác của mẹ Việt Nam đã dò
theo bước chân của Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản,
Nguyễn Tri Phương mà lần lượt ra đi.

Và cũng bắt đầu từ đó. Từ những cửa biển Đà Nẵng, Sài Gòn, Vũng Tàu,
Cam Ranh, Nha Trang sau những ngày tháng Tư, mùa bão lửa, năm 1975.
Những chuyến hải hành vô định trên biển Đông trùng trùng gió bão. Đói
khát. Lo âu. Những địa danh xa lạ bỗng trở thành thân thiết, Camp
Pendleton, Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White
Head, Panat Nikhom, Galang. Ngửa tay cầm chén gạo tình người. Thank
you, merci, danke, gracias. Tuổi hai mươi, ba mươi, và ngay cả năm
mươi, bảy mươi mới bắt đầu tập nói. Những câu tiếng Anh bập bẹ, những
dòng chữ Pháp, Đức, Tây Ban Nha ngập ngừng.

Nhưng từ vực sâu của đau thương chịu đựng đó, dân tộc Việt Nam đã thức
tỉnh và nhận diện ra kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam không phải là
Pháp hay Mỹ, mà chính là giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, những
kẻ chỉ vì tham vọng quyền lực và quyền lợi đã manh tâm bán đứng dân
tộc, làm tôi mọi cho ngoại bang, rước voi về giày lên mảnh giang sơn
gấm vóc Việt Nam mà tổ tiên chúng ta bao đời gìn giữ.

Những que diêm độc lập tự do dân chủ thật sự đã được thắp lên. Thắp
lên ở nhà thờ Vinh Sơn, thắp lên trong nhà giam Phan Đăng Lưu, thắp
lên ở các trại tù Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Thanh
Phong, Thanh Hóa, An Điềm.

Tại miền Bắc, những tướng lãnh, những cán bộ cao cấp một thời là trụ
cột trong triều đình Cộng Sản như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân
Bách, những cán bộ lãnh đạo của phong trào Cộng Sản miền Nam như
Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Nguyễn Văn Trấn, dù trễ còn hơn không, đã gióng
lên tiếng nói trước thảm họa đen tối mà dân tộc Việt Nam đang bị chìm
sâu.

Tại miền Nam, các lãnh đạo Phật Giáo, Công Giáo, Hòa Hảo như Đại lão
Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền, Hòa Thượng
Thích Quảng Độ, cụ Lê Quang Liêm v.v.. đã công khai phản đối nhà cầm
quyền Cộng Sản vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo. Các phong trào
cách mạng dân tộc nhân bản, bằng nhiều hình thức khác nhau, võ trang
và không võ trang, ôn hòa và cứng rắn, đã bùng nỗ tại nhiều nơi.

Các cấp lãnh đạo trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, tuy đã bị tước
đoạt vũ khí, bị đày ải trong các trại tập trung khắp ba miền đất nước
nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu dưới hình thức khác. Ngoại trừ một số rất
nhỏ bị khuất phục, đại đa số, vẫn giữ được nhân cách, khí tiết và niềm
tin vào chính nghĩa tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam. Họ bước ra
khỏi cổng trại tù không phải như những người sống sót mà là những
người chiến thắng.

Tức khắc sau khi được nhận định cư tại Mỹ qua chương trình HO, dù thể
lực đã cạn dần sau nhiều năm bị đầy đọa, những người lính Việt Nam
Cộng Hòa đã cùng với đồng bào đến trước, tiếp tục đấu tranh vì lý
tưởng tự do dân chủ mà bao nhiêu đồng đội của họ đã đổ máu để giữ gìn.
Mặt trận mới không diễn ra bằng súng đạn nhưng bằng sự tiếng nói, bằng
thái độ. Mặt trận mới không diễn ra ở Dakto, Bình Long, Quảng Trị hay
Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa, Hàm Tân, Tiên Lãnh,
Suối Máu, An Điềm… mà bằng các phượng tiện truyền thông dân chủ.

Ba mươi lăm năm. Thời gian trôi trên giòng sông đời bất tận. Những mái
tóc xanh nay đã bạc, những khổ đau chồng chất đã vơi đi, nhưng ý thức
dân tộc, khát vọng dân chủ tự do không già đi, không yếu đi theo tuổi
tác mà mỗi ngày đã mạnh hơn, mỗi ngày có thêm nhiều chất liệu trẻ
trung và hy vọng hơn.

Các thế hệ trẻ Việt Nam trong cũng như ngoài nước đã đứng lên đáp lời
sông núi, tiếp tục hành trình của thế hệ cha anh. Hình thức đấu tranh
của thời đại hôm nay có thể khác với hình thức của 35 năm trước,
phương pháp đấu tranh có thể khác với phương pháp của 35 năm trước, vũ
khí đấu tranh có thể cũng khác với vũ khí của 35 năm trước, nhưng mục
đích cuối cùng: tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng cho dân tộc
Việt Nam vẫn không thay đổi.

Việc bỏ tù hàng loạt các trí thức trẻ như luật sư Lê Thị Công Nhân,
luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Chí Quang,
bác sĩ Phạm Hồng Sơn v.v và mới đây như luật sư Lê Công Định, kỹ sư
Trần Huỳnh Duy Thức, kỹ sư Nguyễn Tiến Trung v.v.. chỉ chứng tỏ sự
tuyệt vọng của nhà cầm quyền Cộng Sản, và như chúng ta đang thấy trong
những tuần qua, càng bắt bớ, càng bỏ tù, ngọn lửa yêu nước trong tuổi
trẻ càng bùng cháy cao hơn.

Cuộc vận động dân chủ ngày nay không phải là môi trường chỉ dành riêng
cho những người ly khai khỏi mọi ràng buộc, dâng hiến trọn vẹn cuộc
đời cho lý tưởng tự do dân tộc như cha ông chúng ta đã làm ngày trước
mà diễn ra ở mọi nơi, mọi chỗ, mọi ngành nghề và mọi người đều có thể
tham gia.

Cuộc tranh đấu ngày nay không bắt đầu từ những trận đánh lớn ngoài mặt
trận như trong thời chiến mà bắt đầu từ công việc nhỏ của mỗi chúng ta
đang làm; không bắt đầu từ cấp cao xuống cấp thấp, từ trung ương đến
địa phương mà bắt đầu từ trong hoàn cảnh của mỗi người, mỗi gia đình,
thôn xóm, trường học, quận huyện, thành phố và tiến dần đến phạm vi
toàn xã hội.

Mỗi người Việt Nam yêu nước, trong hay ngoài nước, vận dụng mọi điều
kiện thuận lợi của mình, chủ động tạo nên một mặt trận riêng nhưng
nhằm theo đuổi mục tiêu chung là cô lập, bào mòn, tẩy chay và cuối
cùng loại bỏ cơ chế chính trị độc tài, độc đảng, mở đường cho công
cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam, giành lại Hoàng Sa, Trường Sa từ
tay Trung Cộng.

Vũ khi mạnh nhất của thời đại hôm nay là Đoàn Kết Dân Tộc. Với sức
mạnh Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta mới có khả năng bảo vệ được chủ quyền
và lãnh thổ Việt Nam. Bằng sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có
khả năng vượt lên những hệ lụy quá khứ để hướng vào tương lai tươi
sáng cho đời đời con cháu mai sau. Bằng sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc
chúng ta mới có khả năng phục hồi sự kính trọng Việt Nam trong lân
quốc cũng như trong bang giao quốc tế.

Dân tộc Việt Nam vẫn là một Việt Nam độc lập sau một ngàn năm bắc
thuộc. Dân tộc Việt Nam vẫn là một Việt Nam tự do sau một trăm năm
dưới ách thực dân, dân tộc Việt Nam sẽ chiến thắng Cộng Sản độc tài.
Ngọn lửa vô thần đã tàn lụi trên phần lớn trái đất và sẽ tàn lụi tại
Việt Nam.

Ba mươi lăm năm là một quảng đường dài. Chúng ta đã hơn một lần trể
hẹn với non sông, nhưng không phải vì thế mà không còn cơ hội nào
khác. Cơ hội vẫn còn đó nếu chúng ta biết đoàn kết, thấy được hướng đi
chung của dân tộc và thời đại. Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất
nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và
khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vỡ, còn biết nhận ra
nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống
khổ Việt Nam.

NguoiVietBoston
http://nguoivietboston.com/?p=24012

Monday, April 26, 2010

Hãy tỉnh thức

Dù rất buồn về việc bổ nhiệm Tổng Giám Mục Phó TGP Hà Nội bị tiết lộ
trước ngày Toà Thánh chính thức công bố, tôi không ủng hộ việc hô hào
ký tên xin Toà Thánh giữ đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt. Tại
sao?

Thứ nhất: Đức TGM Giuse vẫn đang là giám mục chánh toà của Tổng Giáo
Phận Hà Nội.

Thứ hai: Toà Thánh bổ nhiệm TGM Phó (Coadjutor Archbishop) chứ không
cử đức cha Nhơn làm giám quản tông toà (apostolic administrator). Khi
Toà Thánh cử vị giám quản tông toà đến một địa phận, ngài có năng
quyền của một giám mục chánh toà tại địa phận cụ thể như bổ nhiệm linh
mục trong giáo xứ. Đức TGM Phêrô dù lớn tuổi hơn, thâm niên hơn là bậc
đàn anh của TGM Giuse, trong cương vị TGP Phó, ngài sẽ làm việc theo ý
TGM Giuse trong việc cai quản địa phận.

Thứ ba: Việc Tổng Giáo Phận Hà Nội có thêm Tổng Giám Mục Phó thật ra
cũng bình thường nếu nhà cầm quyền và bọn giáo gian đừng xía vào.
Trước đó, trong thời cấm cách, Hà Nội đã có hai vị Tổng Giám Mục cùng
lúc. Thời đức cha Khuê, đức cha Căn làm TGM Phó (với quyền kế vị) suốt
15 năm từ 1963 đến 1978. Khi Đức Hồng Y Khuê chết 27 tháng 11 năm
1978, đức cha Căn mới lên thế .

Ở Huế, đức cha Nguyễn Như Thể từng làm Tổng Giám Mục Phó (với quyền kế
vị) cho đức TGM Nguyễn Kim Điền suốt 8 năm từ 1975 tới 1983. Và khi
đức cha Điền chết, nhà cầm quyền cản trở việc bổ nhiệm TGM chánh tòa
cho Tổng Giáo Phận Huế suốt 10 năm.

Ờ Sài Gòn, đức cha Thuận làm Tổng Giám Mục Phó cho đức Tổng Bình suốt
từ 1975 tới 1994 trong... nhà tù.

Tôi cũng nghĩ như Đức Cha Giuse: "Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, đương
kim Chủ tịch HĐGMVN là bậc đáng kính hoàn toàn xứng đáng nhiệm vụ Tổng
giám mục". Đức Tổng nói rất đúng và hoàn toàn đúng sự thực. Và vì vậy,
tôi sẽ không ủng hộ việc ký thỉnh nguyện thư của Toà Thánh.

Chúng ta hãy tỉnh thức trước âm mưu chia rẻ cộng đồng Dân Chúa của các
thế lực đen tối trong và ngoài Giáo Hội.

"Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến."

Friday, April 23, 2010

Lại một tin buồn trong tháng Tư Đen

Mỗi lần thấy Tòa Thánh loan báo bổ nhiệm Giám Mục mới cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, tôi thật vui mừng. Mừng vì những ngai tòa trống ngôi có ngưòi điền thế để trong coi đàn chiên của Chúa. Sáng nay, 22 tháng Tư, bản tin Vatican Information System đem đến cho tui nổi thất vọng tột cùng. Cuối cùng tin đồn thành sự thật: Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn về Hà Nội làm TGM Phó với quyền kế vị. 35 năm trước Dương Văn Minh đầu hàng VC. Hôm nay, Giáo Hội Công Giáo nhượng bộ Satan. Buồn quá!
 
Quote:
Il Santo Padre ha nominato Arcivescovo Coadiutore dell'arcidiocesi di Hà Nôi (Viêt Nam) S.E. Mons. Pierre Nguyên Văn Nhon, finora Vescovo di Đà Lat e Presidente della Conferenza Episcopale del Viêt Nam.
 
Nguồn: http://212.77.1.245/news_services/bu...lang=en#NOMINA DELL'ARCIVESCOVO COADIUTORE DI HÀ NÔI (VIÊT NAM)
 
Quote:
VATICAN CITY, 22 APR 2010 (VIS) - The Holy Father:
 
- Appointed Bishop Pierre Nguyen Van Nhon of Da Lat, president of the Episcopal Conference of Vietnam as coadjutor archbishop of Hanoi (area 7,000, population 5,399,400, Catholics 334,788, priests 91, religious 322), Vietnam. The archbishop-elect was born in Da Lat in 1938, he was ordained a priest in 1967 and consecrated a bishop in 1991.
 
VIS 20100422 (110)
 
Công tâm mà nói, Đức Giám Mục Đà Lạt, Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, nhìn hình ảnh thấy đạo đức thánh thiện. Ngài rất xứng đáng để về Hà Nội đãm nhận vai trò Tổng Giám Mục Phó. Nhưng, nếu Tòa Thánh và Hội Đồng Giám Mục VN, chịu áp lực của nhà căm quyền để từng bước đưa Đức Tổng Kiệt ra khỏi Tổng Giáo Phận Hà Nội để đánh đổi cho lời hứa của nhà cằm quyền về chuyến viếng thăm của ĐGH, về việc trả lại các cơ sở vật chất, thật là điều xấu hổ. Ba mưoi hai năm trưóc, nếu tôi nghe lời ngưòi ta bỏ trống không viết ba chử THIÊN CHÚA GIÁO vào lý lịch, chịu khó linh động uyển chuyển và đừng dại dột đem mạng sống mình đánh đổi hai chử TỤ DO, có thể tôi bây giờ đã là "ông" này "quan" kia như chúng bạn ở quê nhà.
 
Câu hỏi đặt ra kế tiếp: Khi nào Đức Tổng Kiệt ra đi? và đi đâu? 
 
Xin Chúa Thánh Thần soi sáng và gìn giữ các đấng bậc trong Hội Thánh.
 
Phần tôi, từ nay trở đi, tôi sẽ làm theo lời Chúa dạy "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết" và "đồng tiền bà goá" này sẽ không còn bỏ vào hòm tiền của giáo hội địa phương này cũng như ỏ VN. 

Wednesday, April 07, 2010

VINH DANH NHỮNG VÌ SAO ĐẤT NƯỚC


Tháng Tư về khơi mối hận thiên thu
Mây tang phủ lên bầu trời Quốc Tổ
Nhớ bao anh hùng thơm danh muôn thuở
NAM, PHÚ, VỸ, HƯNG, HAI, CẨN...tên Người !

Trước cọc bắn vẫn đanh thép ý lời:
"Muốn nhìn sông núi trước giờ gục chết !"
Lẫm liệt oai phong một trang hào kiệt
Cọp ba đầu rằn HỒ NGỌC CẨN lưu danh !

Tướng Biệt Động Quân liêm khiết, đa năng
Huấn luyện, tham mưu, chiến trận bao năm
Tên TRẦN VĂN HAI sử vàng ghi đậm
Vận nước suy tàn - tiết tháo hy sinh !

Xin nghiêng mình chào NGUYỄN KHOA NAM hùng anh
Hổ Tướng miền Tây theo thành tự sát
Loạt đạn nổ vang thay lời thề "Sát Đát !"
Rừng núi chuyển rung bạt vía giặc thù !

Bình Long, An Lộc - song Lê anh hùng
Gương tử thủ nêu cao, nức lòng quân sĩ
NGUYÊN VỸ, VĂN HƯNG lừng danh thế kỷ
Bia khắc danh đề - thanh sử muôn thu !

Tiếc thương PHẠM VĂN PHÚ Kontum, Pleiku
Vị danh tướng của bao thời trận mạc
Khí hùng anh nào để lọt vào tay giặc ?
Kết liễu đời mình - độc dược quyên sinh !

Hồn thiêng sông núi tiếp dẫn hương linh
Quý danh tướng và bao anh hùng dân tộc
Tháng Tư đại tang triệu hồn bật khóc
Thắp nén nhang lòng tưởng niệm anh linh !

Phạm Hoài Việt

English version translated by Thanh Thanh :
GLORIFYING OUR BRILLIANT NATIONAL STAR

Black April arouses our infinite resentment.
Our Country has been mourning since the endgame.
But it revives our memories of our immortal heroes...
Nam, Phu, Vy, Hung, Hai, Can - What fame !

At the execution stake, he kept his words firm:
"I want to behold my Motherland before departing Her !"
He refused the blindfold, the three-headed striped Tiger.
Ho Ngoc Can's eminent glory, nothing can ever blur.

As Ranger Commander, Training Chief, Staff Officer,
Then Combat Leader, Tran Van Hai evaded shame.
He chose death since the Great Cause had declined.
But for his intergrity and valor History retains his name.

Let us bow farewell to gallant Nguyen Khoa Nam.
The Lion of the West killed himself as his bulwark fell.
The fired shots resounded in place of warrior' oath
Shaking the ground, frightening the foes as well.

Binh-Long and An-Loc, the two LE family Victors,
Set for their men encouraging examples of resistance.
Nguyen Vy, Van Hung, the renowned of the century,
Had their sagas noted for their monumental existence.

How we regret Pham Van Phu of Kontum, Pleiku..
Strong minded through so many impossible missions
Not to let himself get captured again by the brigands;
He took a dose of poison to voice his steady position.

May the Sacred Spirit of our Homeland welcome
These and other heroes' noble souls to the Holy Hall.
Let us by the millions in Black April, in deep mourning,
Light our heart's incense to commemorate them all.

French version translated by Quyên Tâm:
GLOIRE AUX BRILLANTES E'TOILES DE LA NATION

L'arrive'e du mois d'Avril ressuscite toujours les frustrations infinies.
Les nuages de deuil, recouvrant entie`rement la Patrie
Ravivent les souvenirs des he'ros qui me'ritaient l'immortalite':
Nam, Phu, Vy, Hung, Hai, Can... et la liste est loin d'e^tre finie!

Devant le poteau d'exe'cution, it garde les paroles dignes et dures:
"Je veux regarder le pays en face avant de mourir!"
Refusant le bandage des yeux, attitude digne d'un he'ros,
Ho Ngoc Can, Tigre a` Trois Te^tes Ze'bre'es, laisse son nom glorieux a` la
poste'rite'!

Ge'ne'ral de commandos, inte`gre et polyvalent,
Que ce soit en instruction, en campagne, ou a` l'e'tat major,
Le Ge'ne'ral Nguyen Van Hai est inscrit dans les pages d'or de l'histoire.
Quand le pays est inde'fendable, il s'est donne' la mort.

Inclinons-nous devant le Ge'ne'ral Nguyen Khoa Nam,
"Tigre de la re'gion de l'ouest, la de'fend au prix de sa vie.
Le cre'pitement des armes, remplac,ant le serment d'honneur de soldat,
Fait trembler la montagne, la fore^t et les ennemis.

La de'fense victorieuse de Binh Long et d'An Loc,
Assume'e par les Ge'ne'raux Le Van Hung et Nguyen Vy,
Apporte beaucoup de'concouragement aux soldats combattants,
Marque a` jamais l'histoire he'roique du pays!

Le tre`s regrette' Ge'ne'ral Pham Van Phu de'fendant efficacement
Kontum et Pleiku devant l'ennemi en surnombre,
Quand l'ordre d'e'vacuation est tombe' d'en haut,
Pre'fe`re se donner la mort en absorbant du poison!

Que les nobles a^mes des ge'ne'raux de valeur et les he'ros du peuple
S'installent dans la maison sacre'e de la nation
Quand le mois d'Avril endeuille' arrive,
De tout coeur, allumons quelques baguettes d'encens pour les ve'ne'rer.

Monday, March 08, 2010

Diễn đàn X-Cafe tạm đóng cửa

Ủng hộ anh chị em ở diễn đàn x-cafevn.org. Chúc các bạn sớm phục hồi
diễn đàn vì quyền tự do ngôn luận.

FVN

--------------------------------------------------------------------------------
Diễn đàn X-Cafe

Kính gửi toàn thể các thành viên và bạn đọc diễn đàn X-Cafevn,

Giai đoạn từ ngày 19/1/2010 cho đến hiện tại một trong những giai đoạn
khó khăn nhất mà diễn đàn X-Cafe đã trải qua kể từ ngày thành lập đến
nay. Diễn đàn đã bị tin tặc tấn công bằng DDoS nặng từ ngày 19/1/2010,
trùng vào thời điểm chính quyền trong nước xét xử và tuyên án các nhà
dân chủ ở Việt Nam. Điều này cho thấy đây là một hành động có hệ thống
và có chỉ đạo hẳn hoi vì nó được kết hợp với sự việc các ISP ở Việt
Nam đồng loạt dở bỏ firewall để tin tặc có thể dùng nhiều máy trong
nước tấn công vào máy chủ của diễn đàn. Đây là một tấn công kéo dài
liên tục trong nhiều ngày với một hệ thống botnet hỗ trợ với gần 40
nghìn máy tham gia. Vào thời điểm bị tấn công mạnh nhất, toàn bộ đường
truyền của máy chủ hoàn toàn bị bão hoà.

Các thành viên kỹ thuật của diễn đàn đã phải làm việc cật lực và liên
tục trong nhiều ngày để chống trả các đợt tấn công này và họ đã giữ
vững được hoạt động của diễn đàn trong suốt giai đoạn vừa qua.

Sau khi các hành động DDoS thất bại, tin tặc lại tiến hành thêm một
bước tấn công khác. Ngày Chủ nhật 28/2/2010, tin tặc giả dạng làm
thành viên diễn đàn và đăng link có virus gài bẫy một thành viên của
Ban Quản trị và đã lấy được thông tin đăng nhập vào phần quản trị của
diễn đàn (Admin Control Panel). Sau nhiều giờ thâm nhập, tin tặc đã
tải được hồ sơ của hơn 19 nghìn thành viên trong đó có hơn 7 nghìn
thành viên đang sinh sống tại Việt Nam. Sau đấy tin tặc lại dùng những
dữ liệu ăn cắp được để gửi email thông báo diễn đàn sẽ đóng cửa hoặc
doạ dẫm các thành viên trong nước. Và tồi tệ hơn, tin tặc đã đăng toàn
bộ thông tin của thành viên của diễn đàn tại một website khác nhằm gây
hoang mang, sợ hãi cho các thành viên ở trong nước.

Qua phân tích của ban kỹ thuật X-Cafe, vụ đột nhập ngày 28/2 là một
hành động có tổ chức vì có nhiều người tham gia từ các máy tính xuất
phát từ Việt Nam và trong số máy tính được sử dụng, có cả máy tính có
địa chỉ xuất phát từ Trung Quốc. Thông qua những phương pháp mà tin
tặc sử dụng để viết thông báo giả mạo, nội dung cùng lối trình bày
thông báo, chúng tôi tin rằng đây chính là nhóm tin tặc đã thực hiện
các hành động thâm nhập tương tự đến các diễn đàn talawas, Bauxitvn và
các blog cá nhân trong nước trong thời gian qua. Chúng tôi đã thu thập
toàn bộ những chứng cứ liên quan đến vụ việc này và đã điền hồ sơ truy
tố những hành động phạm pháp này mang tính quốc tế này với cơ quan IC3
trực thuộc FBI của Hoa Kỳ.

Ban quản trị diễn đàn X-Cafe rất hối tiếc về sự sơ xuất vô tình mang
lại hậu quả trầm trọng của mình vừa qua. Chúng tôi xin gửi lời xin lỗi
chân thành đến với tất cả những thành viên bị ảnh hưởng bởi sự việc
này, đặc biệt là những thành viên trong nước. Chúng tôi đã đánh mất sự
tin tưởng của các bạn. Dù giải thích như thế nào chăng nữa, việc này
sẽ ít hoặc nhiều ảnh hưởng đến các bạn, nhất là khi các bạn đang phải
sống trong một thể chế mà sự khủng bố tinh thần được dùng như một dụng
cụ pháp trị.

Điều đáng buồn là chúng ta đang sống trong thế kỷ 21 nhưng con người
lại có thể bị đe doạ, bịt miệng, thậm chí bị trừng phạt bởi vì họ muốn
nói lên sự thật hay bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hoà. Những điều
mà ngay cả khi đất nước còn bị thực dân, phong kiến đô hộ hay một nửa
phần đất nước còn bị "xâm lược" cũng không hề xảy ra. Sự việc đáng
tiếc này sẽ không bao giờ xảy ra ở một đất nước có tự do ngôn luận và
có một nền dân chủ thật sự và nó chứng tỏ rằng ở Việt Nam hoàn toàn
không có tự do ngôn luận và hoàn toàn không có quyền dân chủ như giới
lãnh đạo và chính quyền Việt Nam từng tuyên bố.

Sự việc này đã tác động mạnh đến các thành viên ban quản trị diễn đàn
X-cafe và đã làm chúng tôi mệt mỏi và thậm chí muốn rút lui ra khỏi
cuộc chiến không cân sức này. Tuy nhiên khi cân nhắc lại những gì xảy
ra trong xã hội Việt Nam hiện nay, chúng tôi thật sự thấy mình cần
phải tiếp tục vượt qua các khó khăn này, tạo ra và đảm bảo một môi
trường tự do ngôn luận không bị quản chế bởi bất kỳ một thế lực chính
trị nào để mỗi thành viên của diễn đàn được bày tỏ quan điểm của mình
nhằm đòi hỏi những quyền chính đáng của một công dân bao gồm quyền tự
do ngôn luận và tự do bày tỏ ý kiến của mình. Từ những động lực này,
BQT quyết tâm tiếp tục duy trì hoạt động của diễn đàn và cố gắng sẽ
tiếp tục phát triển để đem lại nhiều lợi ích hơn cho xã hội Việt Nam
khi sự suy thoái về đạo đức, lương tâm ngày càng trầm trọng hơn.

Để có thể thực hiện được quyết tâm này, ban quản trị diễn đàn X-Cafe
quyết định sẽ tạm đóng cửa diễn dàn vào sáng ngày thứ Hai 8/3/2010
(giờ VN) cho đến ngày 22/3/2010 để bảo trì, nâng cấp và tạo những thay
đổi cần thiết. Trong giai đoạn tạm ngưng hoạt động này, tất cả những
cập nhật, thông tin và trao đổi của thành viên có thể tiếp tục thực
hiện tại trang Facebook:
http://www.facebook.com/pages/X-Cafevn/329192838497 và Wordpress Blog:
http://xcafevietnam.wordpress.com/

Chúng tôi hy vọng sau thời gian đóng cửa và nâng cấp, diễn đàn sẽ được
gặp lại toàn bộ các bạn. Chúng tôi sẽ cố gắng tạo một môi trường sinh
hoạt an toàn hơn cho mọi thành viên để chúng ta có thể tiếp tục tham
gia sinh hoạt, thảo luận hay trao đổi ý kiến và kinh nghiệm theo tinh
thần "tôn trọng sự khác biệt" của diễn đàn.

Đại diện ban quản trị diễn đàn X-Cafe,

Tinman
(http://x-cafevn.org/node/2813)

--------------------------------------------------------------------------------

Tuesday, February 23, 2010

NHỚ RỪNG

(Lời con Hổ ở vườn Bách thú,
Tặng Nguyễn Tường Tam)

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
Ta biết ta chúa tể của muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
-- Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Sống những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
-- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

(1936)

Thế Lữ 

Friday, February 19, 2010

Meg Whitman for Governor

Còn mấy tháng nửa thì bầu cử sơ bộ ở tiểu bang California. Bên Cộng Hòa, bà Meg Whitman đang dẩn đầu trước các ứng cử viên như Steve Poinzer, Tom Campbell để được đảng đề cử. Phía đảng Dân Chủ, ông cựu thống đốc Jerry Brown gần như nắm chắc quyền đại diện đảng DC trong cuộc đua vào Sacramento.

Tui ủng hộ bà Whitman, cựu CEO của eBay, làm thống đốc tiểu bang. Chán mấy ông, mấy bà chính trị gia chuyên nghiệp lắm rồi.

http://www.megwhitman.com/
http://www.facebook.com/megwhitman
http://twitter.com/Whitman2010
http://www.youtube.com/user/Meg2010Campaign

Thursday, February 18, 2010

Đầu Xuân khai bút

Hôm nay, mùng 5 Tết, ghi nhớ ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh xâm lược, tôi mới có dịp viết bài đầu tiên cho blog này. Dự định đêm mùng Hai Tết sẽ viết, rồi đi vòng vòng các blog bạn bè để thăm hỏi và chúc Tết. Không làm được vì phải viết thư, email đúng hơn, cho tất cả bà con họ hàng, bạn bè. Nội copy and paste (có sứa đổi chút ít tùy theo mỗi người) không thôi, một buổi tối. Rồi thứ Ba, mùng Ba Tết, vào sở làm, tính giờ trưa là lên Net. Ai ngờ, bận túi bụi cho tới hôm nay.

Tết con cọp mình mong được mạnh khỏe như cọp :D

Thursday, February 11, 2010

Tâm Sự Ngày Xuân

Sáng tác: Hoài An

Trông thế gian đang vui mừng đón xuân
Chắc nàng xuân năm nay đẹp bội phần
Ngắm rừng hoa mai đua nở tuyệt trần
Đổi hương thay phấn giữa đêm chờ tin báo xuân

Tôi đón xuân giữa lúc còn chiến chinh
Chúc mừng xuân bên ly rượu hành trình
Chúc người trai đi xây dựng hoà bình
Để cho đất nước vui trọn mùa xuân thắm xinh

Xuân đến ban cho muôn niềm tin
Đất mẹ mau bình yên, ruộng cày thêm nhiều luống
Hạnh phúc dâng triền miên,xe những mối lương duyên
Mái tranh chung bóng nguyệt, gia đình lại đoàn viên

Xuân tới đây với muôn ngàn thiết tha
Chúc trần gian năm nay được thuận hoà
Với một năm xuân vui vẻ đậm đà
Cùng xuân quên hết những chuyện buồn năm đã qua.



Tâm sự ngày xuân - Phương Dung


Tâm sự ngày xuân (Tam Su Ngay Xuan) - Thiên Trang


Tâm sự ngày xuân - Tâm Đoan

Tuesday, February 09, 2010

Những kẻ khốn nạn

Trước đây, lang thang trên mạng, tôi có nghe người này, hội đoàn nọ nói về Nguyễn Hữu Liêm (NHL), thậm chí có tuyên cáo lên án ông ta, tôi không chú ý lắm. Không để ý NHL là tên cha căng chú kiết nào cho đến cuối tuần vừa rồi. Một netter đăng lại bài "Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an" của NHL. Đọc tới đoạn này:

"Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng". Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước."

Tôi thật phẩn nộ. Nguyễn Hữu Liêm, và những người NHL nói đến trong bài, đúng là những kẻ khốn nạn !@#$%^&*()&$#@. Quốc Gia hay Cộng Sản ở chổ này.

Trong những năm tháng sống dưới chế độ XHCN, tôi dững dưng vô cảm hát "Giải Phóng Miền Nam" rồi sau đó "Tiến Quân Ca" trong các buổi lể chào cờ. Những năm tháng đó cho tôi bài học lớn nhất trong cuộc đời: Cộng sản là gì. Ngày tới trại tỵ nạn, ngước nhìn lá Quốc Kỳ Việt Nam, nền vàng ba sọc đỏ, mắt tôi rướm lệ, nghẹn ngào "Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng..." Cảm xúc đó vẫn còn cho tới hôm nay.

Trong khi ở Việt Nam hôm nay, có những giáo sư, bác sĩ, luật sư, thương gia, kỷ sư, nhà báo, nhà văn, đạo diển khẳng khái trung thực nói lên ưu tư, trăn trở của mình về đất nước, bộc lộ lòng yêu nước bị trù dập, tù đày. Nếu muốn, họ có thể im lặng, không nghe, không thấy để được vinh hoa phú quý, nhà cao cửa rộng. Nhưng họ không làm như vậy. Tại sao? Phải chăng vì lòng ái quốc, sự tự trọng không cho phép họ đồng lỏa với cái sai.

Khi những người con yêu quý của tổ quốc như bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân, blogger Điếu Cày, đạo diễn Song Chi, cựu trung tá Trần Anh Kim, thương gia Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, luật sư Lê Công Định,... bỏ đi cái bả vinh hoa phú quý tầm thường, những kẻ vô liêm sỉ như Nguyễn Hửu Liêm, Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy,.. hồ hởi phấn khởi lượm lên. Liệu có được tý nào không những kẻ khốn nạn? Tôi sẽ chống mắt xem người ta vắt chanh bỏ vỏ những tên loser này như thế nào.

Monday, January 25, 2010

Trần Quốc Toản bị bắt

Tác giả: Nguyễn Hưng Quốc
18/01/2010
http://www.voanews.com/vietnamese/2010-01-18-voa29.cfm

Nghe tin quân Nguyên vượt qua biên giới tấn công Việt Nam, chiếm hết đảo này sang đảo khác, lòng Hoài văn hầu Trần Quốc Toản nóng như lửa đốt. Khi biết tin vua triệu tập cuộc hội nghị ở Bình Than, chưa kịp ăn uống gì cả, Trần Quốc Toản chụp lấy trái cam trên bàn rồi nhảy lên ngựa phóng như bay đến dự.

Đến nơi, trời vừa nhá nhem tối, Toản thấy cung Bình Than đèn đuốc sáng rực. Trước cổng là các quán bia ôm xập xình tiếng nhạc. Mặc kệ lời chào mời của các cô gái chân dài quyến rũ đứng dọc bên đường, Trần Quốc Toản xăm xăm bước tới cổng. Tên lính gác cổng chận lại: "Ê, đi đâu đó?" Toản đáp: "Tôi muốn dự cuộc hội nghị Diên Hồng". Tên lính gác: "Giấy mời đâu?" Toản lúng túng: "Không có." Tên lính nghiêm giọng: "Vậy không được vào." Bí thế, Toản thò tay trong túi rút ra tờ giấy trăm đô mới tinh duy nhất mà một thằng bạn Việt kiều mới tặng dúi vào tay tên lính; hắn nhìn tờ giấy bạc, cười hì hì, rồi nép qua bên cho Toản vào. Nhưng đến phòng hội nghị, tên 1ính gác cửa lại chận không cho Toản vào vì ông không có giấy mời. Năn nỉ cách mấy cũng không được. Toản lục hết túi quần đến túi áo, chỉ gom được vỏn vẹn có mấy trăm ngàn đồng Việt Nam. Ông đưa hết cho tên lính. Hắn nhìn một cách khinh bỉ, đá vào đít Toản mấy phát, bảo: "Xéo đi!" Toản tức mình, bóp nát trái cam, rồi chửi thề một tiếng, phủi đít bỏ về. Ông chỉ kịp nghe, từ sau lưng, bên kia cánh cửa khép kín của hội trường, vang lên những tiếng thét: "Quyết cống Hoàng Sa và Trường Sa! Quyết cống! Quyết cống!"

Đến nhà, Toản triệu tập tất cả anh em bạn bè lại, đề nghị thành lập đoàn chí nguyện quân thề đánh giặc đến cùng. Ai cũng tán đồng. Tiếng hô "Sát Thát" vang trời dậy đất. Ông sai gia nhân may một lá cờ thật lớn trên đó thêu mấy chữ màu vàng "Phá cường địch báo hoàng ân". Xong đâu đó, ông dẫn đoàn quân chí nguyện tiến thẳng đến Bình Than với hy vọng được nhà vua cho phép tham gia đánh giặc. Nhưng chưa ra khỏi cổng làng, một đám người lạ ở đâu ùa đến đông nghẹt. Đứa thì giật lá cờ "Phá cường địch…" vất xuống đất, đứa thì dùng dùi cui đánh tới tấp vào đám thanh niên ngơ ngác; một đứa khác nhào đến kẹp cổ Toản, kéo quặt tay lại phía sau. Toản thở ằng ặc, thều thào: "Mấy ông làm gì vậy?" Một tên "người lạ" gằn giọng: "Mày không dẹp cái trò này đi, tao bắt mày vì tội trốn thuế bây giờ!" Nói xong, nó đẩy một cái thật mạnh, Toản ngã chúi xuống đất. Đám bạn bè xúm đến dìu Toản về nhà.

Không nản chí, ở nhà, Toản mở một trang website lấy tên là "Yêu Nước". Bài đầu tiên Toản post lên là bài "Hịch tướng sĩ" của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn. Bài hịch có những câu thống thiết: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da, ăn gan uống máu quân thù, cho dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng."

Nhưng chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, mở lại trang web của mình, Toản thấy dòng chữ "Vì lý do kỹ thuật, trang nhà Yêu Nước ngưng hoạt động vô thời hạn". Toản biết là trang web của mình bị tin tặc tấn công. Ông gọi điện thoại nhờ bạn bè giúp đỡ. Nhưng nói chưa xong câu chuyện, cánh cửa nhà Toản bị đạp tung, một đám người lạ ào ào xông vào. Một đứa nghiêm mặt bảo Toản: "Có lệnh bắt mày!" Toản ngạc nhiên: "Bắt vì tội gì?" Tên kia đáp: "Tội làm website phản động!" Toản cãi: "Đó là một trang mạng yêu nước. Tôi chỉ đăng bài của những người yêu nước." Tên công an lại nói: "Mày viết 'Nay, các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức'. Có phải mày ám chỉ Trung ương đảng không?" Toản gào lên: "Đó là văn của bác Tuấn!" Tên công an quát: "Tuấn nào? Nguyễn Hưng Quốc hả?"

Trần Quốc Toản chưa kịp lên tiếng, một tên người lạ đã nhào đến bịt miệng ông lại và đẩy lên xe.

Từ đó đến nay, không ai biết Trần Quốc Toản ở đâu cả.

Friday, January 22, 2010

Diễn đàn X-Cafevn & Dân Luận bị tấn công

21.01.2010

Từ hai ngày qua, hai diễn đàn X-Cafevn và Dân Luận đã và đang bị tấn công từ chối dịch vu (DDoS). Không có gì ngạc nhiên khi việc tấn công này trùng vào thời điểm chính quyền Việt Nam xét xử bốn nhà bất đồng chính kiến: Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long về tội Hoạt động lật đổ chính quyền.

Chúng tôi lên án những hành động bưng bít thông tin, ngăn chận quyền truyền tải tin tức đối người dân trong và ngoài nước. Những việc này chỉ làm rõ thêm tính chất thiếu công bằng, minh bạch của những người cầm quyền đối với những người liên quan, đến dư luận và người dân trong vụ án trên.

Chúng tôi đang tìm mọi cách để phục hồi hoạt động của hai diễn đàn. Nếu có thông tin gì mới, chúng tôi sẽ nhanh chóng cập nhật. Trong thời gian chờ đợi, các bạn có thể dùng trang blog này để đăng tải các thông tin về vụ án cũng như những trao đổi tranh luận nếu có nhu cầu.

Sau khi trang web X-cafevn.org bị đánh phá, Xcafevietnam blog (http://xcafevietnam.wordpress.com/ ) đã nỗ lực đưa tin tức về phiên tòa của 4 nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Nhưng đến 2h chiều nay (21/01/2010) giờ Việt Nam, nó đã bị WordPress đóng cửa vì "vi phạm quy định sử dụng". Chúng ôi đã gửi khiếu nại của mình tới WordPress, nhưng không biết bao giờ blog mới được mở lại.

Từ chiều hôm qua 20/1/2010 giờ VN cho đến hôm nay, diễn đàn x-cafedân luận bị tấn công từ chối dịch vụ rất nặng nề. Diễn đàn x-cafe hứng chịu khoảng 40 ngàn IP cùng dội vào một lúc. Trong khi đó, dân luận hứng chịu khoảng 1/10 lượng tấn công nên tiếp tục.... sống sót đêm hôm qua.

Click the image to open in full size.

Nhóm kỹ thuật đang cố gắng khắc phục tình trạng này trong thời gian ngắn nhất có thể được. Các bạn sẽ thấy việc truy cập vào cả hai diễn đàn đều rất chậm trong lúc này nhưng hy vọng tình hình sẽ khả quan hơn sau khi một giải pháp hữu hiệu nhất được hình thành.

Xin thông báo thêm rằng khoảng trên 90% các IP addresses đang dùng để tấn công x-cafedân luận đi từ Việt Nam và chủ yếu là từ các mạng Viettel + FPT. Các bạn nên tiếp tục dùng proxy ở nước ngoài để duyệt hai diễn đàn x-cafedân luận để cải thiện vận tốc truy cập. Thành thật cáo lỗi cùng các bạn về vấn nạn ngoài ý muốn này.

Thay mặt nhóm kỹ thuật.
Xin mời các bạn vào các trang sau để liên lạc hoặc cập nhật tin tức nếu X-Cafevn và Dân Luận tiếp tục bị tấn công và không thể hoạt động: Chân thành cảm ơn sự kiên nhẫn và cảm thông của các bạn đối với X-Cafevn và Dân Luận.


Source: http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=429414

Tuesday, January 19, 2010

Ước mơ của tôi

Hôm nay nước Mỹ kỷ niệm ngày sinh Martin Luther King, Jr., một nhà tranh đấu cho dân quyền nổi tiếng. Nhắc đến Martin Luther King, tôi nhớ đến bài diễn thuyết lừng danh của ông "I Have A Dream". Đây là ước mơ của tôi.

I have a dream that one day the Paracel (Hoàng Sa) Island return to Vietnam. It is illegally occuplied by Communist China since January 19, 1974. Paracel & Spratly Islands belong to Vietnam.

I have a dream that one day Vietnamese have a right to speech, a right to publish, a right to vote. Human rights for Vietnam.

Saturday, January 09, 2010

Năm Mới Cố Gắng

Lẽ ra bài này nên viết vào ngày đầu năm nhưng mà... nhiều lý do quá. Bận cũng có. Lười cũng có. Chán cũng có. Ham chơi cũng có. Thôi thì, ráng một tí :)

Đầu năm, người ta thường hay có những mục tiêu, kế hoạch hướng đến cho một năm mới. Đặt kế hoạch, kiểu kế hoạch 5 năm, tôi sợ bể. Cuối năm nhìn lại chỉ thấy đầu voi, đuôi chuột. Thấy mình không làm được gì, lại đâm phiền não. Tôi không đặt kế hoạch phương án nào cả. Chỉ tâm niệm một điều: cố gắng nhiều hơn năm trước. Chung chung quá. Mơ hồ quá.

Cu thể:
  • Nói ít, nghe nhiều.
  • Đọc nhiều hơn trước.
  • Dành nhiều thì giờ cho bản thân và gia đình.
  • Ráng kiếm thêm tiền để giúp hai con đang học đại học.
  • Cố gắng đi bộ lâu hơn và thường xuyên.
Chủ nhật rồi, hai vợ chồng đưa hai con trở lại ký túc xá đại học. Mỗi đứa một nơi. Đứa lớn học ở phía Bắc. Đứa kế học ở phía Đông. Chạy xe vòng vòng từ đại học này sang đại học kia mất mấy tiếng đồng hồ, cái thân ê ẩm. Về tới nhà, đang nằm xem phim, điện thoại di động rung lên. Tin nhắn từ đồng nghiệp báo có trục trặc kỷ thuật ở mấy cái server trong công ty. Lười quá. Không muốn đi. Nhưng thôi, mình đã tâm niệm năm nay cố gắng nhiều hơn một chút. Vậy thì, cố gắng lên xem chuyện gì. Mất toi một buổi tối. Hai giờ sáng mới trở về nhà.

May mà mình cố gắng một tí, hôm sau đở mệt với cấp trên :D