Thursday, August 10, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 24

– 24-

https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/17/dường-di-khong-dến-24/

Sáng nay anh giao liên có cho tôi một mẩu khoai mì còn tươi. Có lẽ vì hôm qua tôi cho anh một nhúm ruốc gà lẫn ruốc chó. Tôi còn một ít gạo (vì không bao giờ tôi ăn hết khẩu phần hằng ngày của tôi). Bữa ăn tôi không thiếu thốn, cho nên tôi không tôn trọng khúc khoai mì đúng với sự thành kính mà người ta phải có đối với nó trong lúc này.

Tôi đem gắn nó trên cành cây ở đầu võng. Tôi đang lim dim định kéo một giấc thì có tiếng người rào rào ngoài đường. Tôi mở mắt ra thì thấy bộ đội lại đi lãnh gạo. Tôi biết là kho gạo đang khuyết mà họ đi lãnh cái nỗi gì, sao không ai nói cho họ? Hay người ta muốn kéo dài sự hy vọng.

Bỗng một người hỏi tôi:

– Anh ngủ à?

– Tôi định nằm chơi nhưng lại buồn ngủ, nguy hiểm quá!

Tôi trả lời và mở mắt ra thì thấy một anh bộ đội đứng sừng sững ở đầu võng. Mặt anh ta phù lên no tròn như một cái bánh bao, mắt anh ta lờ đờ, hình như anh ta đang sốt. Anh ta nói ngay:

– Đồng chí còn khúc sắn trên đầu võng chắc đồng chí không dùng cho tôi…tôi xi….in.

Tôi ngồi bật dậy. Tôi như điện giựt vì có người đụng tới cái bao tử sắp thủng của tôi.

Tôi không nói năng gì mà cứ bàng hoàng. Tôi không hiểu anh ta nói gì cả. Và tôi cũng đáp lại như một cái máy, không hiểu rằng mình đã nói gì!

– Không được đâu đồng chí, đây là của một đồng chí khác mà đồng chí đó đang sốt không ăn cơm được. Chớ phải của tôi thì tôi cho đồng chí ngay rồi. Đồng chí với nhau không mà! Hơn nữa đồng chí vào giải phóng Miền Nam của tôi..

Bây giờ nhớ lại những lời đó, tôi thấy thật xấu xa. Ghê gớm thay cái miệng con người. Cái miệng khôn ngoan hay ngu xuẩn cũng chỉ vì cái dạ dày. Trong một con người, cái cao nhất không phải cái đầu mà là cái dạ dày. Cái dạ dày sai khiến, cái dạ dày chỉ huy, cái dạ dày lãnh đạo và chính cái dạ dày nói bằng cái miệng.

Sở dĩ tôi đáp ứng nhanh nhẹn và gần như đã sắp sẵn trong bụng từ lâu là vì anh bạn không quen này đã chạm vào cái dạ dày của tôi quá mạnh. Sự đụng chạm đó làm bật ra những âm thanh.

Anh chiến sĩ đứng tần ngần trước mặt tôi, vừa thất vọng, vừa ngượng ngùng. Anh không biết nói sao. Vẻ mặt non choẹt và phị của anh ta làm cho tôi đau khổ. Có lẽ anh ta phát khóc lên mất. Tôi cầm lòng không đậu. Tôi sẽ cho anh ta khúc sắn đó và xin lỗi anh ta bằng những lời thấm thía nhất. Nhưng khi tôi sắp sửa nói, thì anh ta đã quay đi, bước chân nặng như chì.

Và tôi cũng không phải nói nữa. Cái dạ dày của tôi êm dịu trở lại rồi.

Tôi tưởng tôi yên tâm vì khúc sắn đó không bị đụng chạm tới nữa nhưng tôi đã nhầm. Tôi không yên ổn chút nào hết. Tôi bị cắn rứt. Lần này không phải cái dạ dày bị đụng tới mà chính là trái tim. Tim tôi nghe xốn xang se thắt.

Tôi thấy con người đê mạt quá. Trên con đường khốn khổ này, con người đối với con người chẳng khác chi cầm thú, thằng mạnh thằng yếu, thằng nghèo thằng giàu…

Tôi xấu hổ với lương tâm quá. Khúc sắn đó của người ta cho tôi, tôi không dùng đến cho nên tôi mới để cho nó lăn lóc như vậy. Nếu không có anh chiến sĩ kia xin thì tôi cũng không nhớ tới nó.

Vậy mà tôi đã không cho anh ta. Tôi đã từ chối một cách rất chính trị.

Bây giờ, đau khổ vì cái cử chỉ tệ hại của mình, tôi nằm không yên. Tôi đứng dậy nhìn hút theo bóng anh chiến sĩ đã lẫn đi trong đám người lúc nhúc xa dần.

Tôi muốn gọi to lên nhưng tôi lại rất xấu hổ đến đỗi không dám gọi anh ta trở lại. Tôi nằm vật ra trên võng mắt ngó lom lom ra đường với mục đích tìm lại người chiến sĩ thảm thương kia.

Thỉnh thoảng tôi lại nhìn khúc sắn gắn trên cành cây. Nó như cái gai, như chính vết thương trong lòng tôi. Nó như cũng có linh hồn. Nó như cũng nhìn tôi bằng những cặp mắt vô hình và làm cho tôi xốn xang khó chịu. Miếng ăn là miếng tồi tàn.

Ở đây đã hẳn vậy, mà ở đâu cũng vậy.

Người ta đánh nhau chỉ cũng để giành lấy "cái ăn". Anh chiến sĩ quân đội nhân dân đã hạ mình để xin khúc sắn mà không đạt được, còn tôi thì nói dối một cách tài tình để từ chối. Tôi đã xem tình đồng chí đồng đội thấp hơn cả khúc sắn kia.

Tôi đã ân hận thực sự. Anh chiến sĩ kia là một người tốt. Anh đã không đánh giật khúc sắn, cũng không mắng chửi tôi tiếng nào.

Giá anh ta văng tục với tôi thì tôi sẽ yên lòng và tôi không ân hận vì tôi có lý do chánh đáng: thằng mất dạy mình không cho là phải!

Tôi chờ mãi không thấy anh ta trở lại. Những người đi lãnh gạo về hàng đàn, mặt mày người nào người nấy méo xẹo méo xọ chẳng còn ra cái "khí thế chiến thắng" gì nữa! Cái dạ dày rách, cái mồm làm sao nở hoa?

Sốt ruột quá, tôi bèn ra đứng bên vệ đường. Chờ mãi, người đi đã thưa mà cũng thấy anh bạn ấy.

Cái toán vừa gây sự với ông Chín còn đang lảng vảng ở đây, chuyện trò nổ như ngô rang với Thu. Đáng lý ra họ đã về từ lâu nhưng vì có "chất tươi" cho nên họ ở lại tỏ sự cảm mến đối với Thu.

Tôi đi tới góp chuyện và tả hình dáng nạn nhân của khúc sắn và hỏi có ai trông thấy anh này không?

– Ối! Có ai mà biết, con không cha mà!

Tôi suy nghĩ một lúc rồi lấy khúc sắn trao cho một cậu có vẻ chính chắn nhất đám. Tôi nói:

– Đồng chí đi về dọc đường để ý tìm hộ tôi cậu đó và trao cho cậu ta khúc sắn này. Nói rằng thằng cha hồi nãy ở dưới cái nhà gác đó nó gởi cho.

Anh lính cầm ngay khúc sắn, nhìn lườm lườm như mèo thấy mỡ.

Anh ta hỏi tôi:

– Cậu đó là gì của anh?

– À à… nó là em ruột của tôi! Đây là vấn đề tình cảm nhé! Nếu khúc sắn không tới tay cậu ấy thì tôi buồn lắm đấy!

– Ừ được, được ! Tôi bảo đảm.

Tôi nhìn theo toán lính kéo đi, mắt tôi trông thấy từng người rõ ràng. Chỉ cách tôi độ mười thước thì vỏ sắn đã rơi tơi tả xuống đất. Anh chàng còn quay lại nhìn tôi, miệng nhai ngấu nghiến như cười chê cái sự ngây thơ của tôi. Anh ta đã nuốt chững cái lương tâm của … tôi.

Tôi buồn vô hạn cảm thấy giá trị của mình và của bạn đồng đội xuống thấp quá! Buồn thay cái lý tưởng của mình, khi ra đi cao quý biết bao, với giấc mộng đầu đời, mà bây giờ chỉ còn lại có thế! Quanh quẩn những chuyện lặt vặt không đáng giá một chút trí não vậy mà nó chiếm hết trí não của mình.

Đêm hôm đó tôi mới bày đặt ra một cuộc liên hoan. Mấy khi có người tốt bụng như tôi (!) cho nên bộ đội hưởng ứng ngay.

Cái gì bằng ở giữa rừng xanh khô héo này mà được một bữa tươi.

Chất tươi ngon lành, chất tươi thực tế. Tôi cho Thu biết chuyện ấy như một quyết định, nghĩa là coi như tất nhiên Thu là diễn viên số một trong đêm nay.

Thu càu nhàu nũng nịu:

– Anh lúc nào cũng muốn đem bêu riếu em để làm việc nọ việc kia.

Hoàng hôn rừng nhóm lên một ngọn lửa man dã với hai người lính ngồi sẵn đó hễ có máy bay tới là cứ tuới nước vào cho lửa tắt ngay. Nhạc cũ dùng đệm đàn cho Thu múa duy nhất là cái soong và cái cổ họng của tôi. Tôi lật đít soong vỗ vào. Nó điếc câm không nghe tiếng vang.

Và tôi hát theo điệu tango bài Hoa Champa.

– Hoa Champa ơi, hoa đẹp hoa thơm

Một vầng hào quang hiển hiện giữa đêm đen chói chang ấm áp với vị nữ thần hiện ra huy hoàng đường bệ.

Nữ thần vận một cái choàng khăn tắm bên ngoài cái quần (xin lỗi độc giả) cho nó có vẻ dân xứ Lào để múa bài hoa Champa.

Chắc Thu cũng cảm thấy mình bay lên theo tiếng hát và tiếng nhạc của tôi.

Có bao giờ một người vũ nữ lại biểu diễn dưới cái ánh sáng như cái ánh sáng hôm nay, trên cái sân khấu như cái sân khấu hôm nay, với giàn nhạc như giàn nhạc hôm nay? Vậy mà Thu múa rất hay.

Ánh lửa soi một nửa gương mặt Thu, còn một nửa thì chìm hẳn trong bóng tối mờ nhạt. Cái chót mũi của Thu nhô lên thon đẹp và thanh tú lạ lùng.

Chiến sĩ ngồi xem đực mặt ra nhìn ngớ ngẩn như một lũ nô lệ bị hốt mất hồn. Họ không cử động, đôi mắt lờ đờ, mồm há hốc ra và tay chân xụi lơ không còn cảm giác. Có lẽ họ cũng không cần biết ở đâu lại có một người con gái múa một điệu múa thần kỳ như điệu múa này. Có lẽ bao nhiêu nỗi nhọc nhằn trên đường xa đã phủi sạch trong giây phút nầy. Bao nhiêu sắt thép nặng oằn vai và hằng trăm dặm đường sơn cước trở thành vô nghĩa lý trong giây phút nầy.

Thu đã giúp sức cho họ, mang lại cho họ nụ cười và ngọn gió mát lành trong cơn oi bức. Thu đã đưa tâm hồn họ đến bất cứ nơi đâu mà đôi chân Thu bước tới. Họ ngồi nghiêm trang như đang dự một dạ hội vĩ đại. Ánh lửa bay phơi phới như những mảnh lụa điều.

Nữ thần bước chậm rãi, giơ tay lên dịu dàng uốn mình như sóng lượn. Đôi mắt của nàng sáng rực như sao, nhìn mọi người như xoáy tận tim gan một cách buốt đau mà sung sướng. Nàng đi trong tiếng nhạc và ánh sáng, như gần như xa, như ẩn như hiện, như có như không, lúc đến sát lũ chúng sinh – tưởng như lũ này thở được hơi thở của nàng, lúc lại như ngàn trùng xa cách.

Thu đẹp quá Thu ơi! Anh tưởng đã mất một cách vô cùng thơ mộng vì em bỗng nhiên vụt biến thành nữ thần. Tôi vỗ soong hát mà lòng tan theo tiếng nhạc. Tôi tưởng tôi hoá thành một gã Trương Chi si tình đang ngồi gõ ván thuyền mà ca giữa không gian bao la dệt bằng mộng.

Không rõ nàng là biểu hiện của nghệ thuật hay chính nghệ thuật hiện lên trên thể xác tuyệt mỹ của nàng.

Tôi mới hiểu ra rằng chính mỗi người con gái là nghệ thuật siêu đẳng. Không có Nàng thì nghệ thuật như chim không cành đỗ, cá không được nước bơi, và hoa không có nắng để khoe sắc. Tôi thấy tôi yêu nghệ thuật và yêu Thu hơn bao giờ hết. Tôi thấy Thu đẹp hơn bao giờ hết, cái đẹp của linh hồn biến động ở từng cái chớp mắt, ở từng cử chỉ của những ngón tay, và làm rung động tim người bằng mỗi cái chớp mắt, mỗi cái đưa tay, mỗi cái động chân.

Tôi cũng cảm thấy tôi hát hay. Tiếng hát vang âm giữa những tầng không gian xanh và lướt trên những lá xanh đang mơ màng giấc ngủ.

Khu rừng bỗng nhiên trút hết vẻ âm u man rợ và trở nên quang đãng mơ mộng với những bóng cây nhảy múa theo ánh lửa, với những chú chim non, với những đóa hoa dại chuyển mình hé nở. Cọp beo chừng như cũng mất hết thú tính trở nên hiền lành dễ thương như những chú cừu non.

Thu đã hoán cải tất cả. Dữ hoá hiền, xấu ra đẹp. Cả tâm hồn tôi nửa như cũng thơ thới gột sạch mọi ưu tư.

Đôi chân Thu như hai cái búp non nõn nà di động. Tất cả người của Thu uyển chuyển rung động từng thớ thịt. Từng nếp áo, từng mép tóc của Thu đều ánh lên những hạt bụi hào hoa. Cả Thu đã hoá thành một đoá Champa mà lũ hành khất ở đây đang đói khát, đang tôn thờ.

Ông Chín ban đầu thì ngồi trên sàn nhà có vẻ phản đối cái vụ đốt lửa. Ông không thể chống lại số đông, nhưng ông tỏ sự bất bình bằng cách không xuống đất ngồi chung với mọi người.

Nhưng bây giờ thì ông Chín đã xuống đất ngồi. Có lẽ ông xấu hổ nên ông ngồi khuất sau một gốc cây. Tôi liếc thấy ông Chín chăm chú nhìn cũng như bao nhiêu người khác . Có lẽ ông cũng thích thú như bao nhiêu người khác. Và ông hơi hối hận về sự phản đối dù không có kết quả của ông.

Bỗng có tiếng thét:

– Máy ba….ay!

Tiếng thét như những thùng nước xối vào bếp lửa. Mà thực vậy, mấy người lính thủ sẵn nước trong tay như những cái vòi rồng vụt tưới vào đám lửa thơ mông làm tiêu tan ngay tất cả, tất cả.

Một sự xáo trộn đến cực độ, hồi lâu mới ổn định lại được trật tự. Nổi lên trong tất cả sự im lặng vừa được hồi phục đó là tiếng quát của ông Chín:

– Tắt lửa! Còn lửa cháy đó! Muốn chết hả? Mạng người chớ đâu phải con kiến? Văn nghệ văn ngọt gì?

Trời đất, rừng cây đang sáng sủa là vậy mà chỉ một loáng đã tối sầm lại như trong hũ nút. Người ta không dám thở mạnh, không dám cử động cũng không dám nghĩ rằng chính mình đã sống những giây phút bay bổng vừa qua.

Tất cả đều tan tác. Không còn một chút gì trong tâm hồn cũng như trên mặt đất. Chỉ còn sốt lại mùi khét bốc lên từ đống lửa bị dập tắt bằng nước, hăng hăng cay xè, quái gở.

Tiếng ông Chín càu nhàu:

– Tôi đã bảo mà không nghe tôi. Xem cái gì mà xem cái sự nhảy cóc nhảy nhái đó hả?

Lính tráng êm ru. Cấp chỉ huy cũng ngậm mồm. Họ rút lui không ý kiến. Họ dẫm lên cành khô kêu răng rắc, càn lên nhau kêu la ơí ới, gọi nhau về đơn vị.

Tôi bỏ trốn về võng nằm im thin thít như một kẻ cắp bị bắt quả tang, lòng buồn não vô cùng khi nghĩ tới cái cảnh tượng tan tác đang diễn ra ngoài rừng chung quanh đống tro tàn. Tôi không muốn nghĩ tới niềm hạnh phúc vừa tan vỡ, nỗi sung sướng khi được đối diện với Nữ Thần Nghệ Thuật. Tôi không muốn nhìn thấy nàng đột nhiên trở lại trần tục, lôi thôi lếch thếch với bộ xiêm y thần thoại đầy hào quang vinh quang đã rách nát.

Đêm rừng dày đặc. Tôi đã sống bao nhiêu đêm ở rừng rồi. Ngao ngán . Ngột ngạt.

(xem tiếp tại https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/18/dường-di-khong-dến-25/)

Đánh máy: Lê Thy

Luc Phan: VIỆT KIỀU

Luc Phan
8 Tháng Tám 2023
VIỆT KIỀU 
"Kiều" nghĩa là trú ngụ ở nước ngoài. "Kiều dân" nghĩa là dân của nước này đến trú ngụ ở nước khác. Tất cả người các nước khác đến cư ngụ tại nước mình gọi là "ngoại kiều". Vì vậy, "Việt kiều" là tiếng của người sở tại gọi người Việt trú ngụ trên đất nước họ giống như  người Tàu hoặc người Pháp cư ngụ trên đất nước Việt Nam thì ta gọi là Hoa kiều hoặc Pháp kiều. Còn người Việt trong nước gọi đồng bào mình ở nước ngoài là "kiều bào". Hồi Việt Minh mới cướp chính quyền, ông Hồ Chí Minh cũng dùng chữ "kiều bào" để kêu gọi đồng bào ở Pháp về cứu nước. Chỉ sau này, Việt Cộng mới dùng sai chữ "Việt kiều" để gọi đồng bào ở nước ngoài làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.
https://m.facebook.com/groups/1010963756558765/permalink/1051646492490491/

Wo Wang · Từ và Tự (Tự = Hán-Việt có nghĩa là chữ)

Từ và Tự (Tự = Hán-Việt có nghĩa là chữ)
Tác giả: Wo Wang

Có vài thành viên đã hỏi WW rằng: Vì sao mà WW không dùng chữ "từ", thay vì chỉ dùng chữ "chữ". Nếu WW nhớ không lầm, thì cách đây chắc cũng hơn 5 năm, WW đã có giải thích sơ qua về sự khác biệt giữa hai chữ "từ" và "tự" rồi. Nhưng nay sẵn có vài thành viên đã nêu thắc mắc, thôi thì WW lại giải thích tiếp vậy 
辭 = Từ (danh từ) (Hán-Việt) có nghĩa là lời nói hay lời văn, hoặc nhiều chữ để góp lại v.v... mà thành từ, để chỉ rõ những sự vật v.v...Cho nên chúng ta mới có từ khúc, bài từ v.v... Ví dụ: Niệm từ chứ không ai nói niệm chữ, và ngược lại cũng không ai nói đọc từ, mà chỉ nói là đọc chữ vì lý do trên.
Còn "từ" mà xài như động từ, thì có nghĩa là cáo biệt, từ chối v.v... Cho nên nếu viết câu ví dụ như sau đây, thì khi đọc lên chúng ta sẽ cảm thấy kinh khiếp ngay 
Ví dụ: Chữ cha, chữ mẹ rất là thiêng liêng ....
Và bây giờ chúng ta thay vào chữ "chữ" bằng chữ "từ" thì sẽ như sau:
Từ cha, từ mẹ rất là thiêng liêng .... Chúng ta đọc mà thấy đáng sợ quá phải không anh chị em  
Bây giờ WW xin bàn qua chữ "tự" (chữ).
字 = Tự (Hán-Việt) có nghĩa là chữ, và là do nhiều nét họp lại mà thành, được ghi lại trên giấy, hoặc đá (thời kỳ hoang sơ) v.v.... 
Ngày nay bên VN, do có nhiều người không rành về chữ Hán-Việt, nên đã ngộ nhận "từ" có nghĩa như là "chữ", và nhứt là bọn việt cộng, vì không muốn giống như thời Việt Nam Cộng Hòa, nên chúng đã dốt mà cứ tưởng ta hay, đã lấy chữ "từ" để đi thay thế cho chữ "chữ" (tự).
Lại có nhiều người cho rằng nếu chữ "từ", không như là chữ "chữ", vậy thì tại sao chúng ta lại có danh từ, tĩnh từ v.v.... WW cũng xin thưa rằng: Danh từ, hay tĩnh từ, hoặc động từ v.v... tự nó cũng đã nhiều hơn một chữ rồi, nghĩa là nó đã là "từ" là vì do nhiều chữ (hai hay nhiều hơn) họp lại để mà thành "từ", cũng vì vậy khi chúng ta muốn dùng chữ "từ" để chỉ cho một chữ, thì chúng ta phải dùng như sau:
Vi dụ 1: Ăn là một động từ "ăn". Chúng ta không ai nói là từ "ăn", nhưng ngược lại chúng ta có thể nói chữ "ăn" riêng rẽ được.
Vi dụ 2: Hoa là danh từ để chỉ về bông hoa của cây cối v.v... Chúng ta không ai nói từ "hoa" riêng rẽ, nghe rất lạ lùng.
(Như ví dụ mà WW đã dẫn chứng ở trên về từ cha từ mẹ .....) 
Rồi lại có người nêu lên thắc mắc là vì sao lại có từ điển, và tự điển. Tại sao không dùng là tự điển hết đi, mà phải là từ điển chi cho rắc rối. 
WW cũng xin được giải thích theo sự hiểu biết có giới hạn của WW như sau:
字典 = Tự Điển = Là sách dùng để tìm hiểu cách đọc và ý nghĩa của từng chữ một. Nhưng một khi chữ đó mà được ghép chung với những chữ khác, thì khi ấy sẽ trở thành từ. WW xin được phép dùng một ví dụ, trong cuốn Từ Điển Hán-Việt của cụ Đào Duy Anh, viết ra đây để anh chị em cùng tham khảo.
Vi dụ: Chữ nhất (nhứt) nghĩa là một, nhưng khi ghép với chữ nhân thành nhất nhân, hoặc ghép thành nhất cử lưỡng tiện v.v... Như chúng ta thấy đó, tuy cùng là chữ nhất, nhưng lời nói và ý nghĩa của hai câu trên khác nghĩa nhau, và nếu chúng ta muốn hiểu ý nghĩa của những câu đó, chúng ta phải dùng từ điển để tra cứu thay vì tự điển là vậy.
辭典 = Từ Điển = Là sách để tra âm (cách đọc) và nghĩa của từ ngữ (nhóm chữ, lời văn v.v.... chứ không phải từng chữ một).
Theo như định nghĩa như trên thì ta đã thấy được sự khác biệt giữa chữ từ và tự. Tiếc thay ngày nay bên Việt Nam, cũng như một ít các vị mang danh khoa bảng của thời VNCH, hiện đang sống ở hải ngoại này, cũng dùng chữ "từ" để thay cho chữ "tự" (nghĩa là chữ "chữ").
Người ta vẫn thường đọc câu: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", chứ không có ai đọc bao giờ là: "Nhất từ vi sư, bán từ vì sư", vì chữ "từ" không phải là "tự". Chữ từ có nghĩa là câu nói, lời văn, hay nhiều chữ họp lại mà thành từ. Cho nên nếu anh chị em nào mà biết chút về chữ Hán (Hoa), có thể vào internet để dịch chữ "辭" sang Anh ngữ, sẽ thấy ngay cả chính người Hoa cũng dịch là speech hoặc words (là nhiều chữ họp lại). Vậy mà có lắm kẻ không rành về chữ Hán, lại lên tiếng giải thích chữ "từ" có thể dùng thay thế cho chữ "chữ". Thật là tiếc lắm thay!
Với những lời giải thích như trên, WW mong rằng anh chị em chúng ta trong đây, từ nay xin hãy cố gắng dùng chữ "chữ", thay cho chữ "từ" của bọn việt cộng, đã mang vào xài trong miền Nam sau 1975 thay cho chữ "tự" (chữ). 
Ngoài ra WW cần nói thêm là chữ "từ" thời VNCH chúng đã có dùng, nhưng dùng đúng với cái nghĩa của nó, chứ không như bọn dốt việt cộng ngày nay!
Sau đây WW đăng kèm hình chụp lại trang tự điển Hán-Việt của cụ Đào Duy Anh, và trang dịch từ Hoa ngữ sang Anh ngữ để anh chị em chúng ta cùng tường tận.
WW

Thursday, August 03, 2023

Sói Già Cô Độc - AI BỊ LỘT MẶT?

Tác giả: Sói Già Cô Độc

Đêm hôm kia, tối hôm qua những "trai thanh gái tú" từ khắp miền của đất nước đổ về Hà Nội.
Họ nháo nhào đi tìm thần tượng Blackpink ở sân bay Nội Bài, thức cả đêm bên ngoài khách sạn để chăm sóc giấc ngủ cho Idol, và đội mưa lắc lư, gào thét uốn éo theo tiếng "nhạc chết" của 4 cô gái với thứ tiếng Anh của người từ cung trăng rơi xuống (nhạc chết vì nó không phải là nhạc sống có các nhạc công chơi trên sân khấu).
Sao nước Nam mình giàu thế, có nhiều cô cậu chi đến hàng chục triệu để thỏa mãn cơn khát idol?
Nhiều người hỏi:
Sao chúng không thương bố mẹ kiếm từng đồng?
Sao không thần tượng các liệt sĩ, các anh hùng trong ngày 27/7, đến nghĩa trang thăm viếng với sự thành kính, ngưỡng mộ?
Chúng không thấy hàng chục nghìn người lao động xuất khẩu còn phải kiếm từng đồng gửi về tổ quốc, cả đất nước đang gồng mình với vật giá gia tăng?
Chúng không thấy, Quốc hội, chính phủ họp lên họp xuống "co kéo, giật gấu vá vai" từng đồng tiền ngân sách lo cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, người có công, người yếu thế trong xã hội?
Chúng không biết "khổ nhất" là các lãnh đạo đất nước, từ chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng chính phủ chạy đôn đáo khắp trời Âu, trời Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc để xin hỗ trợ tiền, vaccine, thuốc men trong đại dịch, xin giãn nợ vốn vay, xin cấp thêm vốn ODA mấy chục năm ròng … để cả nước hàng năm phải lê lết kéo cày trả nợ?
Chúng có biết, giặc tham nhũng tràn lan phá phách, vụ Việt Á, Chuyến bay giải cứu… cả nước tan hoang. Đảng bất lực vì một bầy sâu đang hút máu mủ đồng bào… xét xử mãi không hết?
Chúng có hay ngoài biển Đông giặc tàu cấm ngư dân đánh bắt cá, đâm chìm thuyền của họ, đường lưỡi bò liếm hết chủ quyền biển đảo?
Chúng đang cổ vũ cho một lối sống vị kỷ, vô trách nhiệm một cách mù quáng, thiếu nhận thức và cuồng dại, ảo tưởng vật chất… và mất dạy.
Chúng  không đại diện cho những đứa con của những gia đình lao động chân chính, có ý thức cộng động xã hội.
Một lũ "ranh con" trong AK47 tự hào, Blackpink đem đến tương lai 

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=pfbid0JvYnz1ek2Rxi3e2KBBQjVfTjTUEdd2sta7X7CVzmp3ptnRYfd18VKL3nJeTuT4LYl&id=100073437923906

Wednesday, August 02, 2023

Cong T. Do - Tại sao csVN chủ trương giết quân dân Huế Tết Mậu Thân?

 Cong T. Do
July 25 at 12:00 PM  · 

Tháng 9 năm 1968, sau khi cuộc tấn công Mậu thân bị thất bại, Bí thư một vùng thuộc Thành phố Huế, ông Hồ Ty đã bị cảnh sát bắt. Hồ Ty khai là kế hoạch giết quân dân cán chính ở Huế nằm trong chiến lược của đảng csVN, nhằm bứng tận gốc rể hệ thống chính quyền VNCH ở Huế, gồm luôn cả những thành phần nhân sự phục vụ bộ máy chính quyền. Hồ Ty xác nhận, việc giết người ở Huế đảng csVN đã dự tính trước và giao cho một bộ phận đãm nhận về an ninh thi hành kế hoạch này. (1)
Kết luận của Douglas Pike khi làm việc với tư cách nhân viên Sở Ngoại Vụ cho Phòng Thông Tin Hoa Kỳ năm 1970 cho biết cuộc thãm sát ở Huế diển ra trong 3 giai đoạn. Giai đoạn một, khi nạn nhân bị đem ra xử trong một toà án bỏ túi, kéo dài trong vòng 5 đến 10 phút, trong đó nạn nhân bị tuyên án phạm tội ác chống lại nhân dân. Sau khi nghĩ rằng quân cs có thể giử được thành Huế lâu dài, cs lại đem dân ra bắn tiếp, trong chiến dịch "kiến tạo lại xã hội", theo phương cách của những kẻ theo chủ nghĩa Mao một cách cuồng tín. 
Những người mà cs cho là thuộc tầng lớp "phản động" đều bị đem ra xử bắn ở giai đoạn hai. Những người như giới trí thức, giáo dân, thương gia và người cho là "tôi mọi cho thực dân", đều bị đem ra bắn bỏ, dọn đường cho việc xây dựng một trật tự xã hội mới. Và khi cs nhận ra rằng họ phải rút lui khỏi Huế, thì giai đoạn thãm sát thứ ba đã được tiến hành một cách nhanh chóng, theo chủ trương "giết không để lại bất cứ dấu vết". Những người bị giết và đem đi dấu xác trong đợt ba này là bất cứ ai, già trẻ trai gái đều phải chết nếu họ lỡ biết danh tính, biết mặt những người việt cộng trong cuộc Tổng tấn công ở Huế. Sau khi cs bỏ chạy ra khỏi Huế, có khoảng 2,800 xác chết được tìm thấy từ những mồ chôn tập thể một cách vội vã, có 4 điạ điểm thảm sát chính được tìm thấy đầy những xác chết như vậy ở Huế. Hầu hết đều bị chết ở tư thế tay bị trói bằng dây điện, miệng bị nhét giẻ, thân thể bị cong queo mặc dù không có một vết thương nào trên người, bằng chứng của việc họ đã bị chôn sống. (2)
Cuộc thãm sát Huế năm Mậu Thân 1968 theo giới quan sát quốc tế là từ 2,800 đến 6,000 người bao gồm dân thường và công viên chức của VNCH. Chính quyền VNCH công bố chính thức là 4,062 người bị giết hay mất tích, trong đó, một số bị chôn sống, một số bị đánh vào đầu bằng cuốc, xẻng mà chết.  Sau Tết Mậu Thân 1968, Huế đã bị mất đi từ 5% đến 10% tổng dân số.
Theo báo cáo của cơ quan phân tích RAND, dựa vào các tài liệu tịch thu của việt cộng, từ 1965 csVN đã chỉ thị cho việt cộng, những kẻ nằm vùng, nội thành, phụ trách an ninh ở Huế thu thập danh sách các phần tử bị cho là "phản động" và chuẩn bị mạng lưới an ninh ngầm để thực hiện các công tác "thủ tiêu". Và những danh sách này đã được việt cộng sử dụng trong cuộc thảm sát ở Huế. Một trong những mật thư bị tịch thu, đã chỉ đạo cho việt cộng "Chuẩn bị sẳn điạ điểm của bọn phản động để chúng ta dễ dàng thanh toán những kẻ phản bội ở trong các thành phố. Chuẩn bị chu đáo danh sách và tài liệu liên quan đến bọn phản động, thanh lọc các phần tử và đề nghị phương án để tiêu diệt bọn chúng trong tất cả mọi tình huống và sửa soạn cho một cuộc trấn áp bọn phản cách mạng sẽ được diễn ra."
Chỉ thị giết người kèm theo danh sách do việt cộng báo cáo là những danh sách csVN sử dụng trong các cuộc ám sát, tử hình và thảm sát ở mức độ qui mô như khi tấn công vào Thành phố Huế. Một trong những chỉ thị còn đi sâu vào chi tiết như "Phải có kế hoạch thủ tiêu từ 3 đến 5 phần tử phản động và tiến hành các hoạt động này, từ giết 5 đến 10 người trên mỗi góc phố, hay mỗi khu vực có dân cư. Phải làm hỏng hệ thống đàn áp của bộ máy chính quyền, phải giết hơn 70% liên hệ trong gia đình của những kẻ giữ vai trò lãnh đạo và thủ tiêu 100% các phần tử liên hệ với chính quyền trong từng khu vực". Với những chỉ đạo như vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Bảy Lớp, trưởng đặc công việt cộng ở Sài Gòn đã tàn sát cả gia đình một viên chức quân đội VNCH. Bảy Lớp là người bị Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết sau đó. Và cũng giải thích tại sao theo tường thuật của một nhân chứng ở Huế, Hoàng Phủ Ngọc Phan đã lạnh lùng bắn chết hết 5 người trong một gia đình không chút nương tay.
Điều này cũng làm sáng tỏ cuộc thãm sát có chủ đích tại Gia Hội, Huế nơi thuộc khu vực Nhà thờ Phủ Cam. Tại đây, khi việt cộng làm chủ Huế, đã bắt đi 398 người, bao gồm tất cả già trẻ bé lớn, gồm luôn trẻ em trên 15 tuổi đang ẩn nấp ở nhà thờ Phủ Cam. Tất cả 398 người này đều bị việt cộng giết hết sau đó, và theo lời tự thú của Hồ Ty, Bí thư Thành Ủy Huế "chúng tôi đặc biệt chú trọng đến những phần tử ở Phủ Cam…những thành phần Công giáo này coi như là kẻ thù của chúng tôi". Và đó là lý do tại sao 398 mạng người dân Huế đã bị việt cộng giết sạch. (3)
Danh sách những nạn nhân ở Huế sẽ bị việt cộng "xử tử" đã được soạn thảo từ trước năm Tết Mậu Thân 1968 và trong quá trình đóng góp cho danh sách này dày thêm ra, làm sao không có sự chỉ đạo của những việt cộng ở Huế như anh em Hoàng Phủ, hay Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn thị Đoan Trinh khi họ đang ở cương vị chủ tịch, tổng thư ký, thành viên của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Chủ và Hoà Bình, và sau này chạy theo việt cộng vào trong rừng. Những người như ông Xuân, ông Phan, ông Tường, ông Hảo, bà Trinh v.v…không thể không có công đóng góp trong quá trình làm "loại bỏ những phần tử ác ôn" ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968.
Khi Pol Pot thãm sát hơn 2 triệu người Cambodia, Pol Pot không thể trực tiếp giết từng người. Nhưng thế giới và nhân dân Cambodia vẫn quy trách nhiệm cho Pol Pot tội diệt chủng. Nói cách khác, Pol Pot không cần phải có mặt tại hiện trường hay chính tay cầm cuốc phang vào đầu, giết từng người Cambodia thì mới là kẻ phạm tội ác sát nhân. Khi Hitler giết hơn 5 triệu dân Do Thái, và ra lệnh cho Himmler, trưởng đặc vụ lực lượng SS Đức Quốc Xã thi hành, thì chính cả hai cũng không có mặt tại các lò thiêu sống, hay hiện diện trong các trại tập trung. Phạm tội ác diệt chủng khi ra trước vành móng ngựa hay đứng dưới giá treo cổ thì không phân biệt có mặt tại nơi thãm sát hay không? mà chính là ở vai trò, và hành vi tiếp tay phạm tội gián tiếp hay trực tiếp. Do đó, việc những người từng giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc thảm sát ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn thị Đoan Trinh…v.v… có biện hộ cho vai trò và tìm cách lẫn tránh sự hiện diện trong Tết Mậu Thân 1968, thì vẫn không thể che lấp được tội ác đẫm máu của họ trong cuộc thãm sát đồng bào ở Huế năm 1968.
Đỗ T. Công

(1) Oberdorfer, Don (Dec 7, 1969). "'68 killings by vietcong are detailed". Washington Post
(2) Pike, Douglas (1970). "The VietCong Strategy of Terror". (Pike concluded that the killings were done by local VC cadres and were the result of "a decision rational and justifiable in the Communist mind.")
(3) Hue Red Report Found

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=pfbid037EtzsYSewwibQhF66TjNAXW5PJLD5jJu5NyaLAHecrNRSHL4WoEcgLEE3yvREKcRl&id=100006087489025

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 23

– 23-

Sáng hôm sau chúng tôi ăn cơm xong thì đồng chí Phó chính ủy đường dây và anh trạm trưởng về. Cả hai trút ba-lô và súng xuống vạt nứa.

Ông Phó chính ủy nói:

– Bỏ mạng rồi.

– Khó xoi quá – Anh trạm trưởng kêu lên – Tụi Mỹ nằm khít rim.

– Bọn này ác thật. Bỗng nhiên lại nhảy xuống Bùi Gia Mập mười ngàn quân rồi nằm ỳ đó không chịu đi đâu cả. Thế có chết không kia chứ? Mỗi ngày mình phải cung cấp cho lính kẹt nằm tại đây hàng ngàn lít gạo… Gạo đào đâu ra?

Ông Phó chính ủy hỏi anh trạm trưởng:

– Bây giờ tôi định mở đường sang phía Đông cậu xem có được không? Chứ để nằm ỳ ở đây, nội lính nó phá thôi cũng lộ hết mục tiêu, cậu thấy thế nào?

– Dạ!

Tiếng "dạ" của anh trạm trưởng có vẻ miễn cưỡng, không tin tưởng sự chuyển hướng ấy sẽ mang lại kết quả.

Ông Phó chính ủy nói tiếp:

– Chuyển đường sang hướng Đông thì gần căn cứ địch lắm, có thể bị lộ hoặc bị ăn pháo, nhưng nếu để nằm lại đây cứ mỗi ngày ùn thêm vài trăm thì sớm muộn gì cũng lộ, mà lộ thì ăn B52. Cậu thấy thế nào?

– Dạ tôi cũng thấy thế đó!

– Thế thì cơm nước xong tôi với cậu lội tiếp nhé. Hễ xoi không thông là sáng mai bắt đầu cho đi.

– Dạ!

Cơm nước xong, hai người lại quảy ba-lô đi xoi đường. Ông Chín thì lại đi bẻ nhánh cây từ trong rừng xa mang về từng ôm đem rải trên mặt sân tiếp tục cái công việc hôm qua nghĩa là ngụy trang cho bằng được cái sân mới nghe. Tôi thì nằm võng nghĩ ngợi lơ mơ. Việt soạn ba-lô. Hắn ngồi quay lưng lại tôi dường như sợ tôi trông thấy những của nổi của chìm của hắn.

Thu thì xuống suối gội đầu. Tôi nằm trên võng, có thể nhìn rõ cả Việt lẫn Thu.

Bộ đội ở ngoài kia bắt đầu đi lãnh gạo. Họ đi ngang qua chỗ tôi nằm, người nào cũng ngó vào một cái, thỉnh thoảng có người kêu lên

– Nhà! nhà tụi bây!

– Có người ở!

Rồi họ đi qua trước đôi mắt lạnh nhạt của tôi. Thỉnh thoảng tôi mới điều động đôi mắt của tôi khỏi ánh tóc xoả của Thu mà quay lại phía đạo quân đi lãnh gạo. Nếu ông Chín biết tôi chăm chú nhìn Thu hơn nhìn bộ đội ổng sẽ qui cho tôi mất hết lập trường.

Những anh bộ đội mặt bủn da vàng đi khật khừ trông đến thương tâm. Tôi thú thật thấy nhiều anh tàn tạ quá tôi không dám nhìn. Không hiểu đau ốm như thế nào mà mặt mày sưng lên và vàng như nghệ. Kẻ thì buộc ruột tượng ngang lưng, người thì vắt vai lòng thòng lểnh thểnh , những người không còn ruột tượng thì lấy quần dài túm ống lại và vắt trên vai, hai ống chẻ ra bỏ thòng ra sau lưng trông rất chửi đời.

Thu đứng một lúc rồi vốc nước lên gội. Bọt xà phòng sùi lên trắng xoá. Lâu quá tôi mới trông thấy bọt xà-phòng trên mái tóc đàn bà.

Tóc Thu không dài. Có lẽ Thu làm tóc trước khi đi.. Bây giờ đã đến lúc làm lại rồi mà không có tiệm thành thử nó hơi ngay ngay cong cong xem cũng hay. Đối với tôi ở Thu cái gì cũng hay cả. Thu cúi đầu xuống, rủ tóc ra phía trước để khỏi ướt lưng. Cái gáy của Thu để lộ ra trắng như một miếng dừa nào. Ở lẫn trong mái tóc đen huyền, mãng gáy ấy càng ánh lên một cách tàn nhẫn.

Chắc Thu vẫn biết tôi đang nhìn Thu nhưng Thu cứ làm như không biết.

Thu đang đóng một vở kịch độc đáo chỉ có một vai và cũng chỉ có một khán giả thôi. Diễn viên vờ không biết mình được xem, còn người đang xem vờ không biết mình đang say sưa xem biểu diễn.

Đôi chân của nàng lại phô bày ra….niềm mơ ước. Nước chung quanh nàng xao động và tan ra cùng với cái bóng nàng in trên mặt nước, như cái kỷ niệm vừa phai.

Có một thời một cái hình tượng gần giống như thế nằm trong sự ôm ấp của chàng. Có những lần chàng tưởng như mình kiệt sức, nhưng khi đi cạnh nàng thì chàng thấy chàng vươn lên. Có lần đang đi bỗng sụp xuống ôm chặt lấy đôi chân nàng. Nàng khụy xuống bám vào cổ chàng. Thế là chàng bế xốc nàng đi lẫn vào trong rừng. Ở đó không có ai, chỉ có những vật vô tri. Chàng hấp tấp biến nàng trở thành một thực thể trong trạng thái tự nhiên để cho chàng hành hạ, dày vò. Và nàng cũng lặng lẽ đón những cực hình vui thú đó. Hai người đứng nhìn suốt nhau. Rồi đột nhiên họ không nhìn thấy nhau nữa. Người này đối với người kia là một khối mơ hồ mà họ chỉ cảm thấy bằng răng, bằng lưỡi, và bằng sự cọ xát, vặn vẹo, rên rỉ. Họ đứng, rồi ngồi, rồi nằm phơi trải tất cả vẻ đẹp thiên nhiên của họ cùng thiên nhiên làm cho những chiếc lá úa cũng run lên như những thớ thịt của rừng được hồi sinh.

Nhớ lại cái hạnh phúc quá ư cụ thể đó, tôi thấy trong người bứt rứt khó ở. Tôi biết sức khoẻ của tôi chưa đến nỗi bi quan.

Bộ đội đi rào rào, chí choé nói chuyện làm tôi quay lại nhìn. Từ cảnh tiên tôi bị lọt tỏm vào một cảnh trần tục quá trần tục. Một bên thì quá tươi đẹp thơ mộng, còn một bên thì quá gồ ghề cực nhọc với những con người áo quần lôi thôi lếch thếch đi dằng dặc, mắt ngó xuống, chân bước nặng chịt. Họ đi lãnh gạo, nhưng họ không lãnh được gạo vì gạo đã hết rồi.

Những người trở về gặp những người vừa đi, hai bên chửi ầm cả lên. Kẻ lên tới kho về không cũng chửi mà những kẻ chưa lên tới kho cũng chửi. Họ chửi cái kẻ đã không phát gạo cho họ để cho họ phải vác xác tới kho rồi vác xác trở lộn về với những cái ruột tượng trống không và với những cái dạ dày ọc ạch nước suối. Nhưng kẻ có trách nhiệm phát gạo tự hỏi gạo đâu mà phát?

Họ ngồi dồn cục lại ở chung quanh nhà tôi và nói chuyện ồn ào bất biết chủ nhà là ai. Họ ngó nghiêng nhìn vào cái nhà bếp của chúng tôi, có người vừa leo lên gác vừa nói:

– Leo lên tìm ngụm nước coi!

Thế là cứ tự tiện leo. Một nhóm kháo với nhau:

– Ê tụi này! Có phụ nẻo nghe!

– Đâu? Đâu?…

– Đấy kia dưới suối! Suỵt! Sụyt! Nó tắm, để coi chơi !

– Chắc dân thiểu số!

– Ờ, thiểu số thì hay lắm!

– Tha hồ coi!

– Nó không có ngượng gì đâu.

– Nó còn mời mình xuống tắm chung và lặn mò cá leo với nó nữa mà!

Một cậu cãi lại:

– Con này không phải phụ nữ Thượng đâu.

– Chứ con gái gì đây?

– Con gái thiểu số không trắng như vậy.

– Mẹ! Trông ngứa mắt quá.

– Sốt bỏ mẹ đi, lại còn!…

Một cậu tán thêm vào câu chuyện hài hước:

– Ăn cơm lược không?

Một cậu khác đáp:

– Không "lược"!

– Ăn "chấu" "lược" không ?

– Ngộ ăn "chấu" không "lược" !

– Há… dậy chớ… ứ "lược" không?

– Há… cái ló ở lâu mà cố? (Cái đó ở đâu mà có).

Rồi cả bọn cười ầm lên sặc sụa.

Cậu kia lại giải thích:

– Đó! Ăn cơm không được, ăn cháo cũng không được, sốt rét triền miên, nhưng nghe tới cái đó thì anh nhảy dựng lên ngay!

– Há há há..

– Mẹ! Đùi trắng quá mầy ơi !

– Sụyt!

Tôi vừa muốn ra miệng thì ông Chín đã bảo:

– Nè! Các cậu là bộ đội cách mạng nghe! Tư tưởng và hành động như thế đó hả?

Một tràng cười nổi lên ở ngay trước nhà. Một tiếng phản đối trả lại câu nói của ông Chính:

– Thằng cha nào thầy đời đó hả?

– Đ.M muốn dạy ông hả? Ông học 18 lớp huấn luyện rồi đây nhé. Trường Ái Quốc 1, Ái Quốc 2 ông đều dự nốt, thằng nào hơn ông mà làm trời?

Có lẽ chưa bao giờ ông Chín bị người ta xối nước vào mặt lạnh toát như lần này. Ông giận tái mặt, tôi thấy đôi môi ông run run. Chắc ông đang giằn câu nói mà ông sắp nói ra.

Nếu tôi ở vào trường hợp ông thì tôi thụt cổ rùa luôn rồi, còn ông thì không . Ông già gân vẫn chậm rãi bước xuống thang. Ông tằng hắng hai ba cái liền, đến cái cuối cùng thì chân cũng vừa chạm đất. Ông nói:

– Tôi đây, tôi nói nhưng tôi không muốn làm thầy đời ai hết.

Đám lính im thin thít. Ông Chín nói tiếp:

– Tôi chỉ muốn khuyên các đồng chí làm hoặc nói điều gì thì phải xem điều đó có sai lập trường không? Nhất là các đồng chí là chiến sĩ tiền phong của giai cấp.

– Thôi dẹp đi ông già!

Một tiếng quát từ trong bụi rậm. Tôi nghễnh cổ nhìn, thì ra một anh chiến sĩ vàng võ đang làm xấu trong bụi vừa đứng dậy.

Anh ta nói oang oang:

– Tôi nghe ông nói tôi hết mắc … ngay! Tôi đứng dậy liền để trả lời cho ông rõ. Cái gì mà lập trường với lập bò? Ông làm như ông là đại lý độc quyền cái món lập trường ấy vậy – Anh chiến sĩ vỗ ngực pạch pạch – Tôi mấy chục vết thương trong mình đây! Như vậy mà tôi phải nghe ông giảng lập trường hả?

Ông Chín vẫn bình tĩnh:

– Tôi không giảng, tôi chỉ nói.

– Nói cái gì, đùi trắng thì chúng tôi nói đùi trắng. Chớ phải chúng tôi nói đùi đen hay sao mà ông bảo chúng tôi mất lập trường?

Ông Chín ôn hoà:

– Nhưng chiến sĩ cách mạng đâu có quyền nói như vậy.

– Tại sao không? Ông giảng cho tôi nghe.

– Chuyện đùi đàn bà nói ra chỗ này gợi những ý nghĩ không tốt cho anh em ta.

– Tại sao không tốt? – Anh lính càng tỏ ra ương ngạnh và hiếu chiến – Lính tôi đâu phải những thằng không có ….

– Nhưng mà nói để làm gì? Cái đùi đàn bà có bồi dưỡng cho lập trường giai cấp của các đồng chí không?

Lũ lính thấy có kẻ đứng ra chống mũi chịu sào bèn nhao nhao lên:

– Có chớ ! Có chớ!

– Đùi đàn bà bồi dưỡng lập trường ghê lắm chứ!

Ông Chín trợn mắt:

– Mấy người đừng có lếu láo nghe!

Một anh khác có vẻ là học sinh nói rất ôn tồn:

– Xin lỗi bác là người đáng cha đáng chú nếu cãi nhau với bác thì thành ra mất tư cách. Đây cháu xin trình bày ý nghĩ của cháu thôi. Quả thật như vậy, đùi đàn bà bồi dưỡng lập trường cho chúng cháu rất nhiều. Bằng chứng là trong những vở ba-lê "Hồ Thiên Nga" của Liên Xô, có hằng trăm người vũ nữ tuyệt đẹp mà người nào cũng phơi trần cặp đùi của mình trước khán giả.

Trong tiểu thuyết "Con đường đau khổ" của Alexis Tolstoi, tác giả có tả cặp đùi của một nữ tài tử như sau : "Cặp đùi của nàng đáng thưởng cho một huân chương vàng!". Xem đó thì việc chúng tôi nói nữ đồng chí kia có cặp đùi trắng đẹp quá có gì là mất lập trường, thưa bác?

Ông Chín đuối lý nhưng ông cũng không chịu im. Ông nói:

– Đó là chuyện nghệ thuật nghiêm chỉnh, còn đây là các chú đùa cợt.

Anh lính khi nãy ứng đáp ngay:

– Xem đùi đàn bà chẳng ai nghiêm trang được cả, trừ những đứa liệt dương và những thằng thiến đó thôi. Còn lũ lính chiến chúng tôi là lính có… cho nên xem đùi đàn bà là xem đùi đàn bà, ai muốn nghĩ sao thì nghĩ. Ông không phải lo hộ cho chúng tôi làm chi cho nhọc tuổi già.

Ông Chín hỏi giọng gay gắt:

– Chỉ huy các đồng chí là ai?

Tôi thở dài, trong lòng tôi ái ngại vì sợ câu chuyện dằng dai sẽ lọt vào tai Thu. Điều này làm cho tôi đau khổ. Tôi nhìn xuống suối. Thu đang từ dưới suối đi lên. Nghe cãi ồm ồm nãy giờ có lẽ Thu đã đoán ra câu chuyện. Thu dừng lại hỏi tôi:

– Chuyện gì đó anh?

Tôi hơi ấp úng định chối quanh không nói sự thật nhưng một anh chiến sĩ đã nói cướp ngay:

– Chuyện của chị đấy, chị có muốn nghe không?

Thu tươi cười, tay cầm mớ tóc rủ rủ cho nước văng ra và hỏi:

– Có chuyện gì các đồng chí cứ nói! Lâu quá tôi không được ai chú ý tới cũng buồn. Tôi là con gái, tôi thích người ta chú ý đến tôi luôn. Tôi là văn công.

– Vậy hả? Thế thì hay quá!

Cả đám chiến sĩ reo thích chí. Anh chiến sĩ có gương mặt vàng ẽo lúc nãy, được thế lấy trớn nói rất hăng:

– Có gì đâu! Chúng tôi bị ông lão này chụp cho một cái mũ mất lập trường rất to.

– Tại sao?

– Cũng vì chị đấy!

Thu tròn xoe đôi mắt và bằng những cử chỉ duyên dáng và rất sân khấu. Người nữ diễn viên có lẽ rất hứng thú khi đứng trước nhiều cặp mắt chăm chú nhìn mình, nàng nói:

– Tại tôi? Tôi làm gì mà các anh chịu chụp một cái mũ to dữ vậy?

Anh chiến sĩ nói ngay:

– Vì bọn tôi lúc nãy đi ngang qua suối… e hèm! Chúng tôi đi lãnh gạo về, đi rất mệt cho nên thấy suối chảy thì nghe cơn khát dấy lên, chúng tôi nhìn xuống suối và do đó chúng tôi bắt gặp một hiện tượng mà chúng tôi cho rằng là đẹp. Đó là đôi chân của chị.

Thu hơi ửng đôi má, đôi mắt Thu chớp chớp.

– Ồ! Thế à!

– Vâng, chỉ có thế. Xin chị chớ phiền. Chúng tôi không nói gì mất lập trường. Quả tình đôi chân chị đẹp thật. Chúng tôi đã từng xem ba-lê Liên Xô và thấy đôi chân của người Việt Nam ta đẹp không kém trình độ quốc tế.

Tôi suýt bật cười vì nhận xét của người chiến sĩ ngây thơ.

Thu hơi ngượng nhưng có lẽ Thu thích. Người con gái nào mà chẳng thích người khác khen mình đẹp?

Thu nói:

– Trong nghệ thuật múa ba-lê đôi chân là cốt yếu. Và trước nhất là đôi chân phải đẹp. Tôi có biết nghệ thuật này chút đỉnh cho nên tôi cũng biết thêm rằng hiện nay ở Việt Nam mình có trường đào tạo diễn viên ba-lê. Riêng đôi chân phải luyện tập bồi dưỡng sắc đẹp cho nó từ bé.

Cả bọn chiến sĩ nhao nhao lên lấy câu nói của Thu làm cái khiêng để chống lại mũi gươm của ông Chín.

Thu nói tiếp:

– Xem đôi chân đẹp, biết thưởng thức vẻ đẹp của nó thì có gì là mất lập trường. Lập trường đâu phải là thứ gì nhẹ giá quá mà lúc nào người ta cũng đánh mất.

Thu lại mượn cái khối chiến sĩ này làm đòn xeo để bẩy tung đi cái cục gàn của ông Chín.

Thu còn nói tiếp:

– Ở đây không có sân khấu, nên tôi không thể biểu diễn cho các đồng chí xem được, chứ nếu ở Hà Nội thì tôi sẽ cho các đồng chí xem ngay một màn vũ lập trường.

Nói xong Thu để quần áo trên một tảng đá và đứng nhón trên mũi chân, vòng tay lên đầu làm vài ba động tác ba-lê rất đẹp.

Ông Chín tiu nghỉu đi lên tầng trên vì ông đã thấy trước mắt rằng ông không có đồng minh.

(xem tiếp tại https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/17/dường-di-khong-dến-24/)

Đánh máy: Lê Thy

Tuesday, August 01, 2023

Nhạc Xưa Hình Cũ Nhận Xét Về Nhóm Nhạc Black Pink của Hàn Quốc đến Việt Nam biểu diễn c

Qua sự kiện nhóm nhạc Black Pink của Hàn Quốc đến Việt Nam biểu diễn mới thấy được hết cái VĂN HOÁ đi xem ca nhạc, cái TRÌNH ĐỘ nghe và thưởng thức âm nhạc của giới trẻ Hà Nội nói riêng và Việt Nam bây giờ nói chung THUA XA giới trẻ Sài Gòn của những năm trước năm 1975 rất rất nhiều. Đó là SỰ THẬT. 
Giới trẻ của Hà Nội, của Việt Nam bây giờ đi xem Live show ca nhạc ngoài trời của một số ca sĩ, nhóm nhạc nào đó của nước ngoài đến Việt Nam biểu diễn, ví dụ như nhóm nhạc Black Pink chẳng hạn, chỉ cốt là để KHOE KHOANG tỏ ra mình giảu có, để THỂ HIỆN, để RA VẺ mình đây, ta đây là NHỮNG NGƯỜI SÀNH ĐIỆU mà thôi, chứ xét về khía cạnh THƯỞNG THỨC và AM HIỂU về âm nhạc thì tất cả đều là con SỐ 0 TRÒN TRĨNH, đều là đám MÙ ÂM NHẠC hết cả. Vì sao?
- Thứ nhất: Bất đồng ngôn ngữ nên không thể hiểu được các ca sĩ, nhóm nhạc của nước ngoài họ hát bài gì với nội dung và ý nghĩa của bài hát mà họ đang hát nó như thế nào.
- Thứ hai: Đã là chương trình ca nhạc, nhất là chương trình ca nhạc với sấn khấu ở ngoài trời là phải chơi nhạc sống 100%,, nghĩa là ngoài các ca sĩ chính của chương trình ra, thì bắt buộc trên sân khấu phải có đầy đủ các nhạc công, nhạc cụ để cho các khán giả có được những sự hào hứng trong âm nhạc, được say mê ngắm nhìn, rồi được hoà quyện vào cùng với các tay Trống khi họ quay múa dùi trống, các tay Guitar khi họ có những động tác chơi đàn, các ngòn đàn điêu luyện đầy sự ngẫu hứng, các ca sĩ, các vũ công biểu diễn máu lửa nếu như là nhạc kích động, để rồi tất cả nhạc công, ca sĩ, vũ công, khán giả đó cùng tạo nên một chương trình ca nhạc ngoài trời mang đậm chất nghệ thuật và đầy ý nghĩa. 
Chứ mà thưởng thức âm nhạc như kiểu của nhóm nhạc Black Pink là biểu diễn, hát hò, nhảy nhót trên nền nhạc chết (không có nhạc công và hát nhép), thì thôi ở nhà mở tivi xem cho nó lành, vì nó không có được cái chất, cái sự hào hứng thật sự của một chương trình ca nhạc (đại nhạc hội) được tổ chức ở ngoài trời như vậy.
- Cuối cùng: Giới trẻ của Sài Gòn nói riêng, của miền Nam trước năm 1975 họ có niềm đam mê với âm nhạc thật sự đó nhưng họ không có khùng mà bỏ ra rất nhiều tiền để mua vé Vip, họ không có dư hơi rảnh háng để đứng hàng giờ dưới trời mưa to, dưới khách sạn hay nhà ở chỉ để gặp thấy được thần tượng, họ không có điên để khóc khi xem thần tượng biểu diễn, họ không có cái văn hoá xả rác bừa bãi, ăn đâu ị đó và nhất là họ luôn luôn sống có trách nhiệm với Quốc Gia. 
Còn về phần giới trẻ của Hà Nội, của Việt Nam bây giờ thì xin lỗi VỨT, VỨT HẾT.
P/s: Hình ảnh của các ca sĩ, các nhóm nhạc, các ban nhạc của Sài Gòn và ít hình ảnh của cố ca sĩ Đặng Lệ Quân đến Sài Gòn biểu diễn trước năm 1975. 
- Hình 9 và 10 là cố ca sĩ Đặng Lệ Quân (áo đen sát cánh và quần dài màu kem bên góc trái của hai tấm hình) đang đứng chung với những người hâm mộ và khán giả của Sài Gòn.













Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 22


– 22-

Ông Chín tự nãy giờ nằm im, có lẽ ông không hài lòng về sự bịa đặt của chúng tôi để tâng ông lên. Đoán chừng như vậy, tôi hỏi:

– Ông Chín ơi, thức ngủ?

Ông Chín không đáp.

Một chốc, tôi nhắc lại với Thu cái chết của anh binh sĩ bạc phận và tấm mộ bia. Trên đời biết ai là bạc phước nhất? Vì dụ nhu anh binh sĩ nọ, anh ta chết tức tối đau đớn thực đấy nhưng ít ra anh ta cũng còn được chôn cất và còn có một bia, ấm áp nấm mộ.

Thu nói:

– Eo ôi! So với bộ đội thì mình sướng hơn nhiều! Em thấy nhiều anh khiêng pháo oằn cả xương sống, cong queo cả đôi chân mà leo dốc đều đều. Có những cặp chân còn bằng những cái cọc màn không hơn không kém!

– Hở hở? Ai nói cái gì mà cọc màn? – Từ tầng trên có tiếng gầm lên. Tôi nghe chính là tiếng của ông Chín.

Tôi nghe vạt tre nghiến ken két thì đoán chắc ông Chín trở mình hay đã ngồi dậy. Ông Chín nói vọng xuống bọn tôi:

– Phải cô văn công nói chân bộ đội là cái cọc màn đó không?

Thu đáp:

– Dạ không, cháu nói thấy chân bộ đội bằng cái cọc màn mà phải khiêng pháo thì cháu thương tâm quá.

– Khô….ông! Tôi nghe rõ ràng là những cái cóc màn biết đi mà! Cha chả trời đất! Bộ đội ta chân đồng, chân sắt, đạp lùi vạn dậm gai chông mà cô bảo đó là những cái cọc màn biết đi thì còn trời đất gì nữa hử?

Ông Chín nói tiếp giọng gay gắt hẳn lên:

– Tôi hỏi lập trường cô để ở đâu chứ?

– Dạ cháu thấy vậy thì cháu nghĩ vậy chớ sao mà phải động tới lập trường ạ! Chẳng qua là cháu nói chơi …

Ông Chín quát:

– Nói như vậy mà là nói chơi à? Tôi cho cô hay đây là vấn đề lập trường rõ chưa? Người có lập trường vững chắc không nói như cô. Cô ăn nói như vậy là không còn đủ tư cách của cán bộ cách mạng nữa. Như vậy là quá hồ đồ cô hiểu chưa?

Thu không chịu thua, tôi ngồi bật dậy trên võng.

– Cháu xin lỗi cụ…

Thôi chết rồi! Kẻ vui miệng, người hay bắt bẻ!

Thực tình lúc đầu tôi cũng tưởng là ông Chín nói chơi cho vui, chẳng ngờ ông nói thật. Ông Chín đề cập tới lập trường một cách nghiêm chỉnh.

Thu giận quá, nói không ra tiếng:

– Cháu xin lỗi ông Chín, cháu nói vậy có can phạm gì đến lập trường đâu mà ông Chín nói cháu những tiếng quá đáng.

Ông Chín cũng giận quá nói khàn cả tiếng:

– Cô nhìn bộ đội đang đi chiến đấu đổ máu cho quê hương mà cô bảo là những cây cọc màn biết đi có phải cô láo xược không?

– Ơ hay! Có chi đâu mà láo với xược? Chân bộ đội quá gầy guộc thì cháu bảo nom như những cây cọc màn chứ có gì mà cụ phải gắt ầm lên như thế? Cháu không đồng ý.

– Này! – Ông Chín chỉ trỏ xuống sàn – Này cô kia, nếu có cơ quan cô ở gần đây thì tôi sẽ báo cáo để cô lãnh một hình thức kỹ luật. Tại sao cô khinh rẻ quân đội cách mạng như thế? Cô cũng là văn công văn kiết sao cô lại có một cái nhìn tệ hại như thế kia?

Tôi bảo nhỏ Thu:

– Thôi đi em, đừng nói nữa. Ông Chín là người khó tính nên ổng hay nói này nói nọ vậy thôi, rồi ổng quên hết!

Nhưng tôi vừa dứt tiếng thì ông Chín đã gầm lên:

– Tôi không phải là người khó tính đâu nhé! Tôi chỉ nói những điều đúng đắn thôi, các đồng chí chớ nên hiểu lầm.

Ông Chín vẫn tiếp tục giải thích:

– Đâu phải là chuyện nói chơi, ở đây, chúng ta cần lập trường. Lập trường không thể thiếu được, lập trường thay cho cơm ăn thay cho nước uống, thay cho cả máu chúng ta trên đường này. Vậy mà đồng chí mang nó ra đây nói chơi à? – Ông Chín vỗ ngực phạch phạch – Tôi cân nặng 75 kí lô nhưng tôi kém hơn những cái cọc màn biết đi ấy vì tôi thuộc thành phần địa chủ, đồng chí hiểu chưa?

Cách mạng cần những người gầy ốm chân như cọc màn đó, chứ đâu cần những người béo tốt như tôi, như đồng chí!

Bây giờ thì Thu không chịu đựng nữa. Thu nói hơi to:

– Cháu biết ông Chín là người đúng đắn….

Ông Chín nhảy cỡn lên:

– A hay! Đồng chí định chửi tôi có phải không? Này! này tôi bảo cho mà biết đồng chí chỉ đáng con tôi.

– Dạ cháu đáng cháu nội ông cũng được!

– A! Đồng chí định rủa tôi chết sớm đó hả?

Câu chuyện lằng nhằng như thế đó, cắt đầu này thì nó lại mọc ra nơi khác.

Tôi để cho một lão già gàn và một nữ sinh bất khuất cãi nhau chơi. Ai cũng có lý lẽ vững vàng hết cả. Ông già cứ ôm cái lập trường đầy rong rêu và bón bằng sách vở cũ rích như cái bụi tre ở nông thôn được vun bồi bằng những mớ miểng sành, miểng chén, những ông táo ông lò hết xài; còn cô nữ văn công viện ra những tin tức mới về tình hình Cộng Sản quốc tế, từ những "cây cọc màn biết đi" kéo dài đến chủ nghĩa xét lại.

Tội nghiệp nãy giờ anh giao liên nằm im thin thít không nói tiếng nào. Có lẽ anh ta chán ngán vì những chuyện thế này. Việc hay ho nhất đối với anh ta là làm sao xoi đường cho thủng để cho dòng người kia khỏi bị ứ đọng lại, nếu không nó sẽ réo ầm lên mà đòi gạo đòi muối, to hơn cơn suối giận dữ ngày nước lũ.

Anh giao liên đã ngủ một giấc dài, thức dậy lục đục nấu trà uống. Ông Chín cũng ngồi dậy uống với anh ta.

Gió rét căm căm. Sau một ngày nóng bức, hơi rừng núi xông lên, vây riết những sinh vật đang ngọ nguậy trong sự bất lực thèm khát và rụi tàn. Ông Chín còn trà Chính Xuân hẳn hoi. Ông cất kỹ trong ba-lô không dám uống, bây giờ đem ra thì nó đã mất hết mùi và lên mốc.

Tôi nghe có trà thì cũng mon men lên góp mặt vào buổi trà đàm.

Anh giao liên này rất trẻ. Anh ta là người Nam Bộ. Tôi nhận ra điều đó là vì tôi nghe trong câu chuyện anh ta nói đến một thứ rau mà chắc chắn ở Miền Trung và Miền Tây Nam Bộ mới có: đó là rau dừa.

Rau dừa là thứ rau mọc ở ruộng nước sâu và vào mùa mưa. Người ta hái cái ngọn non của nó ăn với mắm kho và đặc biết nó có vú, vú nó trắng phau mởn mởn như một lại bông đá và mong manh như bọt xà-phòng.

Cái vú rau dừa trắng nổi phêu phêu trên mặt nước gợi cho người ta sự ngon lành của bữa cơm đạm bạc ở đồng quê, đậm đà tình quê hương.

Cho nên khi nghe đến rau dừa, thì lòng tôi thực sự rung động. Ở giữa núi rừng làm sao mà tìm được một thứ gì quen thuộc của xứ mình. Cho nên tôi hỏi ngay anh giao liên:

– Anh ở tỉnh nào vậy?

– Em tên là Mai, quê ở Bạc Liêu.

– Trời đất, ở xa vậy!

– Xa thì xa chứ biêt sao bây giờ?

– Sao ra đây chi đây?

– Thì đi làm cách mạng mà, ở đâu đi không tới?

– Nhưng tôi muốn hỏi anh vì lý do nào anh trôi dạt ra tới tận ngoài này?

– Thì tình nguyện thôi.

– Lúc này ở trong mình dễ thở không?

– Dễ thở là mấy năm trước kia, bây giờ thì khó thở rồi. Trốn trực thăng chạy mệt đứt hơi.

– Ủa, vậy sao tôi nghe nói chiến thuật "Trực Thăng Vận" bị ta bẻ gãy tan tành hết rồi mà?

Cậu giao liên phì cười:

– Gãy ông nội tôi chớ gãy! Vô trỏng rồi biết! Có gãy giò thì có!

Rồi anh ta giải thích cái lý do ly hương của anh ta:

– Tôi đang công tác ở tỉnh. Ở đó có chuyện gì đâu mà làm. Ở không mãi tôi cũng chán cho nên tôi đi giăng câu kiếm cá ăn. Cá ở Cà Mau thì anh phải biết. Câu bao nhiêu cũng có. Ăn cá mãi phát chán rồi nấu canh chua chỉ húp nước canh thôi.

Tưởng xứ nào cũng sướng như xứ mình cho nên nghe lời kêu gọi của cấp trên em từ giã gia đình cắp nón ra đi với bộ đồ dính da.

Núi non ở Nam Bộ không có. Cho nên vừa trông thấy núi là chúng em chạy ra leo núi chơi cho thoả thích. Chạy sướng thật, chân mình cứ leo cứ bám trên đá mà bước lên, tuy có mệt nhưng vẫn cứ thích.

Cậu giao liên tiếp:

– Chẳng ngờ rằng núi ở xa trông thì đẹp nhưng muốn nhìn cảnh đẹp phải no bụng. Leo chơi vài lần thì thích thật, nhưng chỉ leo vài ngày rồi thì chán. Nhiều đứa ngồi khóc cha khóc mẹ suốt ngày không chịu đi công tác nữa. Nhiều đứa phăng theo đường mòn mò ra đường cái lên xe hơi trở về xứ. Riêng em…ở đây mãi rồi, đi đâu cũng khó coi. Bụng làm dạ chịu chớ trách ai!

Mai thở dài:

– Bây giờ núi trở thành kẻ thù của em rồi. Em không ghét gì bằng ghét núi!

(xem tiếp tại đây http://wp.me/pB3ge-nG )

Đánh máy: Lê Thy

Sunday, July 30, 2023

“THẬP KỶ" CỦA VIỆT CỘNG.


"Thập kỷ" là một chữ vừa ngu vừa ngốc nhứt; đã được vẹm hủi vô học chế tạo ra. Nhưng cái tội nghiệp là nhiều người Việt nửa người nửa ngợm vô học lại nghĩ là một chữ nên dùng để chứng tỏ ta đây học cao hiểu rộng; từ rừng Trường Sơn mới bỏ ra…
Chữ "từ" cũng là chữ của vẹm hủi tuốt. Người Việt gọi là "chữ" vừa giản dị, vừa trong sáng. Không kệch cỡm "hán nô" như chu"từ"…
1) Thập (什) = 10
2) Niên (年) = năm, tuổi
3) Kỷ (紀) = khoảng thời gian 12 năm (nhất kỷ = 一紀), một thời kỳ, một thời đại (kỷ nguyên = 紀元); ghi nhớ (kỷ niệm = 紀念); phép tắc (kỷ luật = 紀律).
* Ghi chú: hầu hết tất cả các tự điển Hán việt đã có từ trước tới nay đều viết và giải nghĩa rằng: "1 KỶ BẰNG 12 NĂM".
II. NHƯ VẬY TA THẤY:
1) Nhất niên (一年) = 1 năm
2) Thập niên (什年) = 10 năm
3) Nhất kỷ (一紀) = 12 năm
4) Thập kỷ (什紀) = 120 năm
- Ta cũng nhận thấy rằng trên các loại "mạng nhện" đủ kiểu, hay trong những làn "sóng nước" bao la trên Internet người ta cứ "vô tư như người Hà Lội" mà oang oang dùng thoải mái THẬP KỶ (什紀 = 120 năm) để thay cho từ ngữ THẬP NIÊN (什年 = 10 năm), rồi cùng bắt chước đua nhau xài một cách hết sức tận cùng...vô ý thức. Tại sao rứa?
IV. VỀ KỶ (紀) TA CÒN CÓ:
1) Thế kỷ (世紀) = 100 năm
2) Thiên niên kỷ (仟年紀) = 1000 năm
V. CHO NÊN CÓ NGƯỜI LẬP LUẬN RẰNG:
1) 1 thế kỷ = 100 năm 
2) Thiên niên kỷ = 1000 năm
3) Nhất kỷ phải = 1 năm
4) Thập kỷ = 10 năm
- Đúng hay sai? 
- Đa số gốc "khỉ Trường Sơn" hay dùng kiểu THẬP KỶ "120 năm" này thay cho THẬP NIÊN "10 năm". 
- Xấu hổ khi phải dùng chữ "thập niên", nghe không được văn chương tao nhã hay là chúng không có vẻ "nổi cộm" khi dùng "thập kỷ" để ra dáng ta như thuộc hàng...Háng Việt cao xa?
- Nếu cho 1 KỶ là 1 năm, thì sao người xưa không dùng "bách kỷ" để chỉ cho con số 100 năm mà lại dùng từ ngữ là THẾ KỶ? Trong khi đã có "bách niên" để chỉ ra con số 100 năm rồi?
- Và tại sao họ không chỉ dùng "thiên kỷ" hay "thiên niên" để chỉ cho con số 1000 năm, mà lại ráp lại xài cả hai là "thiên niên kỷ"?
- Bởi vì như phần giải thích từ các tự điển Hán Việt nêu trên, KỶ không chỉ cho biết con số về thời gian, mà còn chỉ về một thời kỳ, một thời đại nằm trong khoảng niên lịch của 100 năm hay 1000 năm đó nữa.
- Ta nghe thấy, nhận biết rất rõ ràng và chắc chắn. Thập niên = 10 năm, không cần phải tranh cãi đôi co với nhau hay xảy ra bất cứ sự phản đối từ người hay từ phía nào cả, đúng không?
- Lại không dùng? Cứ phải "thập kỷ" mới...chịu? "Dzậy" là sao? Ha ha ha… ai hiểu được...khỉ?

Saturday, July 29, 2023

Xuân Vũ - Đường Đi Không Đến – 21


https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/12/d%c6%b0%e1%bb%9dng-di-khong-d%e1%ba%bfn-21/

– 21-

Bộ đội ở ngoài rừng nấu nướng lửa đỏ rực khắp nơi. Anh giao liên đã trở về. Tự nãy giờ anh đi la ó vể việc tắt lửa mỗi khi có máy bay đến. Anh vừa leo lên thang vừa càu nhàu:

– Vô kỷ luật nhất là bộ đội! Ông nội ai bây giờ la hét cũng không nỗi. Máy bay tới bên đít mà thổi còi muốn lạc giọng cũng không chịu tắt lửa cho! Mặc kệ mẹ, tao không thèm la nữa, thí mạng cùi đó. Thằng nào muốn làm gì thì làm!

Ông Chín không tán thành cái thái độ của anh giao liên. Ông ta chúa sợ máy bay, làm sao ông nằm im được với cái cảnh bếp núc lửa khói loạn xạ như vậy?

Ông leo xuống thang và quờ quạng đi ra nhóm bộ đội gần nhất ở ven rừng. Giao liên không cho họ vô tới đây, nhưng họ không nghe, cứ chỗ nào thuận tiện thì họ tới. Thấy ông Chín đi dẹp cái trận "hoả công", anh giao liên phì cười:

– Ông ngoại mà bảo họ nghe, về đây con lạy ông tới sói trán ăn thua!

– Tao không cần lạy!

– Vậy con cõng ông ngoại đi suốt một trạm.

– À, nhớ đấy nghe! Nhớ nghe các đồng chí!

Rồi ông Chín xăm xăm đi thẳng tới nhóm bộ đội đang chụm lửa rần rần ngoài rừng.

Ông Chín dừng lại và ôn tồn cất giọng:

– Tôi xin có ý kiến một chút các đồng chí! Các đồng chí ơi!…tôi xin có ý kiến một chút!

Có người ngước lên nhìn. Có lẽ anh này ngạc nhiên vì ở giữa rừng Trường Sơn lại có một lão già đầu râu tóc bạc như vậy.

Ông Chín nói tiếp:

– Tôi thấy các đồng chí chụm lửa to quá, sợ máy bay nó trông thấy chăng? Yêu cầu các đồng chí chụm ít ít một chút để khi có máy bay ở xa thì tắt cho nhanh, cho kịp. Nó xài toàn phản lực, hễ mình nghe tiếng nó thì nó đã bay qua rồi.

– Không sao đâu cụ, chúng tôi có trực ban hễ có tiếng động cơ là a-lê-hấp chúng tôi ngậm nước phun cái phèo, thế là tắt rụi hết trơn.

Ông Chín vẫn ôn tồn và kiên nhẫn giải thích.

Một giọng đáp lại:

– Thôi bỏ đi bố già, để chúng con nấu ăn cho chóng rồi còn nghỉ ngơi. Mệt bỏ mẹ rồi đây, lại còn huấn từ. Cụ có rổi thì về nằm nghỉ đi.

– Ơ hay! Những người khôn ngoan là những người chịu nghe lẽ phải. Tôi nói thế các đồng chí không nghe ra thì còn chờ đợi cái gì?

Một người nói:

– Tôi đói tôi cần ăn cơm chớ không cần gì hết! Ai quấy rầy tôi, người đó không biết lẽ phải.

Một người khác lại tiếp:

– Đói thì ăn cơm chớ kỷ luật không ăn được. Cụ muốn gì thì về nói với đơn vị cụ! Chúng tôi có cấp chỉ huy của chúng tôi.

Ông Chín vẫn bình tĩnh:

– Vậy thì tôi yêu cầu gặp cấp chỉ huy của các đồng chí để tôi bảo cấp chỉ huy của các đồng chí ra lệnh cho các đồng chí dập lửa.

– Chính cấp chỉ huy của chúng tôi cho phép chúng tôi nấu ăn đấy. Cụ xem, toàn đơn vị nổi lửa mà!

Ông Chín lặng thinh, ông bực tức lắm. Ông quay về nhà, nói với anh giao liên:

– Đồng chí ra mà bảo họ chứ tôi chịu thôi. Bộ đội gì mà kỳ cục quá, tôi chưa từng thấy bộ đội vô kỷ luật như thế.

Anh giao liên bình tĩnh đáp:

– Như thế là thường đấy cụ ạ! Vô kỷ luật như thế có thấm thía gì. Họ đói là họ bất chấp cả điều lệnh kỷ luật. Khoai sắn của đồng bào họ gặp là cứ đào lấy củ ăn, có khi bị đồng bào bắn tên tẩm thuốc độc chết miệng còn ngậm củ sắn; có khi đói quá họ cướp cả kho gạo; có khi đi mệt quá họ đánh cả giao liên. Ở đâu chứ trên đường này tôi ngán bộ đội lắm. Thấy bộ đội là tôi xanh mặt rồi. Họ ăn cắp ăn trộm, họ không kém thổ phỉ chút nào, chỉ còn cái hiếp dâm nữa thôi! Kỷ luật quái gì, khi họ no nê lành lặn kia mới nói kỷ luật chớ đói meo thế kia thì còn tinh thần nào mà giữ kỷ luật hở cụ? Cháu khuyên cụ nên bỏ đi, chớ có lôi thôi, họ gây chuyện đó.

Quả thật, anh giao liên vừa nói dứt tiếng thì có tiếng chân nặng chịt dưới sân và tiếp theo là tiếng quát:

– Thằng nào ngon muốn gặp tao đâu, xuống đây!

Một giọng khác dịu dàng hơn:

– Xin lỗi các đồng chí, nghe lính tôi nói lại lúc nãy có mấy người đến tìm chúng tôi để dạy chúng tôi việc gì, vậy chúng tôi mong gặp các người ấy ngay bây giờ.

Anh giao liên lẹ chân nhảy phốc cái rột ra cửa sau và lủi vô rừng mất tăm. Chỉ còn lại ông Chín với tôi. Tôi cũng hơi ngán, nhưng ông Chín lên tiếng ngay:

– Tôi đây, dạ tôi đây, các đồng chí ạ. Tôi muốn gặp các đồng chí không phải dạy việc gì đâu mà để thảo luận với các đồng chí một việc thôi. Nếu các đồng chí vui lòng thì xin mời lên đây, ta thảo luận với nhau.

Hai người bộ đội mang súng ngắn bước lên cầu thang, đi thật mạnh trên những nấc thang gỗ làm cho cả cái nhà sàn đòng đưa như võng.

Thu kêu lên eo éo:

– Coi chừng sập nhà chết chúng tôi ở dưới này!

Một người đứng ở giữa cầu thang và cười lên hô hố nghe rất đắc chí:

– Ở đây mà cũng có "chất nhép" nữa he! – Rồi anh không không ngần ngại bấm đèn pin ngay võng của Thu.

Tôi nhỉn qua kẽ sàn nhà. Trong ánh đèn pin tôi trông thấy Thu đã mở mắt và nhanh tay kéo ống quần xuống. Có lẽ Thu đang nằm bóp cái chân đau. Chao ôi! Hai cái đùi của cô diễn viên múa ba-lê thỉnh thoảng lại phơi bày trước mắt tôi mà lần nào cũng hấp dẫn.

Có lẽ anh chàng bộ đội cũng ngây ngất vì cái màu ngà ngọc và cái hình thể khêu gợi của cặp chân ấy. Cho nên anh chàng líu lưỡi, không nói thêm được lời nào nữa.

Khi Thu đã giấu kín đôi chân thì anh chàng kia mới thong thả đi lên. Có lẽ anh ta còn tiếc rẻ cái thực tế quá hấp dẫn đã biến đi quá nhanh, nên cứ rọi đèn xuống sàn nhà.

– Hề ..hề.. chào cụ!

– Chào cụ ạ! Hồi chiều tôi gặp cụ đi ngang qua đơn vị đây mà!

Hai chàng chỉ huy đơn vị bỗng nhiên đổi giận làm vui. Thiệt là may mắn! Ban đầu nghe giọng gay gắt và mát mẻ của họ tôi tưởng nguy to rồi. Thảo nào anh giao liên chẳng khôn hồn biến mất vô rừng như một chú chuột nhắt.

Bây giờ họ vui vẻ đối xử với ông già như vậy là vì sao? Có lẽ vì lão già này có tuổi chăng?

Ông Chín nói ngay:

– Nè! Tôi nói cho các đồng chí biết, nếu địa điểm này bị lộ thì các đồng chí phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Tôi sẽ viết thơ lên báo cáo với Trung Ương Đảng chớ chẳng phải chơi đâu!

Tôi thấy thời cơ thuận lợi, nên vọt miệng nói tiếp:

– Thật đấy các đồng chí ạ. Ông Chín đây là đồng chí cũ 40 đó, từng hoạt động chung với anh Hai Hùng ở Hốc Môn Bà Điểm. Anh Hai Hùng và đồng chí Phạm Văn Đồng mời ông đến nhà ăn cơm riêng luôn đấy.

Việt ở dưới sàn nhà cũng chêm vào:

– Ông Chín về Nam là do quyết định của Trung Ương. Chính đồng chí Lê Đức Thọ thông qua danh sách đấy và ông Nguyễn Văn Vịnh trưởng ban Thống Nhất tiếp kiến ông Chín trước khi ông Chín lên đường về Nam.

Những loạt tôi và Việt vừa bắn ra là toàn những điều phịa để tôn ông Chín lên, nhưng ông Chín không nhịn được, xua tay lia lịa:

– Đừng có nói đùa, không phải chuyện như vậy đâu, tôi không đồng ý!

Ông Chín càng nghiêm nghị từ chối sự đề cao của tôi và Việt bao nhiêu thì các vị chỉ huy càng không tin lời ông ta bấy nhiêu.

– Đây kìa – tôi trỏ Việt ở dưới sàn nhà – Ông bạn của tôi đã từng tham dự trận Điện Biên Phủ. Cây súng ngắn của anh ta mang là cây súng của Cụ Hồ tặng riêng cho anh ấy, nhưng mà anh ta không có nói cho ai biết. Ở giữa rừng này ai mà biết cái giá trị của ai.

Hai vị chỉ huy nghe tôi giới thiệu mấy nét về hai nhân vật thì nhảy nhổm lên.

Một anh nói ngay xuống sàn nhà:

– Đâu, cây súng lục của Cụ Hồ tặng đâu cho xem chút coi. Ái cha chả! Của quý!

Việt nằm im. Tôi thấy có cơ hội đưa Việt lên mây xanh. Tôi gọi Việt:

– Lên đây chơi, gặp bồ lính cả mà!

– Lên đây xem có quen không?

Viên chỉ huy nói tiếp:

– Tôi cũng có dự Điện Biên đây. Lên nhìn bạn chơi!

Việt rất lẻo mép cho nên mặc dù không biết Điện Biên là cái gì, Việt cũng có hằng trăm chuyện để chứng minh răng mình là chiến sĩ Điện Biên. Việt lò dò leo lên mắt nhắm mắt mở:

– Đâu? Ai là chiến sĩ Điện Biên đâu?

– Tôi, tôi đây!

– Thế à? – Việt nhìn một trong hai người chỉ huy.

Tôi nói tiếp:

– Anh Việt đây là đại uý từ 1954 đấy!

Anh chỉ huy tự xưng là chiến sĩ Điện Biên tỏ vẻ ngạc nhiên và nói:

– Hồi năm 1954 làm gì có đại uý hở đại ca? 1958 mới phong quân hàm mà!

Việt vọt miệng đáp ngay một cách vui vẻ:

– Tiểu đoàn trưởng tạm gọi là đại úy, chớ gì mà thắc mắc các bạn!

Việt tự xưng là tiểu đoàn trưởng từ năm 1954 thì các vị chỉ huy giật mình. Họ xuống nước ngay.

Một người nói rất lễ độ, theo quân phong:

– Báo cáo thủ trưởng, đơn vị bị kẹt đường.

– Tôi biết rồi! – Việt nói một cách thản nhiên.

– Dạ, báo cáo thủ trưởng hôm qua anh em hành quân suốt ngày mệt quá cho nên đói lã, anh em nấu cơm cũng có phần bừa bải.

– Tôi biết rồi!

– Dạ sau khi ông Chín bảo anh em thì chúng tôi cho lệnh dập lửa.

Việt cười với giọng kẻ cả dễ dãi với cấp dưới:

– Được rồi, không có vấn đề gì lắm đâu!

Tôi quay mặt vào vách. Tôi chú ý thấy chỉ chập sau thì lửa tắt hết. Té ra Việt chỉ nói chơi vậy mà kết quả. Tôi sợ bỏ lỡ cơ hội nên tôi chêm thêm:

– Đồng chí ấy do Bộ Tổng biệt phái…

– Dạ!

Và hai vị chỉ huy yên chí rằng Việt là cán bộ biệt phái của Bộ Tổng trên đường dây này.

Tôi bảo tiếp hai vị chỉ huy:

– Còn cây súng lục của Cụ Hồ tặng đẹp lắm, nhưng để sáng hãy xem, bây giò tối om xem không rõ.

Anh chỉ huy vừa gật đầu, vừa dạ liền mấy tiếng.

Chập sau hai vị từ giã chúng tôi.. Hai vị lại bấm đèn và quơ xuống dưới sàn nhà một lượt. Chắc hai vị muốn tìm lại đường nét và làn da trắng của cặp đùi đã từng làm cho hai vị sửng sốt mê man lúc nãy.

Tôi nói đưa theo:

– Mai mời hai anh đến chơi, cô Thu là diễn viên ca múa Trung Ương đấy, đi diễn nước ngoài như đi chợ vậy. Mai nếu mấy anh yêu cầu cô Thu sẽ múa hát đủ các bài bản cho đơn vị nghe.

– Ồ, thế tốt quá. Mai chúng tôi sẽ đem biết các đồng chí thịt rừng.

– Thế càng tốt hơn nữa.

Tôi cười một cách đắc ý về cái trò mà tôi vừa ném ra có kết quả bất ngờ.

Hai vị vừa khuất thì cậu giao liên cũng mò vào, áo quần rách tả tơi. Anh ta thở hổn hển và nói:

– Tôi chạy tuôn cả gai góc.

– Chạy đi đâu vậy?

– Sợ các chả đập và đốt nhà.

– Làm gì?

– Tôi bị một lần rồi.. Họ hỏi không có gạo.. Tôi không phải là thủ kho mà lại bị ăn thoi… Tôi thất kinh rồi.

Tôi cười và càng thương hại anh giao liên.

Tôi nói:

– Họ chỉ là Ban Chỉ Huy đại đội thôi, trung úy là thượng số. Còn chúng tôi có ông đại úy mà đại úy hồi 54 kia đấy, sợ gì!

Anh giao liên xuýt xoa:

– Phải dè vậy em đâu có chạy làm gì! Trời đất ơi, hú hồn tôi tưởng mấy ổng phá chòi rồi chứ!

Thu nãy giờ nằm im. Khi nghe tiếng tôi từ trên gác đi xuống, Thu mới nói:

– Đạo diễn hạng nhất!

– Thôi mà!

– Anh tài thật đấy!

Tôi nói để chữa ngượng:

– Tài cái gì! Gặp biến cố thì phải bày đặt ra sáng kiến vậy thôi. hì hì…dù sao mai Thu cũng có khán giả ngưỡng mộ tới hoan hô rồi!

Tôi lên võng nằm. Bao nhiêu chuyện vừa giả vừa thật xảy ra cho một buổi chiều, rồi những chuyện ngày mai mà tôi dự định sẽ xảy tới: kẹt đường hết gạo v.v…

Thu bỗng gọi tôi:

– Anh à!

– Gì em?

– Em không đồng ý mấy anh đóng kịch như thế nữa.

– Tại sao? Cho nó vui mà, kẻo tẻ ngắt, sốt rét nó được dịp làm lung đấy!

– Em thấy thế nào ấy! Chính ông Chín cũng phản đối mà! Ai làm như thế, được cái gì?

– Được lắm chớ. Một là bộ đội tắt hết lửa, em thấy không, hai là mai có thịt rừng ăn, ba là anh giao liên không phải lủi vô rừng rách áo toạt da, bốn là… những việc lợi về sau ai biết?

Cái làn da và đường nét đôi chân của Thu lúc nãy bất thần hiện ra dưới ánh đèn pin xanh ngắt trở lại trong trí tôi như một ảo ảnh. Đôi chân đó, vẫn cứ đôi chân lúc hiện ra trước mắt tôi trên bờ suối, trong một cơn mưa hay trong giây phút bất ngờ nào đó, là một niềm an ủi, một sự khuyến khích đối với tôi. Tôi ngắm nó, tôi âm thầm khao khát nó, tôi yêu nó. Chắc Thu cũng biết như vậy nên Thu càng giữ kẽ với tôi trong từng cử chỉ, từng lời nói, như hai nhà ngoại giao đấu khẩu với nhau, không hề để sơ hở. Cho nên đến lúc này tôi vẫn chưa nói được tiếng gì.

Tôi nhớ có lần Thu ở dưới suối lên, khi đi qua một quãng ướt thì gặp tôi, Thu đưa mũi chân bước mím trên những hòn đá để tránh bị ướt, một tay cầm mớ quần áo đã giặt, một tay xăn quần lên quá gối.

Thu không trông thấy tôi cho nên cứ chậm chạp một cách quí phái tìm những hòn đá trọc để bước, vô tình Thu bị trợt chân, nước tóe lên ướt cả quần, Thu phải vén lên cả nửa đùi để vắt tạm cho ráo nước.

Khi ngẩng lên Thu bất chợt thấy tôi cách đó không xa. Tôi vẫn đứng tần ngần trước mặt Thu, Thứ như vừa đi vừa ngắm nghía vẻ đẹp của đôi chân mình mà hình như lâu nay không có dịp nào rảnh rang nhìn lại chúng.

Gặp tôi bất ngờ Thu hơi ngượng. Cố nhiên tôi cũng không giữ được sự tự nhiên. Rồi hai đứa cùng đi về. Dọc đường Thu cứ để nguyên đôi chân trần quá đầu gối và chốc chốc lại rũ nước trên quần mà kêu lên: "Tai ác cho con suối!"

Còn tôi thì sung sướng một cách âm thầm, thỉnh thoảng tôi liếc sang, nhưng liếc mãi cũng không tiện cho nên, để cho sự liếc của tôi được dễ dàng và công khai, thỉnh thoảng tôi lại kêu lên:"Coi chừng kẻo trợt chân bây giờ! Hòn đá đó trơn lắm!" Tôi chỉ hòn đá mà đôi mắt tôi thì không rời chân nàng.

Làn da trắng vừa xanh mét vừa ướt nước. Những hạt nước còn đeo dính rải rác trên chân nàng như luyến tiếc những giây phút sinh thú của chúng nên chúng cố bám vào đấy như những hạt ngọc để trang điểm cho những vật thể mà sắc đẹp vốn đã thừa. Thu ơi! Nếu tôi được là một hạt nước dính ở chân em! Cái lần đó tôi và Thu đi mãi như thế bên nhau trên quãng đường suối, lặng lẽ với những cử chỉ lập lại mãi của tôi, nhưng Thu và tôi cả hai đều không chán. Tôi thì rất bằng lòng vì cho rằng mình lừa được người con gái để thỏa mãn những thích thú của mình. Còn Thu thì hình như Thu thừa hiểu ý định của tôi nhưng Thu chẳng những không phản đối mà cứ để cho tôi ve vuốt đôi chân nàng với cặp mắt thèm thuồng của tôi.

Bất thần tôi nói:

– Thu ạ, anh yêu đôi chân em quá!

Thu dừng lại và lườm tôi. Tôi nói và cười vui vẻ:

– Uớc gì anh được làm một hạt bụi dưới chân em.

– Em sẽ nghiến nát anh ra.

– Không, anh sẽ bay tung lên và đáp lên tóc lên má em.

Thu đỏ rừ hai má. Thu biết tôi gài bẫy. Nàng mắc cở nhưng nàng rất thích.

(xem tiếp tại đây https://thaithuyvy.wordpress.com/2009/11/14/dường-di-khong-dến-22/ )

Đánh máy: Lê Thy